Công bố mười
chín loài nhện mới cho khoa học phát hiện được ở phía Bắc Việt
Nam
Đây là kết quả
hợp tác giữa TS. Phạm Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các nhà khoa học Trung
Quốc.
Mười chín loài
nhện mới này thuộc họ Pholcidae, được mô tả dựa trên các mẫu
vật thu thập ở các tỉnh Bắc Cạn, Phú
Thọ, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Quảng
Ninh, Ninh Bình và Quảng Bình. Chúng
không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao, nhiều loài có đời
sống chuyên biệt trong môi trường hang động, đặc hữu của Việt Nam. Bên cạnh đó,
loài nhện còn được biết đến như là những thiên địch quan trọng góp phần phòng
chống tổng hợp sâu hại bảo vệ cây trồng. Mô tả của 19 loài mới được công bố trên
Tạp chí Quốc tế chuyên ngành Zootaxa, 3909(1): 82pp (monograph, tháng 1 năm
2015).
1.
Loài Nhện Pholcus bifidus
Loài Pholcus
bifidus được phát hiện ở trong hang Tượng, vườn quốc gia Phong
Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong
môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với tất
cả các loài khác thuộc giống Pholcus bởi sự có
mặt của các mấu lồi trên chân kìm của con đực, các gai sinh dục dài và nhọn, hơi
cong, hóa kitin cứng; cơ quan sinh dục cái nhô hẳn ra ngoài.
2.
Loài Nhện Pholcus caecus
Loài Pholcus
caecus được phát hiện ở trong động Thiên Đường, Vườn quốc gia
Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt
trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài nhện này phân
biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi
kích thước cơ thể rất nhỏ; nhện không có mắt; xuất hiện đôi sừng cong và sắc
nhọn ở mặt trên của giáp đầu ngực.
3.
Loài Nhện Pholcus hochiminhi
Loài Pholcus
hochiminhi được phát hiện ở trong động Tiên, Vịnh Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang
động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự
loài Pholcus aduncus Yao & Li, 2012, nhưng
khác loài Pholcus aduncus ở đặc điểm phần cuối
của xúc biện con đực kéo dài, xuất hiện mấu lồi trên xúc biện, hành cong mạnh,
mắt chia 2 vùng và nổi hẳn lên tạo hai khối.
4.
Loài Nhện Pholcus phami
Loài Pholcus
phami được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba Bể,
tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang
động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với các loài khác của
giống Pholcus bởi chân kìm con đực có hai đôi
mấu lồi lớn ở mép; trên hành có nhiều gai hình con dao; bộ phận sinh dục cái hóa
kitin với một mấu lồi hình chiếc gậy chạy dọc.
5.
Loài Nhện Pholcus zhaoi
Loài Pholcus
zhaoi được phát hiện ở trong hang Sơn Động, vườn quốc gia Cúc
Phương, tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi
trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này giống với
loài Pholcus undatus Yao & Li, 2012 nhưng
khác loài Pholcus undatus bởi sự có mặt của mấu
lồi lớn hình thang; hành có 2 rãnh sâu xẻ dọc.
6.
Loài Nhện Belisana babensis
Loài Belisana
babensis được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba
Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường
hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự như
loài Belisana strinatii Huber, 2005 nhưng khác
loài Belisana strinatii bởi có có đốt chuyển
trên xúc biện con đực và có gai cong lớn xuất hiện trên hành.
7.
Loài Nhện Belisana cheni
Loài Belisana
cheni được phát hiện ở trong hang Pắc Chấn, vườn quốc gia Ba
Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường
hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác
thuộc giống Belisanna do xuất hiện hai mấu lồi
màu đen kéo dài ở mặt dưới của chân kìm; xuất hiện 2 túi nằm 2 bên của bộ phận
sinh dục cái.
8.
Loài Nhện Belisana clavata
Loài Belisana
clavata được phát hiện ở núi Tây Côn Lĩnh, huyện Vị Xuyên,
tỉnh Hà Giang. Đây là loài sống trong rừng tự nhiên, ở độ cao 1816
mét so với mặt biển. Loài này khác biệt so với các loài khác thuộc
giống Belisanna do có các mấu lồi hình chùy hóa
kitin cứng trên chân kìm; và xuất hiện 1 gai lớn trên mấu lồi hình
chùy.
9.
Loài Nhện Belisana curva
Loài Belisana
curva được phát hiện ở vườn quốc gia Tam Đảo,
tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là loài sống ở bụi rậm, ở độ cao 440 mét so với
mặt biển. Loài này giống với loài Belissana
xiangensis Yao & Li, 2013 nhưng khác
loài Belissana xiangensis do xuất hiện một tấm
chắc lớn hóa kitin trên bề mặt của hành, và một đôi gai cong sắc nhọn trên đầu
giáp đầu ngực.
10.
Loài Nhện Belisana
decora
Loài Belisana
decora được phát hiện ở vườn quốc gia Cúc Phương,
tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống ở rừng thứ sinh, ở độ cao 284 mét
so với mặt biển. Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc
giống Belisanna bởi sự có mặt của những chiếc
gai cong trên xúc biện con đực và xuất hiện các u lồi hóa kitin cứng trên bộ
phận sinh dục cái.
11.
Loài Nhện Belisana halongensis
Loài Belisana
halongensis được phát hiện ở động Tiên, Vịnh Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường
hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác
của giống Belisanna bởi sự có mặt của mấu lồi
hình ngón tay trên hành của xúc biện; trên giáp đầu ngực mặt trên có 1 tấm hóa
kitin cứng hình ca vát, mặt dưới 1 tấm hình cái bát.
12.
Loài Nhện Belisana phungae
Loài Belisana
phungae phát hiện được ở động Nà Phòng, vườn quốc gia Ba Bể,
tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang
động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của
giống Belisanna bởi sự xuất hiện của các tấm la men lớn, dẹt, phẳng trên bề mặt
xúc biện con đực; và cửa ngoài của cơ quan sinh dục cái có cấu trúc dạng
túi
13.
Loài Nhện Belisana pisinna
Loài Belisana
pisinna phát hiện được ở động Tiên, Vịnh Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường
hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này có kích thước cơ thể rất nhỏ;
giáp đầu ngực tròn; có các tấm bên tạo hình tam giác trên bề mặt xúc biện; hành
không có gai.
14.
Loài Nhện Belisana triangula
Loài Belisana
triangula phát hiện được ở hang La, vườn quốc gia Xuân Sơn,
tỉnh Phú Thọ. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang
động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự
loài Belisanna phurua Huber, 2005 nhưng khác
loài Belisanna phurua bởi khoảng cách giữa các
mấu lồi trên xúc biện con đực lớn; hành có hình lưỡi dao; có hai vuốt lớn, cong,
mọc đối xứng trên hàm.
15.
Loài Nhện Belisana vietnamensis
Loài Belisana
vietnamensis phát hiện được ở vườn quốc gia Cúc Phương,
tỉnh Ninh Bình. Loài này phân bố ở rừng tự nhiên, ở độ cao 386 mét
so với mặt biển. Loài này có một cặp mấu lồi nhỏ trên chân kìm con đực, và một
đôi túi dẹt trên cửa ngoài của bộ phận sinh dục cái.
16.
Loài Nhện Belisana zhengi
Loài Belisana
zhengi phát hiện được ở vườn quốc gia Tam Đảo,
tỉnh Vĩnh Phúc. Loài này phân bố ở sinh cảnh bụi rậm, ở độ cao 440
mét so với mặt biển. Loài này không có các mấu lồi trên chân kìm, nhưng có các
mấu lồi dài màu đen thẫm xuất hiện trên hành của xúc biện con
đực.
17.
Loài Nhện Khorata dangi
Loài Khorata
dangi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể,
tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang
động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự loài Khorata
dongkou Yao & Li, 2010 nhưng khác
loài Khorata dongkou do hành phân ra 2 lớp; có
các vảy nhỏ trên chân kìm; có 2 gai hình lưỡi câu trên xúc biện con
đực.
18.
Loài Nhện Khorata huberi
Loài Khorata
huberi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể,
tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang
động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của
giống Khorata bởi sự có mặt của một cặp mấu lồi
hình củ ấu ở hàm trên con đực; có 4 mấu lồi ở mặt dưới của bụng con
cái.
19.
Loài Nhện Khorata protumida
Loài Khorata
protumida phát hiện được ở hang Bảy Tầng, vườn quốc gia Phong
Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là có đời sống chuyên biệt trong
môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này giống
loài Khorata khammouan Huber, 2005 nhưng khác
loài Khorata khammouan do có các tấm la mel tạo
hình vòm như tổ tò vò ở hàm dưới con đực; có 4 mấu lồi ở hàm trên; cửa ngoài bộ
phận sinh dục cái hóa kitin cứng, nổi rõ thành bờ.
Bài và ảnh
Phạm Đình Sắc (Photos by Pham Dinh Sac).
Theo http://www.vast.ac.vn/
Zootaxa 3909
(1): 001–082
Pholcid spiders
(Araneae: Pholcidae) from northern Vietnam, with descriptions of nineteen new
species
ZHIYUAN
YAO, DINH SAC PHAM, SHUQIANG LI
Abstract
Five genera and
26 species belonging to two
subfamilies Arteminae Simon, 1893 (one genus
and one species) and Pholcinae C.L. Koch, 1850 (four genera and 25 species) are
reported from northern Vietnam, including 19 new species of three genera:
Belisana babensis sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. cheni sp. nov. (male,
female; Bac Kan), B. clavata sp. nov. (male; Ha Giang), B. curva sp. nov. (male;
Vinh Phuc), B. decora sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. halongensis sp.
nov. (male; Quang Ninh), B. phungae sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. pisinna
sp. nov. (male; Quang Ninh), B. triangula sp. nov. (male; Phu Tho), B.
vietnamensis sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. zhengi sp. nov. (male; Vinh
Phuc), Khorata dangi sp. nov. (male; Bac Kan), K. huberi sp. nov. (male, female;
Bac Kan), K. protumida sp. nov. (male, female; Quang Binh), Pholcus bifidus sp.
nov. (male, female; Quang Binh), P. caecus sp. nov. (male, female; Quang Binh),
P. hochiminhi sp. nov. (male, female; Quang Ninh), P. phami sp. nov. (male,
female; Bac Kan), and P. zhaoi sp. nov. (male; Ninh Binh). One genus Khorata
Huber, 2005 and five species Belisana schwendingeri Huber, 2005, B. sepaku
Huber, 2005, Khorata digitataYao & Li, 2010, Leptopholcus podophthalmus
(Simon, 1893), and Pholcus bangfai Huber, 2011 are reported from Vietnam for the
first time. Additional new records are given for two species Leptopholcus
huongson Huber, 2011 and Physocyclus globosus (Taczanowski,
1874).
Keywords: Taxonomy,
morphology, new record, Arteminae, Pholcinae, Southeast Asia
For
final
version: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3909.1.1
http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03909p082f.pdf
0 nhận xét:
Đăng nhận xét