Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016

Trà mi thưởng - Camellia thuongiana: Loài mới cho khoa học phát hiện ở Lâm Đồng

Camellia-thuongiana_9
Camellia thuongiana sp.nov(For English please see at the end!)
Các nhà thực vật là Lương Văn Dũng (ĐH Đà Lạt) và cộng sự vừa công bố một loài hoa trà mới cho khoa học phát hiện tại huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng.

Anh Lương Văn Dũng hiện đang là nghiên cứu sinh và là người tâm huyết với nghiên cứu khoa học đặc biệt là Thực vật học. Anh đã có kinh nghiệm nhiều năm theo đuổi nghiên cứu các loài hoa Trà hoang dại của Việt Nam. Gần đây anh và đồng nghiệp cũng mới vừa công bố loài Đa tử trà lá nhỏ Polyspora microphylla mới cho thế giới, phân bố ở khu vực Hòn giao, Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà

Trà mi thưởng - Camellia thuongiana Luong, Anna Le & Lau. 
Camellia-thuongiana_8
Mô tả:

Cây bụi, cao 3-5 m; chồi non màu nâu đỏ, có lông thưa, sau không lông. 

Lá hình bầu dục hoặc hình trứng thuôn, hơi cong, dài 9-17 cm, rộng 4-6,5 cm; gốc lá tù hoặc gần tròn, hơi lệch; đầu lá có đuôi nhọn dài 1,5-2 cm; mép lá có răng cạn, thưa, xẻ gần hết toàn bộ lá; gân chính và gân bên lõm mặt trên, nổi mặt dưới, 12-13 cặp gân bên; cuống lá dài 0,8-1,1 cm, không lông. 

Hoa 1- 3(4) ở nách lá hoặc đầu cành, đường kính 4,5-5 cm; cuống hoa 0,8-1 cm, không lông. Lá bắc nhỏ 3-4, hình nêm hoặc elip, dài 2-4,5 mm, rộng 2-4 mm, hai mặt không lông, rìa mép có lông, lá bắc nhỏ sớm rụng. Lá đài 5, hình gần tròn, cao 6-10 mm, rộng 7-11 mm, hai mặt không lông, lá đài tồn tại. Cánh hoa 11-13, màu vàng, xếp xoắn ốc thành 2 vòng; vòng ngoài 4 - 5, hình elip, cao 1,4-1,9 cm, rộng 1,3-1,5 cm, hai mặt không lông, gốc không dính nhau, sớm rụng; vòng trong 7 - 8, hình elip hoặc trứng ngược, cao 1,9-2,2 mm, rộng 1,3-1,4 cm, hai mặt không lông, gốc dính nhau. Bầu hình trứng, 3 ô, cao 4-4,5 mm, rộng 4-5 mm, có lông; vòi nhụy dài 8-9 mm, xẻ 3 đến ½, không lông. Nhị 290 - 340, 6-7 vòng, dài 1,3-1,4 cm, không lông, vòng nhị ngoài dính gốc thành dạng cốc, chiều cao dính 4-5mm và dính với gốc cánh hoa. 

Vật hậu: Hoa vào mùa đông và mùa xuân

Sinh thái: Trà mi thưởng được tìm thấy ở rừng thường xanh hỗn giao với tre nứa ở độ cao 500-800 so với mực nước biển.

Từ nguyên: Loài này được đặt tên kỷ niệm ông Lầu Quốc Thưởng - Công ty Kim Hoa Trà
Bài báo được công bố trên tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt bằng tiếng Anh, Tập 6, số 3, 2016, Trang 338-344.
Ảnh: Lương Văn Dũng
Camellia-thuongiana_7
Camellia-thuongiana_6
Camellia-thuongiana_5
Camellia-thuongiana_4
Camellia-thuongiana_3
Camellia-thuongiana_2


Camellia-thuongiana_1

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016

Chúng ta biết chính xác loài Tê giác java ở Việt nam tuyệt chủng như thế nào!

Javan rhinos
Vào tháng 4 năm 2010. Xác cá thể Tê giác cuối cùng của Việt Nam đã được tìm thấy tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên. Đây là câu chuyện của người đã điều tra về cái chết đó, được viết nhân ngày Tê Giác Thế Giới 21 tháng 9.



Bài viết của Chris Baraniuk / trên BBC, Ngày 21 tháng 9 năm 2016/ Bài dịch bởi Đào Công Anh - ĐH Lâm Nghiệp

Trong những cánh rừng mưa nhiệt đới dày đặc ở phía Tây Nam Việt Nam, đã có một cá thể Tê giác từng đi lang thang. Cá thể cái này là thành viên cuối cùng của Phụ họ tê giác tại Việt nam và nơi đây là ngôi nhà của nó.

Cát Lộc - một khu vực phía bắc của VQG Cát tiên là một phần của thế giới từng gánh chịu sự tàn phá của Chất độc màu da cam trong chiến tranh ở Việt Nam. Ngày nay, nơi đây được biết đến nhiều hơn nữa như là một trung tâm bảo tồn về động vật hoang dã, nhưng cũng là nơi mà một trong những nỗ lực bảo tồn đó đã thất bại.

Cá thể Tê giác cuối cùng đã trải qua những ngày rong ruổi trên khắp hàng ngàn hecta rừng, một phạm vi thật rộng lớn so với một loài ăn cỏ như nó. Nhưng sau cùng cá thể cái này cũng trở lại nơi đây. Nơi đã từng có rất nhiều con suối và những dòng sông mà nó có thể đằm mình với rất nhiều thức ăn - như song mây, 1 loài dây deo thân gỗ có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi.
Nhưng rồi một ngày, một tên thợ săn đã nhìn chằm chằm vào nó qua ống ngắm của khẩu súng bán tự động và bóp cò. 
Chúng ta không biết được rằng liệu nó có nhìn thấy gã sát thủ và cũng không thể nào biết được đã bao nhiêu lần nó rơi vào tầm ngắm. Nhưng khi tiếng súng của gã thợ săn xé toạc khu rừng thì sự tuyệt chủng của loài Tê giác java (Tê giác một sừng) tại Việt nam đã được xác định, mặc dù nó không diễn ra ngay tức khắc. Cá thể Tê giác mặc dù bị thương vẫn cố gắng lẩn trốn. Một lúc sau, nó đã biến mất vào cánh rừng dày, nhờ sự che chắn của rừng già.

Cat Tien NP
Hồ Cá sấu, VQG Cát Tiên (Credit: Anders Blomqvist/Alamy)
Vận mệnh của loài Tê giác java tại Việt nam (một phụ họ có tên là Rhinoceros sondaicus annamiticus) đã được theo dõi rất chặt chẽ cùng thời gian đó bởi Sarah Brook. Brook đã và đang làm việc với vai trò là một nhà bảo tồn của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới WWF. Cô ấy đã giành hết thời gian trong ngày của mình cố gắng vượt qua những địa hình khó khăn của Cát Lộc - những ngọn đồi dốc đứng và những cánh rừng ngút ngàn với môt chú chó chuyên đánh hơi theo mùi phân của loài Tê giác.

Trong gần 6 tháng kể từ khi Brook tiến hành thu thập mẫu phân Tê Giác, trên những tuyến đường mòn trong khu vực, để xác nhận chính xác rằng chỉ còn đúng duy nhất một cá thể Tê giác ở khu vực này. Cô ấy đã làm việc rất nghiêm túc với các cán bộ kiểm lâm của Vườn Quốc Gia và đặt các bẫy ảnh.

Nhưng thời gian đó đã là quá muộn, các bẫy ảnh chẳng bao giờ chụp được một con Tê giác nào nữa, bản thân Brook chưa từng một lần được chứng kiến chúng còn sống. Rừng Cát lộc thật rộng lớn, và/nhưng ngược lại cá thể Tê giác này lại cô độc trong đó.

Javan rhino
Một bức ảnh chụp Tê giác java ở Vườn thú London vào thế kỷ 19 (Credit: T. Dixon/ZSL)
Không lâu sau, đầu năm 2010, những tin tức đau buồn đã ập đến.

Một người Kiểm lâm đã đưa cho Brook một tấm ảnh chụp một bộ xương của Tê giác được chụp vào tháng 4. Một bức ảnh của hộp sọ, bị tách ra khỏi phần còn lại của xương con vật, rõ ràng rằng cái sừng đã bị lấy đi. Sự thực nó đã bị lấy đi một cách thô bạo bởi bọn săn trộm.

Vườn Quốc Gia đã ban hành một tuyên bố cho rằng cái chết của tê giác là kết quả của tự nhiên, nhưng Brook không cho là vậy. Cô ấy đã kiểm tra những chiếc xương một vài tuần sau đó. Vào tháng 5, cô ấy đã phát hiện ra rằng có một viên đạn găm vào chân trước bên trái.

“Chúng tôi đã muốn tìm ra thực sự chuyện gì đã xảy ra và tìm ra sự thật”, Cô ấy nhớ lại, “Vào lúc đó chúng tôi đã nghi ngờ về cái chết của cá thể tê giác cuối cùng này rồi”

Brook đã bắt tay ngay vào việc điều tra của mình và bắt đầu cố gắng tìm ra đúng người để giúp đỡ.

Vết tích do đạn gây ra ở xương chân Tê giác (Credit: Ed Newcomer)

Cô ấy gửi 1 email cho Ulrike Streicher, một bác sĩ thú y về đông vật hoang dã, người đã có rất nhiều năm làm việc tại Việt Nam. Bà ấy cũng biết về VQG Cát tiên và cũng là người đã tư vấn cho WWF trước đó.

Brook cũng đã liên hệ với Ed Newcomer, một chuyên gia đặc biệt đến từ Dịch vụ chăc sóc động vật hoang dã và Cá của Mỹ. Ông ấy đang làm việc ở Thái Lan tại thời điểm đó, nhưng đã nắm bắt cơ hội để tham gia vào cuộc điều tra về Tê Giác này.

John Cooper, một chuyên gia pháp y về động vật hoang dã đến từ Vương quốc Anh và Douglas Mc Carty, người đang làm cho các nhóm chống buôn bán động vật hoang dã của Freeland cũng gia nhập.

Vào tháng 9, 
một nhóm các chuyên gia đầu ngành đến từ khắp nơi trên Thế giới đã tìm kiếm và lắp ghép các mẫu tại Vườn Quốc Gia, 
trong một căn phòng đầy ắp những đồ tạo tác sinh học. Có rất nhiều khung trưng bày và các hộp với rất nhiều thứ từ khuôn đúc của chân Tê giác tới bản đồ của khu vực, Newcomer nhớ lại. Họ không có một khu vực chuyên biệt về thú y để làm việc nhưng đó là việc cần phải làm.

Nhiệm vụ đầu tiên là xem lại bộ xương Tê Giác đã được khôi phục.

Bộ xương Tê giác được sắp xếp lại (Credit: Ed Newcomer)

Theo như lời những người Kiểm lâm đã giao bộ xương cho nhóm Nghiên cứu, Cooper nhận xét rằng bộ xương trông như đã bị tẩy trắng.

“Họ nói rằng, ‘Ồ chúng tôi đã tẩy trắng chúng’, và tôi đã bảo ‘OK, có vẻ rất có tiềm năng để lấy mẫu”, và nói với Streicher ‘Những người duy nhất ở Việt nam biết cách xử lý về động vật hoang dã là những người làm việc trong các bảo tàng - và lời khuyên của họ về tẩy trắng xương”

Nếu không có khả năng lấy mẫu phân tích từ những chiếc xương, thì chắc chắn công việc tìm ra nguyên nhân gây ra cái chết cho Tê giác trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Tất cả mọi người đều đồng ý là 
cần đến nơi mà bộ xương Tê giác được tìm thấy. 
Điều đó có nghĩa là họ sẽ phải trải qua 7km đi bộ vào rừng sâu và 7km để quay trở về

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện chuyến đi băng qua địa hình vào một ngày nóng và rất ẩm ướt. Một người dẫn đường, đi theo từng bước, phạt một con đường qua các cành cây và dây leo. "Nó rất là vất vả”, Newcomer nhớ lại

Bộ xương Tê giác được sắp xếp lại (Credit: Ed Newcomer)

Cuối cùng họ cũng đến được khe núi nơi tìm thấy Tê Giác xuất hiện trước đó. Trước mắt họ là một vách núi rất dốc, rừng dày nghiêng về phía bắc và thoải hơn về phía nam. Phía dưới là một con suối nhỏ chảy quanh từ Đông sang Tây.

“Vẫn còn dấu vết của Tê giác trong đám bụi bẩn” Newcomer nói. “Và phía bên trên nơi tìm thấy xác Tê giác là những cây tre (nứa) rất lớn - chúng có đường kính lên tới 10-15 cm - và chúng đã bị đẩy nghiêng hoàn toàn sang 1 bên giống như đã có một chiếc xe ủi đã đẩy chúng qua 1 bên vậy”

Newcomer đã tìm thấy một cây tre đã bị gãy dập thành hình chư U. Mọi người trong nhóm ngay lập tức tưởng tượng đến vết Tê giác đã nằm lên đó, có thể là sau khi bị rơi xuống và vướng lại.

“Nếu bụng của nó đã đè lên những cây tre thì nó có thể sẽ bị ngạt thở mà chết”, Newcomer nói

Dần dần một hình ảnh của cái chết đã bắt đầu lộ ra. Cá thể Tê giác này đã dịch chuyển xung quanh trước khi nó chết, nó đã vật lộn và cọ xát với thảm thực vật xung quanh.

Họ kiểm tra chỗ đó để tìm thấy bất kì chiếc xương nào nhưng rất tiếc không tìm được gì. Newcomer đã thực hiện một sơ đồ phác thảo nhanh cho khu vực, ghi chú lại những đặc điểm chính của vị trí như các dấu vết hay những nới mà bộ xương đã được tìm thấy so với con suối nhỏ.

Một cảnh của tội ác (Credit: Ed Newcomer)

Và khi rời khỏi hiện trường, Newcomer - người đi sau cùng - đã quay lại để chụp lại 1 tấm ảnh. Anh ấy biết chắc rằng sẽ không bao giờ quay lại đây lần nữa. Rất có thể đây là nơi cá thể Tê giác java ở Việt nam cuối cùng đã chết. Anh ấy đợi một vài giây, nhìn vào đám tre bị nghiền nát và con suối nhỏ bên dưới.
"Đó là ngày di chuyển không thể tưởng tượng được", anh ta nhớ lại "Giống như kiểu bạn bị đập bằng một viên gạch"
Nhóm nghiên cứu băng qua khu rừng quay trở lại. Trong buổi chiều đó trời đổ mưa và một số đoạn phải băng qua suối. Cuối cùng họ cũng ngấm mưa và kiệt sức

Trong suốt những ngày sau đó, nhiệm vụ tiếp theo là phải lắp ghép bộ xương tê giác trên sàn nhà sao cho càng chính xác càng tốt. Quan sát kĩ vào những chiếc xương có thể tiết lộ nhiều điều về sức khỏe của con vật trước khi chết.

Cooper vaf Streicher đã là chuyên gia trong rất nhiều lĩnh vực. Trong số những đặc điểm khác nhau, họ chú ý rằng đã có một sự thay đổi về khớp trong chân trước bên trái của con vật rất có thể là nguyên nhân gây ra sự đau đớn hay dẫn đễn cái chết. Cũng đã có một sự mòn đi trên móng chân này mà họ cho rằng nó đã hoạt động không bình thường.

Cooper đã viết về sự kiểm định này trong một cuốn sách gần đây, “Điều tra pháp y về động vật hoang dã” (Wildlife Forensic Investigation). “Nó rất có khả năng....là chấn thương do viên đạn gây ra, nặng nhất là gây ra cái chết, đau đớn,viêm khớp trái chân trước, rất dễ mắc phải ở các loài tê giác gây ra nhiều nguy hiểm, là yếu tố gây tử vong.”

Sau đó, Streicher đã lấy mẫu xương quan trọng này để chụp cắt lớp. Nó chỉ ra rằng có một lỗ hổng phía bên dưới và trên chỗ viên đạn găm vào, rất có thể nguyên nhân đến từ quá trình viêm xương. Trong 1 báo cáo của WWF, các nhà điều tra đã ghi nhận rằng quá trình này đã xãy ra ít nhất là trong 2 tháng, thậm chí lên tới 5 tháng.

Rừng mưa ở VQG Cát Tiên (Credit: Oscar Dominguez/Alamy)
Đây là một đầu mối quan trọng. Tê giác sẽ không chết sau chỉ vài ngày hay vài tuần sau khi bị bắn. Nó có thể là cả tháng trời. Và nó không chỉ bị thương trong một thời gian ngắn, mà sẽ bị tổn thương bằng cách bị gây trở ngại khi di chuyển và cuối cùng, dường như sẽ là nguyên nhân dẫn đến cái chết.

“Những loài động vật như tê giác hay Voi sẽ chẳng thể làm gì nếu không có chân”- Streicher giải thích. “Chúng quá nặng để đi khập khiễng”

Newcomer cũng lưu ý rằng, theo như điểm vào của đạn và quỹ đạo rõ ràng của nó, có khả năng viên đạn đã được bắn từ tên săn trộm ở vị trí phía dưới thấp hơn chỗ của đứng con Tê giác - có lẽ là trên một sườn đồi và rất có thể viên đạn đã nhắm tới tim con vật”

Có thể đã có nhiều hơn một viên đạn được bắn ra, tuy nhiên bất kì viên nào chỉ găm vào lớp mô mềm của con vật đã không thể tìm thấy bởi Nhóm điều tra. Tất cả những gì họ có chỉ là bộ xương.

Một câu hỏi chưa được lý giải là liệu có phải kẻ săn trộm sau khi bắn được con vật bị thương qua hàng tháng trời là người đã lấy đi chiếc sừng - hay một kẻ lang thang nào đó đã may mắn đi ngang qua và thừa hưởng thành quả. 

Đằng nào đi nữa, 
cho dù sừng tê giác có thể bán được hàng ngàn đô la, chiếc sừng của Tê giác java cũng chả phải lớn lắm
“Nó có thể đặt gọn trong lòng bàn tay - hay để vừa trong túi của bạn”, Newcomer đánh giá về những hoàn cảnh khốn khổ - Một phân loài bị đẩy đến chỗ tuyệt chủng chỉ vì một chiếc sừng nhỏ.

Một vài tháng sau đó, kết quả phân tích DNA cho thấy mẫu phân thu được trước đó của Brook là trùng khớp với bộ xương của con vật đã được giám định

Với rất ít bằng chứng thu thập được để tiến hành điều tra tiếp, điều đó là rất khó để đưa ra kết luận, tuy nhiên có những dấu hiệu chắc chắn để có thể dẫn đến chuỗi sự kiện: Một tay săn trộm đã bắn con Tê giác ít nhất là 1 lần; Viên đạn đã găm vào chân trước phía bên trái của con vật là nguyên nhân gây ra nhiễm trùng, viêm khớp và ngăn cản nó di chuyển; đây cũng có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp khiến con vật rơi ở khu rừng gần con suối nhỏ nơi mà con vật cuối cùng cũng đã chết.

Newcomer đã tuyên bố : “Viên đạn là nguyên nhân giết chết Tê giác”, “nó chỉ mất thời gian dài để khiến con vật chết đi”, 

Brook sau đó đã mô tả những gì xảy ra như một “thất bại của việc bảo tồn” tại Việt Nam.“Tôi đã bị ảnh hưởng bởi điều đó, và thực sự đã rất chán nản ngay sau những gì xảy ra”. Lý do chính của cô khi đến Việt Nam là nhằm điều tra quần thể Tê giác ở đây và bây giờ quần thể đó đã không còn nữa.

Cảnh sát phía Việt Nam đã hỗ trợ cho cuộc điều tra bằng cách đưa ra những phân tích về mẫu đạn thu được. Nó có thể được bắn ra từ 1 loại súng bán tự động, như AK 47.

Nhưng không một ai trong số những người điều tra trả lời với BBC nhận thức về vụ bắt giữ hay về sự kết tội tiếp theo. WWF cho biết rằng họ tin tưởng một cuộc điều tra chính thức vẫn sẽ được mở ra. 
Bất kể ai đã bắn Tê Giác và bất kì ai đã lấy đi chiếc sừng - bất chấp có cùng một người hay không.
Một bản vẽ minh hoạ loài Tê giác java (Credit: Paul D. Stewart/naturepl.com)
Vẫn còn một số ít các các thể Tê giác java tồn tại trên thế giới. Có 1 quần thể nhỏ ước tính có từ 40-60 cá thể ở Indonesia. Tuy nhiên chúng cũng đã được liệt vào mức cực kỳ nguy cấp của IUCN. Nhiều cuộc tuần tra được tổ chức bởi Quỹ Tê giác quốc tế và Quỹ Tê giác của Indonesia để canh phòng nghiêm ngặt quần thể Tê giác này, tuy nhiên những tổ chức này cũng đưa ra cảnh báo rằng phạm vi sinh cảnh sống tự nhiên của tê giác cần được mở rộng để đảm bảo sự sống của chúng tiếp tục tồn tại.

Ngày hôm nay, Ed Newcomer đang làm việc tại Botswana. Ông vẫn rất quan tâm tới số phận của những con Tê giác. Gần đó, tại vườn quốc gia South Africa’s Kruger, có 3 đến 4 cá thể Tê giác bị săn trộm mỗi ngày. Và luôn có một sự mỉa mai cay đắng cho những cái chết này.
“Những con Tê giác đã bị giết để phục vụ nhu cầu tại Việt nam” 
Tuy vậy cũng đã lóe lên một tia hy vọng, Một điều đã xảy ra như Newcomer đã đề cập. Con người đã thành công trong việc chiến đấu với nạn săn bắn trộm so với trước đó. 
Một lệnh cấm buôn bán Ngà voi đã giúp làm chậm, mặc dù chưa ngăn chặn được nạn săn bắn trộm voi lấy ngà.
hãy lấy ví dụ về việc Một lệnh cấm tương tự sẽ được đặt ra đối với sừng Tê giác, mặc dù vẫn còn có nhiều người vẫn đang thách thức với luật pháp địa phương.

Brook hiện đang làm việc cho Hội Bảo tồn Động vật hoang dã (WCS) đã đưa ra lưu ý cho nhiều nhà bảo tồn việt nam rằng sự mất mát của cá thể Tê giác java cuối cùng là một cú sốc lớn đối với họ. Điều đó là quá muộn để cứu vớt loài phụ Tê giác này, tuy nhiên cũng cẫn có những nỗ lực khác nhằm tập trung vào những loài nguy cấp khác tại việt Nam.

Một con Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) (Credit: Reuters/Alamy)







Cô ấy cũng đưa ra ví dụ về loài Sao la - một trong những loaì thú có vú lớn hiếm nhất hành tinh. Nó trông giống như một con linh dương nhỏ, Sao la chỉ mới được phát hiện vào năm 1992 và là loài đặc hữu của Việt Nam và Lào.

“Những nhà bảo tồn Việt nam đã thay đổi cơ bản cách tiếp cận để bảo tồn loài này tại Miền trung Việt nam và đã thiết lập 1 thỏa thuận chung cùng quản lý với các khu bảo tồn mới thành lập - mà chủ yếu để bảo tồn Sao La” Brook giải thích. “Dự án này đang rất thành công về việc loại bỏ số lượng lớn các bẫy thú ra khỏi sinh cảnh sống của Sao la”

Chiếc sừng của cá thể Tê giác java cuối cùng tại Việt nam rất có thể đã bị tuồn vào thị trường chợ đen. Thậm chí nếu tìm ra nó, chúng ta cũng không thể xác nhận về mặt di truyền nó thuộc về cá thể Tê giác cuối cùng đó. Những thủ phạm của vụ săn trộm này sẽ chẳng bao giờ bị bắt.

Không những thế, trong những cánh rừng rậm của Đông nam châu Á, vẫn có rất nhiều sinh vật tuyệt vời đang sinh sống và phát triển mạnh mẽ. 
Sự mất đi loài Tê giác là một bi kịch đối với Cát Tiên, nhưng nhiệm vụ của VQG không vì thế mà dừng lại. 
Với khoảng 720 km2, khỉ, gấu, tê tê và hươu vẫn chưa thoát khỏi tình cảnh khó khăn. Có thể với may mắn nào đó, chúng sẽ tránh khỏi được tầm ngắm của những kẻ săn trộm ngoài kia, ở trong sâu thẳm bao la của rừng già.

http://www.bbc.com/earth/story/20160920-we-know-exactly-how-the-vietnamese-javan-rhino-went-extinct

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2016

Phát hiện một loài mới cho khoa học: Đa tử trà lá nhỏ Polyspora microphylla Luong, Nguyen et Truong

Đa tử trà lá nhỏ (Polyspora microphylla LuongNguyen et Truong) một loài mới thuộc họ Chè (Theaceae) ở Việt Nam



Các nhà khoa học thuộc Khoa Sinh học, Trường Đại học Đà Lạt và Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà vừa phát hiện một loài mới cho khoa học, và cũng bổ sung thêm thành phần loài cho khu hệ thực vật Việt Nam. 
Đa tử trà lá nhỏ - Polyspora microphylla  Luong, Nguyen et Truong, sp. nov. (Hình 1, 2)
Cây gỗ nhỡ; lá non và cành non màu đỏ nâu, không lông. Lá hình bầu dục rất hẹp đến hình giáo ngược, dài 4-7.5 cm, rộng 1.3-2 cm, hai mặt không lông; gân phụ mờ nhạt, gân chính nổi rõ mặt dưới; mép lá có răng tròn đến ½ lá, không gợn sóng; đầu lá tù, lõm ở giữa; gốc lá hình nêm hoặc hình mũi tên;  cuống lá dài 3-5 mm, không lông. Hoa 1 – 3 ở đầu cành, gần như không cuống, đường kính 2.5-3.5 cm; nụ hoa hình cầu, có lông, kích thước 7-8 mm. Lá bắc nhỏ 2-3, hình gần tròn, sớm rụng, cao 3-4 mm, rộng 3-4.5 mm, mặt ngoài có lông. Lá đài 5, hình gần tròn, cao 4-4.5 mm, rộng 4.5-5 mm, mặt ngoài có lông. Cánh hoa 5, hình trứng ngược, màu vàng nhạt, cao 1-2.2 cm, rộng 0.8-1.2 cm, mặt ngoài có lông. Bầu hình trứng, 5 ô, cao 3 mm, rộng 2.5 mm, có lông; vòi nhụy liền, dài 3-4mm, có lông ở gốc. Nhị nhiều, 70-80 nhị; 3 vòng, vòng ngoài dính ở gốc và dính với gốc cánh hoa; chỉ nhị vàng, dài 4-5 mm, không lông. Quả hình bầu dục, cao 1.6- 2 cm, rộng 8-9 mm, trụ giữa dài 1.3-1.5 cm; quả 5 ô, mở 5 mảnh, mỗi ô 3-5 hạt. Hạt hình elip có cánh, rộng 3-3.5 mm, dài 7-8 mm cả cánh.
Mùa hoa tháng 1-3; mùa quả tháng 10-12.
Sinh thái và phân bố: Rừng lá rộng thường xanh, mây mù, độ cao 1400-1500 m, khu vực Hòn giao, Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà (ranh giới tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa). Đa tử trà lá nhỏ thường mọc với các loài Pơmu, Cồng nhám, Đỗ quyên đỏ, Thông tre.
           



Hình 1. Polyspora microphylla  Luong, Nguyen et Truong
A., B. Lá; C. Cành mang nụ hoa; D. Hoa; E. Lá bắc nhỏ; F. Lá đài; G. Cánh hoa; H. Nhị; I. Bầu; K. Quả; L. Quả mở; M. Hạt (người vẽ Lương Văn Dũng).





Hình 2. Polyspora microphylla  Luong, Nguyen et Truong


A. Cành mang nụ hoa; B. Hoa; C. Cành mang quả; D Hạt

Bài gửi bởi Trương Quang Cường - Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2016

Bổ sung loài Lan tu mơ rông (Sunipia rimannii) cho Việt Nam

Sunipia rimannii 1
Trong đợt điều tra cây thuốc ở Kon Tum, chúng tôi có phát hiện loài Sunipia rimannii (H. G. Rchb.) Seid.. Người dân địa phương gọi loài này là Đại bao tu mơ rông. 
Ở Việt Nam đã công bố 7 loài: Sunipia andersonii (King & Pantl.) P.F.Hunt 1971; Sunipia annamensis (Ridl.) P. F. Hunt 1971; Sunipia grandiflora (Rolfe) P.F. Hunt 1971; Sunipia nigricans Aver. 2007; Sunipia pallida (Aver.) Aver. 1999; Sunipia racemosa (Sm.) Tang & F.T. Wang 1951; Sunipia scariosa Lindl. 1833. Trong số các loài thuộc chi Sunipia Lindl. nhiều loài được trồng làm cảnh, có loài Sunipia scariosa đã được công bố có tác dụng hỗ trợ điều trị khối u, chống viêm và chống kết tập tiểu cầu.


Bài báo này ghi nhận phân bố của loài Lan tu mơ rông (Sunipia rimannii (H. G. Rchb.) Seid.) ở Việt Nam. Đây là một loài mới thuộc chi Sunipia Lindl. ở Việt Nam.

Loài đặc trưng bởi hai tràng bên hình gần tròn, chiều dài gần bằng rộng, mép tràng môi có khía răng nhỏ không đều. Sunipia rimannii (H. G. Rchb.) Seid. phân bố ở làng Ngọc Leng, xã Đăk Hà, huyện Tu mơ rông, tỉnh Kon Tum. Hiện chưa có nghiên cứu về loài Lan tu mơ rông này, do vậy cần nghiên cứu về thành phần hóa học, tác dụng dược lý, giá trị sử dụng cũng như khả năng nhân trồng.

Sunipia rimannii

Sinh thái: Cây phụ sinh, trong rừng nguyên sinh thường xanh hay nửa rụng lá trên sườn núi đá vôi, ở độ cao 1600-1700 m. Mùa hoa vào tháng 12 đến tháng 02 năm sau.

Phân bố: Làng Ngọc Leng, xã Đăk Hà, huyện Tu mơ rông tỉnh Kon Tum. 

Đây là lần đầu tiên mô tả chi tiết bằng hình ảnh và đầy đủ bằng tiếng việt về đặc điểm thực vật, sinh thái và phân bố loài Sunipia rimannii có ở Việt Nam. Hơn nữa bài báo còn mô tả chi tiết một số bộ phận của loài này mà thực vật chí Trung Quốc chưa mô tả hay mô tả sơ sài như: Hai đài bên, tràng môi, trụ nhị nhụy, bao phấn, khối phấn và bầu.

Nguyễn Hoàng Tuấn, Bộ môn Dược liệu, Trường đại học Dược Hà Nội; Email: tuandl50@yahoo.com
Nguyễn Sơn Hải, Đài truyền hình Phú Thọ

Summary: The Sunipia rimannii (H. G. Rchb.) Seid.; (Orchidaceae) collected from Dak Ha District, Kon Tum province is reported as a new record for the flora of Vietnam. S. rimannii can be distinguished from its closest ally by its petals suborbicular, ca. as long as wide, lip margins entire to slightly and minutely crenulate, lip margins partly distinctly erose-lacerate. Morphological redescription and illustrations are provided along with notes on distribution, ecology, phenology and conservation of the species.

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Trà mi quang cường (Camellia quangcuongii) loài mới cho thế giới

Camellia quangcuongii

Một loài thực vật có hoa thuộc họ Trà (Camelliaceae) vừa được phát hiện tại núi Hòn Giao, tỉnh Khánh Hoà và được mô tả là mới cho khoa học với tên Trà mi quang cường (Camellia quangcuongii L. V. Dung, Son & Nhan)

Mô tả: Đây là loài cây gỗ, đường kính 20 cm, cao 8-9 m. Cành non không lông.


Lá hình thuôn, hai đầu nhọn, kích thước 5-6,5cm x 14-17 cm; mép lá có răng đều, cạn, xẻ dọc mép lá; mặt trên không lông, gân mờ nhạt; mặt dưới có lông thưa, gân chính và gân bên nổi rõ, 6-10 cặp gân bên. Cuống lá không lông, dài 1-1,2 cm.
Camellia quangcuongii -2
Bản vẽ mô tả loài Trà mi Quang Cường (Camellia quangcuongii): A.lá, B. Mặt dưới lá; C. Mặt trên lá; D.Nụ hoa; E. Hoa; F. Lá đài; G, H, I. Cánh hóa; K Đài và bầu; L. Bầu; M. Nhị; N. Quả; O. Hạt. Hình theo Lương Văn Dũng et al.

Hoa 1-2(3) ở nách lá, đường kính 4-5 cm; cuống dài 5-8 mm, không lông, cuống mang 6-7 lá bắc nhỏ, dạng vảy, mầu xám, kích thước 2 x 2 mm, có lông trắng ở mặt lưng. Đài 5, hình bán cầu hoặc gần tròn, không lông cả hai mặt, tồn tại (đồng trưởng), kích thước: rộng 0,3-0,5 cm, cao 0,4-0,5 cm. Cánh hoa 5-7(8), hình gần tròn đến hình bầu dục, màu trắng. Cánh hoa ngoài rộng 1,0 cao 1,5 cm, mặt trong có lông mịn, mặt ngoài có lông ở gốc; cánh hoa giữa rộng 1,2cm cao 2,5 cm, có lông mịn hai mặt; cánh hoa trong rộng 0,8 cao 2,3 cm, có lông hai mặt. Nhị nhiều, chỉ nhị không lông, dài 1,2 cm, vòng ngoài dính với gốc cánh hoa, chiều cao dính 4 mm; bao phấn 2 mm. 

Bầu hình trụ,không lông, cao 3mm, rộng 2mm, 3 ô, vòi nhụy xẻ 3 đến gốc, không lông,dài 5-6 mm. 

Camellia quangcuongii 1
Bản mô tả loài Trà mi Quang Cường (Camellia quangcuongii) dựa trên mẫu sống. Hình theo Lương Văn Dũng et al.

Quả nang, hình trứng, cong về một bên (không đối xứng theo trục dọc), không lông, kích thước 3,5-4 x 5-6 cm, vỏ quả mỏng, dày 1,5-2 mm, quả một hạt. Hạt bầu dục, không lông, kích thước 2,5 x 3,5 cm.

Sinh thái, vật hậu: Cây mọc trong rừng lá rộng thường xanh, độ cao 800 m, phân bố cùng với các cây họ Ngọc Lan, họ Xoài, họ Sim, họ Cà phê, họ Đậu, họ Sến. Mùa hoa tháng 10-12.Mùa quả tháng tháng 5-6. Cây phân bố trong rừng lá rộng thường xanh, độ cao 800 m, khu vực núi Hòn Giao (Ranh giới Lâm Đồng Và Khánh Hòa).

Từ nguyên: Tên của loài được đặt theo tên ông Trương Quang Cường, (VQG Bì Doup - Núi Bà, Đà Lạt


Loài này được nhóm tác giả Lương Văn Dũng (ĐH Đà Lạt), Hoàng Thanh Sơn (Viện Khoa học Lâm nghiệp, HN), Trần Ninh (ĐHQGHN), và  Pham Huu Nhan (VQG Bì Doup - Núi Bà, Đà Lạt) mô tả và công bố trên tạp chí "Journal of Japanese Botany".

Bài và ảnh: Trương Quang Cường, Lương Văn Dũng

Trích dẫn: Luong Van Dung, Hoang Thanh Son, Tran Ninh and Pham Huu Nhan. 2016. Camellia quangcuongii (Theaceae), a New Species from Vietnam.  J. Jpn. Bot. 91: 226–230.
Liên hệ tác giả: Hoàng Thanh Sơn, email: hoangsonfsiv@gmail.com
Đọc tóm tắt: http://www.jjbotany.com/getpdf.php?aid=10672

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Loài rắn mới cho khoa học ở VQG Côn Đảo, Bà Rịa-Vũng Tàu

Oligodon condaoensis
Rắn Khiếm Côn Đảo Oligodon condaoensis ngoài tự nhiên


Các nhà khoa học Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Vườn Quốc gia Côn Đảo và Bảo tàng Hoàng gia Ontario, Canada vừa phát hiện và mô tả một loài rắn mới tại Vườn Quốc Gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. 
Loài rắn mới này được đặt tên là Rắn Khiếm côn đảo Oligodon condaoensis, theo địa danh thu mẫu để mô tả loài mới.

Loài rắn mới này có chiều dài trung bình khoảng 60 cm, màu đen hoặc có sọc mờ dọc theo thân, bụng trắng. Rắn Khiếm Côn Đảo là loài rắn không độc, hoạt động ban ngày. Đây là loài rắn đặc hữu có vùng phân bố rất hẹp ở Côn Đảo và cần được nghiên cứu bảo tồn trong thời gian tới.

Phát hiện mới này được đăng trên tạp chí chuyên ngành Zootaxa 4139(2): 261-273, 2016. Thông tin chi tiết về loài mới này có thể tham khảo tại website: http://www.mapress.com/j/zt/article/view/zootaxa.4139.2.9

Nguồn tin: Nguyễn Đăng Hoàng Vũ – Viện Sinh học nhiệt đới

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

Liparis honbaensis và chi Nhẵn diệp ở Khu BTTN Hòn Bà

Liparis honbaensis
Hình thái ngoài của loài  mới Liparis honbaensis Aver. et Vuong
Các nhà thực vật Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện thực vật Komarov của Nga vừa phát hiện và mô tả một loài Nhẵn diệp mới thuộc họ Lan (Orchidaceae), đặt tên là Nhẵn diệp hòn bà Liparis honbaensis Aver. Et Vuong.


Liparis Rich. là một chi lớn thuộc họ Lan với khoảng 320 đến 350 loài phân bố từ vùng nhiệt đới, á nhiệt đới tới vùng ôn đới, nhưng đa dạng nhất là ở khu vực nhiệt đới châu Á. Ở Thái Lan chi này có 35 loài, Lào 13 loài, Trung Quốc 63 loài và Việt Nam có 55 loài.

Nhẵn diệp hòn bà có đặc điểm là Lan đa trục, mọc trên đá; giả hành mọc sát nhau, hình trứng. Lá 2, không cuống, đầu nhọn. Phát hoa mọc cùng với giả hành mới; hoa màu vàng xanh, nở rộng khoảng 4-5 mm chiều ngang, cuống dài 6-8 mm; môi hình trứng ngược, ở dưới gốc có 2 thể chai đôi, thấp không nhô cao, phần đầu của môi răng cưa, đầu bằng hay lõm vào trong.

Loài mới này có vùng phân bố hẹp, chỉ gặp từ độ cao 1400 đến 1450 m ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa, và được xem là loài đặc hữu cho Việt Nam.

Thêm vào đó, danh lục các loài thuộc chi Nhẵn diệp Liparis ở Hòn Bà cũng được đưa ra và giải quyết các vấn đề phân loại.

Loài mới này được bố trên tạp chí Turczaninowia 19 (2): 34–49 (2016).
http://turczaninowia.asu.ru/index.php/tur/article/view/1354/984

Nguồn tin: Trương Bá Vương – Viện Sinh học nhiệt đới



Xử lý tin: Thanh Hà

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Phát hiện loài thực vật mới (Eustigma honbaense) ở Khánh Hoà

Eustigma honbaense 1
Ảnh mẫu tươi Chân thư hòn bà (Eustigma honbaense H.Toyama, Tagane & V.S.Dang) – Ảnh: TS. Hironori Toyama.

Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu giữa Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam và Trung tâm Bảo tồn sinh thái châu Á thuộc Đại học Kyushu, Nhật Bản, các nhà khoa học đã phát hiện và mô tả một loài thực vật mới thuộc họ Kim mai (Hamamelidaceae) tại KBTTN Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa. Loài mới được đặt tên là Chân thư hòn bà (Eustigma honbaense H.Toyama, Tagane & V.S.Dang), theo địa danh “Hòn Bà” , nơi thu được mẫu vật.


Chi Chân thư (Eustigma Gardner & Champ.) là một chi nhỏ thuộc họ Kim mai (Hamamelidaceae) với khoảng 3 loài phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Dương và Trung Quốc. Riêng ở Việt Nam chi này được ghi nhận chỉ có 1 loài là Eustigma balansae Oliv.

Loài Chân thư hòn bà (Eustigma honbaense H.Toyama, Tagane & V.S.Dang) có đặc điểm là Cây gỗ lớn, cao 8–10 m. Lá hình elíp đến thuôn, kích thước 6,5–21,5 x 2,2–8,5 cm; gốc tù đến hình nêm, đầu có mũi nhọn đến tròn; bìa nguyên. Cụm hoa dạng chùm mọc ở ngọn hay nách lá, dài 5–10,3 cm. Quả nang, dạng hình trứng hay hình cầu, dài 12–16 mm, đường kính 9–10 mm; hạt 2, dạng trứng hẹp, kích thước 10 x 4,5 mm.

Chân thư hòn bà mới chỉ tìm thấy ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa, với 3 cá thể mọc dọc theo suối của rừng cây lá rộng thường xanh, ở độ cao khoảng 400 m so với mặt nước biển.

Loài mới này được công bố trong bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, số 65, trang 47–55, ngày 16/06/2016. Thông tin chi tiết có thể xem tại http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=6726

Cũng trong chương trình hợp tác nói trên, các nhà khoa học đã phát hiện được 3 loài khác ở Khu BTTN Hòn Bà là Giác đế hòn bà (Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang), Tai nghé hòn bà (Aporosa tetragona Tagane & V.S.Dang) và Xú hương Yahara (Lasianthus yaharae V.S.Dang, Tagane & H.Tran).

Nguồn tin: Đặng Văn Sơn – Viện Sinh học nhiệt đới

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Phát hiện loài Dẻ đá mới tại Đạ Huoai, Lâm Đồng: Lithocarpus dahuoaiensis

Dẻ đá đạ huoai (Lithocarpus dahuoaiensis Ngoc & L. V. Dung) - là loài thực thực vật mới cho khoa học vừa được phát hiện tại huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

Trong khuôn khổ hợp tác giữa trường Đại học Đà Lạt và trường Đại học Kyushu Nhật Bản về điều tra đa dạng thực vật theo đai cao ở Việt Nam, các nhà khoa học đã phát hiện một loài thực vật mới thuộc họ Dẻ (Fagaceae) và đặt tên là Lithocarpus dahuoaiensis Ngoc & L. V. Dung – Dẻ đá đạ huoai. 


Loài Dẻ mới được đặt tên theo tên của huyện Đạ Huoai – Lâm Đồng, nơi đầu tiên các nhà khoa học phát hiện và thu mẫu loài thực vật này. Loài mới sau đó cũng được phát hiện có phân bố tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hoá tỉnh Đồng Nai. 
Lithocarpus dahuoaiensis1
Bản ảnh minh hoạ loài Dẻ đá đạ huoai. Ảnh Hoàng Văn Sơn et al.

Dẻ Đá Đạ Huoai là cây gỗ lớn (30-35m) trong kiểu rừng kín thường xanh, có giá trị kinh tế, hạt có thể ăn hoặc làm thức ăn gia súc. 

Loài dẻ này có đặc điểm hình thái gần giống với loài Lithocarpus macphailii (M.R.Hend.) Barnett và loài Lithocarpus encleisocarpus (Korth.) A. Camus nhưng khác ở các đặc điểm như đấu không bao trọn hạt (chỉ khoảng ½ - 2/3 hạt), kích thước lá lớn hơn, đặc điểm hình thái của lá, số cặp gân thứ cấp, hình thái quả đấu,….
Lithocarpus dahuoaiensis2
Bản vẽ minh hoạ loài Dẻ đá đạ huoai. Ảnh Hoàng Văn Sơn et al.

Trạng thái bảo tồn của loài này được đánh giá là thiếu dữ liệu (Data deficient – DD), nhóm nghiên cứu mới chỉ phát hiện một vài cá thể dọc theo quốc lộ 20, đoạn qua huyện Đạ Huoai và trong khu bảo tồn thiên nhiên văn hoá Đồng Nai,cần phải có những nghiên cứu tiếp theo để xác định chính xác kích thước quần thể của loài ở ngoài tự nhiên để có các biện pháp bảo tồn phù hợp.

Loài mới được mô tả và công bố trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, chi tiết tại: http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=9821

Nguyễn Văn Ngọc - Khoa Sinh Học, Trường Đại học Đà Lạt

Hoàng Thanh Sơn - Viện Nghiên cứu Lâm Sinh, Hà Nội

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2016

Giác đề bân (Goniothalamus banii): Loài thực vật mới cho thế giới từ Thanh Hoá

Giác đế bân
Hoa loài  Giác đế bân - Ảnh Trịnh Ngọc Bon
Các nhà nghiên cứu thực vật của Việt Nam và Ấn Độ vừa công bố một loài thực vật mới cho thế giới được phát hiện từ Thanh Hoá.

Loài thực vật mới được đặt tên là Giác đế bân Goniothalamus banii thuộc họ Na Annonaceae


Đây là một loài cây bụi nhỏ, cao đến 4 m, thân có 3-4 cạnh dọc thân, không phân cành, tất cả các bộ phận đều có mùi thơm. 

Giác đế bân 2
Cây mang lá loài Giác đế bân - Ảnh Phạm Văn Thế
Lá đơn, mọc cách, thuôn dài, 30-50 (80) cm, rộng 5-12 (20) cm, nhẵn cả hai mặt, có mũi dài 1-2 cm, đáy tròn, gân bên 22-30 (35) cặp, lõm mặt trên, nổi rõ ở mặt dưới, cuống lá dài 1-2 cm, không lông. 
Giác đế bân  3
Quả loài Giác đế bân - Ảnh Trịnh Ngọc Bon
Cụm hoa xim ở nách lá già, hoặc ở những nách đã rụng, mang 1-3 hoa, rất thơm, cuống 2-6 mm; lá bắc 3 cái, hình trứng rộng, 3-5x1-2 mm. 
3 lá đài trong, màu xanh, hình tam giác, 15x8 mm, lông rải rác ở hai mặt, 3 cánh hoa ngoài, hình mác , màu vàng hoặc đỏ mặt trong, mặt ngoài màu xanh, 30-50 x 5-6 mm, có lông thư hai mặt. 3 cánh hoa bên trong, hình trứng đến hình tam giác, 10-20(30)x4-5mm, màu hồng, có lông rải rác. 

Nhị hoa 80-85 cái, hình chữ nhật hoặc trụ, cao 3mm, bao phấn có những ô nhỏ, có cơ để mở, đỉnh tròn. Bộ nhụy với lá noãn rời, có lông mềm, mỗi lá noãn chứa 1-2 noãn, noán hình bầu dục hay hình chữ nhật. 

Giác đế bân 4
Quả loài Giác đế bân - Ảnh Trịnh Ngọc Bon
Tên loài thực vật này được đặt theo tên của cố GS.TSKH Nguyễn Tiến Bân. Chúng được phát hiện dưới tán rừng thường xanh phục hồi mưa mùa nhiệt đới ở đất thấp thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên Thanh Hoá

Chi tiết bài báo được công bố trên tạp chí chuyên ngành Thực vật Nordic của Thuỵ Điển. 



http://www.nordicjbotany.org/accepted-article/goniothalamus-banii-sp-nov-annonaceace-new-species-thanh-hoa-vietnam
Giác đế bân 5
Cành mang hoa loài Giác đế bân - Ảnh Trịnh Ngọc Bon
Bài viết bởi Trịnh Ngọc Bon

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

Những loài cá biển quý, hiếm ở miền Trung Việt Nam

Đây là những loài cá quý, hiếm đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, chúng có phân bố ở một số tỉnh Miền Trung, và có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thảm hoạ ô nhiễm môi trường biển. Chúng là những loại có tình trạng bảo tồn từ Rất nguy cấp, đến Bị đe doạ tuyệt chủng trong tương lai gần.

Chúng được pháp luật Việt Nam bảo vệ, nghiêm cấm đánh bắt ngoài tự nhiên, nghiêm cấm sử dụng các hình thức mang tính diệt chủng như sử dụng CHẤT ĐỘC, phá huỷ môi trường sống. 

Ngoài những biện pháp bảo vệ như trên, chúng ta cần tăng cường giáo dục thiên nhiên, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cộng động, để bảo tồn những tài nguyên thiên nhiên biển vô cùng tươi đẹp và giá trị mà cha ông ta đã gìn giữ bao đời nay.

CÁ BỐNG BỚP - BOSTRICHTHYS SINENSIS 

Phân hạng: RẤT NGUY CẤP - CR A1a,c,d E.


cá bống bớp
Theo http://tepbac.com/
Đây là loài cá quý cổ truyền của Việt Nam và đứng đầu danh sách các loài hải sản tươi sống xuất khẩu. Thịt thơm ngon, thành phần dinh dưỡng trong thịt cao nhất so với các loại cá biển khác: lipit 12,1% (gấp khoảng 10 lần cá khác), protit 18,5% (tính theo trọng lượng thịt không có xương).

Ca bong bop
Theo SĐVN 2007
Thức ăn chủ yếu của chúng là động vật giáp xác và cá con. Sống trong các bãi triều, cửa sông, đầm nước lợ, chất đáy là bùn cát hoặc bùn phù sa. Cá trưởng thành luôn sống trong hang, lỗ ở các bãi triều, bờ đê ngập nước, chỉ ra ngoài khi sinh sản hoặc kiếm ăn.

Do cường độ săn bắt như hiện nay và các hiện tượng khoanh bãi triều đắp đầm ao nuôi hải sản phá huỷ nơi cư trú và môi trường ven biển bị ô nhiễm, dự đoán số lượng cá thể ngoài tự nhiên sẽ giảm đi ít nhất 50% trong vòng 10 - 15 năm tới. 

Chúng có ở Tây vịnh Bắc Bộ bao gồm cả Thanh Hoá và Hà Tĩnh

Đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007. Cần nghiêm cấm triệt để việc đánh bắt loài này ngoài tự nhiên. Mặt khác cần hạn chế việc chặt phá sú vẹt, khoanh vùng đắp đầm ao bừa bãi trong các bãi triều cửa sông. Các cơ sở nghiên cứu cần tiếp tục nuôi cho cá đẻ nhân tạo để bổ sung giống vào môi trường tự nhiên.

CÁ NHÁM NHU MỲ - STEGOSTOMA FASCIATUM 

Phân hạng: NGUY CẤP - EN A1d C2a. 

CÁ NHÁM NHU MỲ
Theo http://www.julianrocks.net/
Chúng là loài cá sụn có thân hình lớn, sống đáy, bơi lội chậm chạp nên thường bị mắc vào lưới giã đáy trong vùng biển nông. Dự đoán số lượng quần thể có khoảng 2500 cá thể trưởng thành; do sống phân tán nên mỗi tiểu quần thể có khoảng 250 cá thể. Với cường độ đánh bắt ngày càng tăng như hiện nay (kể cả các biện pháp dùng thuốc nổ và CHẤT ĐỘC) sẽ dẫn đến giảm số lượng là điều không thể tránh khỏi.
CÁ NHÁM NHU MỲ
Theo SĐVN 2007

Thức ăn của loài này là động vật thân mềm và giáp xác. Cá nhám nhu mì sống sát đáy, bơi lội chậm chạp. Phân bố rộng trong các vùng biển ấm, thường vào vùng gần bờ và ven đảo trong mùa sinh sản hoặc kiếm ăn. 

Ở Việt Nam, chúng phân bố có ở Đông Nam vịnh Bắc Bộ (và một số khu vực khác). 
Đây là loài có giá trị cao như thịt làm thực phẩm, gan lấy dầu để sản xuất dầu cá. Dầu gan cá được coi như một poly vitamin.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản


CÁ GIỐNG MÕM TRÒN, CÁ GIỐNG, CÁ ĐUỐI LƯỠI CÀY - RHINA ANCYLOSTOMA

Phân hạng: NGUY CẤP - EN A1a,d C2a.

CÁ ĐUỐI LƯỠI CÀY -
Theo https://wikimedia.org/
Theo SĐVN 2007
Do sống sát đáy và bơi lội chậm chạp nên dễ bị lưới đáy quét được, thường gặp nhưng số lượng không nhiều, dự đoán quần thể trong toàn vùng biển có dưới 2500 cá thể trưởng thành và mỗi tiểu quần thể ít hơn 250 cá thể. Thức ăn là động vật giáp xác và thân mềm. 

Ở Việt Nam chúng phân bố có ở Đông Nam Vịnh Bắc Bộ (và một số khu vực khác)

Là loài có giá trị thực phẩm cao như thịt ăn tươi hoặc đóng hộp, gan lấy dầu sản xuất dầu cá. Là nguồn gen quý hiếm, vật mẫu hấp dẫn du khách trong các bảo tàng biển.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản

CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN - CHANOS CHANOS 

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A2d.

CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN
Theo http://fishesofaustralia.net.au/
CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN
Theo SĐVN 2007
Là loài có giá trị thực phẩm, thịt cá tươi rất thơm ngon, được ưa chuộng ở trong nước và nước ngoài. Là đối tượng nuôi ở các đầm phá ven biển miền Trung từ Quảng Trị đến Bình Thuận. Thức ăn của cá chủ yếu là rong lam kết thành khối nổi trên mặt nước và mùn bã hữu cơ.

Mặc dù Cá măng biển đẻ nhiều nhưng mức độ tử vong cao ở giai đoạn phôi và cá con, do cường độ đánh vớt cá con rất lớn ở các vùng ven biển trong các đầm phá và tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng ở vùng biển gần bờ. Do đó các thành phẩm trong các đầm nuôi rất ít. Dự đoán số lượng trong 10 năm tới giảm ít nhất 20%.

Chúng phân bố dọc ven biển từ Nghệ An đến Bình Thuận. 

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA - TRACHYRHAMPHUS SERRATUS

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A1c,d C1+2a.

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA
Theo http://knowledge.taibif.tw/

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA -
Theo SĐVN 2007
Là loài cá có thân hình nhỏ, số lượng ít, phân tán, sống ở vùng nước nông gần bờ, nơi cư trú có nhiều rong, cỏ và hẹ biển. Phân bố rải rác từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.

Cá chìa vôi mõm răng cưa là dược liệu quý trong đông y. Cá chìa vôi khô dùng điều chế thuốc bổ thận, tráng dương, đau lưng, nhức xương, mỏi mệt và xuất khẩu. Có thể nuôi làm cá cảnh.

Do sự săn bắt ráo riết và sự khai thác hải sản bằng thuốc nổ và CHẤT ĐỘC đã phá huỷ môi trường sinh thái và gây ô nhiễm dẫn đến giảm số lượng và nơi cư trú. Dự đoán quần thể có ít hơn 10.000 cá thể trưởng thành và mức giảm ít nhất 10%.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007. Cấm triệt để việc khai thác hải sản bằng chất nổ và CHẤT ĐỘC.

CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI - EPINEPHELUS TAUVINA 

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A1c,d B2c,e

CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI
Theo http://arkive.org/
CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI
Theo SĐVN 2007
Cá song mỡ là một trong những loài cá đáy có giá trị kinh tế cao, hiện nay đã trở thành đối tượng nuôi quan trọng ở khu vực Đông Nam Á. Ăn tươi, thịt ngon được nhiều người ưa chuộng, giá thị trường khá cao. Chúng phân bố ở các tỉnh ven biển Việt Nam từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.

Do công nghệ sản xuất giống Cá song mỡ rất khó, trong khi nuôi Cá song mỡ ngày càng phát triển mạnh trong mấy năm qua, ngư dân đã dùng nhiều hình thức khai thác không hợp lệ, nguồn lợi Cá song ngày càng khan hiếm, cạn kiệt. Dự đoán số lượng giảm > 20%, hiện còn khoảng > 2500 cá thể trưởng thành.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản. Đề xuất khu vực cấm và hạn chế đánh bắt quanh năm và có thời hạn. Cần giảm cường độ khai thác, đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất con giống bằng biện pháp nhân tạo.

CÁ CỜ MẶT TRĂNG - VELIFER HYPSELOPTERUS 

Phân hạng: THIẾU DẪN LIỆU - DD

CÁ CỜ MẶT TRĂNG -
http://fishesofaustralia.net.au/
Là loài RẤT HIẾM, có ý nghĩa khoa học, không có giá trị thực phẩm. Ở Việt Nam chúng phân bố ở Vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ.

Cần giáo dục trong nhân dân ý thức bảo vệ loài cá hiếm này. Nếu bắt được cần thả ngay khi cá còn sống.

Hình theo SĐVN 2007

Tài liệu tham khảo SĐVN 2007