Hiển thị các bài đăng có nhãn Redlist. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Redlist. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Phát hiện loài Dẻ đá mới tại Đạ Huoai, Lâm Đồng: Lithocarpus dahuoaiensis

Dẻ đá đạ huoai (Lithocarpus dahuoaiensis Ngoc & L. V. Dung) - là loài thực thực vật mới cho khoa học vừa được phát hiện tại huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

Trong khuôn khổ hợp tác giữa trường Đại học Đà Lạt và trường Đại học Kyushu Nhật Bản về điều tra đa dạng thực vật theo đai cao ở Việt Nam, các nhà khoa học đã phát hiện một loài thực vật mới thuộc họ Dẻ (Fagaceae) và đặt tên là Lithocarpus dahuoaiensis Ngoc & L. V. Dung – Dẻ đá đạ huoai. 


Loài Dẻ mới được đặt tên theo tên của huyện Đạ Huoai – Lâm Đồng, nơi đầu tiên các nhà khoa học phát hiện và thu mẫu loài thực vật này. Loài mới sau đó cũng được phát hiện có phân bố tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hoá tỉnh Đồng Nai. 
Lithocarpus dahuoaiensis1
Bản ảnh minh hoạ loài Dẻ đá đạ huoai. Ảnh Hoàng Văn Sơn et al.

Dẻ Đá Đạ Huoai là cây gỗ lớn (30-35m) trong kiểu rừng kín thường xanh, có giá trị kinh tế, hạt có thể ăn hoặc làm thức ăn gia súc. 

Loài dẻ này có đặc điểm hình thái gần giống với loài Lithocarpus macphailii (M.R.Hend.) Barnett và loài Lithocarpus encleisocarpus (Korth.) A. Camus nhưng khác ở các đặc điểm như đấu không bao trọn hạt (chỉ khoảng ½ - 2/3 hạt), kích thước lá lớn hơn, đặc điểm hình thái của lá, số cặp gân thứ cấp, hình thái quả đấu,….
Lithocarpus dahuoaiensis2
Bản vẽ minh hoạ loài Dẻ đá đạ huoai. Ảnh Hoàng Văn Sơn et al.

Trạng thái bảo tồn của loài này được đánh giá là thiếu dữ liệu (Data deficient – DD), nhóm nghiên cứu mới chỉ phát hiện một vài cá thể dọc theo quốc lộ 20, đoạn qua huyện Đạ Huoai và trong khu bảo tồn thiên nhiên văn hoá Đồng Nai,cần phải có những nghiên cứu tiếp theo để xác định chính xác kích thước quần thể của loài ở ngoài tự nhiên để có các biện pháp bảo tồn phù hợp.

Loài mới được mô tả và công bố trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, chi tiết tại: http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=9821

Nguyễn Văn Ngọc - Khoa Sinh Học, Trường Đại học Đà Lạt

Hoàng Thanh Sơn - Viện Nghiên cứu Lâm Sinh, Hà Nội

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015

Có thể bảo tồn các loài động vật nguy cấp không?

Threatened-Species_AZE
Các hành động bảo tồn phải được tiến hành ngay lập tức và cần một khoản chi phí ước tính 1,3 triệu đô la Mỹ cho mỗi loài sẽ làm tăng đáng kể cơ hội sống sót cho các loài động vật có xương sống đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng.


Gần đây, một bài báo công bố trên tạp chí Current Biology đã kết luận rằng một tập hợp nhỏ các loài động vật có xương sống đang bị đe dọa có thể được bảo vệ, nhưng chỉ khi các nỗ lực bảo tồn phải được thực hiện ngay lập tức và với vốn đầu tư ước tính khoảng 1,3 triệu đô la Mỹ cho mỗi loài trong mỗi năm để đảm bảo quản lý và bảo vệ môi trường sống của các loài đó.

Các nhà nghiên cứu đã phát triển ra một "chỉ số cơ hội bảo tồn" (conservation opportunity index) sử dụng các chỉ số đo lường được để định lượng khả năng bảo tồn thành công đạt được của một loài, cả trong môi trường sống tự nhiên của nó và bằng cách thiết lập các quần thể bảo đảm trong các vườn thú. Họ đã tính toán chi phí, và cơ hội bảo tồn cho 841 loài động vật có vú, bò sát, chim và động vật lưỡng cư được liệt kê bởi Alliance for Zero Extinction (AZE; www.zeroextinction.org), bao gồm các loài có giới hạn phân bố duy nhất một điểm và các hạng mục như là Nguy cấp hoặc Cực kỳ nguy cấp dựa trên Danh lục đỏ IUCN về các loài bị đe dọa toàn cầu.

Ho-Panthera-tigris-altaica

 Hổ Siberi Panthera tigris altaica, loài đang được xếp vào tình trạng Nguy cấp của IUCN.
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%95_Siberi 

"Các điểm AZE được cho là những nơi hơn nhất không thể thay thế cho các khu vực bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng," Tiến sĩ A. Dalia Conde, tác giả chính của bài báo và là trợ lý giáo sư tại Trung tâm Odense Max-Planck, Đại học Nam Đan Mạch cho biết. "Những đánh giá cơ hội bảo tồn đã cho chúng ta thấy tính cấp bách của việc thực hiện các hành động quản lý trước khi quá muộn. Nó là khẩn thiết để xác định hợp lý các hoạt động bảo tồn đối với các loài, những loài mà chúng tôi đã thấy chúng có cơ hội bảo tồn thành công thấp nhất trong môi trường sống tự nhiên và vườn thú."

Trong khi nghiên cứu chỉ ra rằng 39% các loài có chỉ số cơ hội bảo tồn cao, thì cũng cho thấy ít nhất 15 loài AZE sắp có nguy cơ tuyệt chủng dựa trên chỉ số cơ hội bảo tồn thấp của chúng. Chỉ số thấp này là do một hoặc kết hợp của các yếu tố khác nhau như: khả năng đô thị hoá môi trường sống tự nhiên của chúng ngày càng cao, sự bất ổn chính trị trong các khu vực và/hoặc chi phí bảo vệ và quản lý môi trường sống cao. Ngoài ra, cơ hội thiết lập một quần thể đảm bảo trong các vườn thú cho 15 loài đó là thấp, hoặc là do chi phí cao hoặc thiếu chuyên môn về nhân nuôi các loài đó.

Ước tính tổng chi phí để bảo tồn 841 loài động vật có xương sống đó trong môi trường sống tự nhiên của chúng đã được tính toán là khoảng hơn 1 tỷ USD mỗi năm. Các chi phí hàng năm cho quản lý bổ sung trong các vườn thú là 160 triệu USD.
"Mặc dù chi phí có vẻ cao, nhưng việc bảo vệ những loài này là điều cần thiết nếu chúng ta muốn giảm tỷ lệ tuyệt chủng vào năm 2020," Giáo sư Hugh Possingham từ Đại học Queensland cho biết. "Khi so sánh với chi tiêu của các chính phủ trên toàn cầu về các lĩnh vực khác (ví dụ như nhỏ hơn 500 lần so với chi tiêu quốc phòng của Mỹ) thì khoản đầu tư này trong việc bảo vệ các điểm có giá trị đa dạng sinh học cao là nhỏ."

Các nhóm nghiên cứu đa ngành được dẫn đầu bởi Tiến sĩ A. Dalia Conde và Giáo sư John E. Fa từ Imperial College London (trước đây làm ở Durrell Wildlife Conservation Trust) và các nhà khoa học từ Trung tâm Odense Max-Planck tại Đại học Nam Đan Mạch, Đại học Queensland, Đại học Texas A&M, American Bird Conservancy, Nhóm Chuyên gia Bảo tồn Giống IUCN SSC (Conservation Breeding Specialist Group), Hệ thống Thông tin Loài Quốc tế (International Species Information System), và Hiệp hội Vườn thú và Bể nuôi Thế giới (World Association of Zoos and Aquariums - WAZA).
Giáo sư John E. Pa cho biết, "Nỗ lực của chúng tôi mang lại cho chúng ta hy vọng bảo tồn được nhiều loài bị đe doạ cao khỏi sự tuyệt chủng, nhưng các hành động cần được thực hiện ngay lập tức, và đối với những loài bị giới hạn ở một vị trí thì một cách bảo tồn tích hợp tiếp cận là cần thiết."

Bài báo đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tích hợp bảo vệ những nơi các loài cụ thể sống với các chương trình bảo đảm quần thể ở vườn thú bổ sung. Theo Tiến sĩ Onnie Byers, Chủ tịch Nhóm Chuyên gia Bảo tồn Giống IUCN SSC, "Câu hỏi đặt ra không phải là bảo vệ một loài trong trong tự nhiên hoặc vườn thú. Cách tiếp cận One Plan -. Kế hoạch tích hợp hiệu quả và việc sử dụng tối ưu các giới hạn tài nguyên, thông qua chuỗi quản lý từ tự nhiên đến sở thú - là điều cần thiết nếu chúng ta muốn có một hy vọng đạt được các mục tiêu Aichi Biodiversity Targets (Công ước Đa dạng Sinh học)".

Tiến sĩ Nate Flesness, Giám đốc Khoa học Hệ thống Thông tin Loài Quốc tế nhấn mạnh: "Chúng tôi muốn cảm ơn hơn 800 vườn thú ở 87 quốc gia đã đóng góp dữ liệu động vật và sưu tập cho Hệ thống Thông tin Loài Quốc tế, nơi mà các dữ liệu toàn cầu được thu thập cho phép nghiên cứu chiến lược bảo tồn như thế này. "

Tiến sĩ Markus Gusset ở Hiệp hội Vườn thú và Bể nuôi Thế giới thêm rằng "Những hành động bảo vệ môi trường sống để thành lập các quần thể bảo đảm trong các vườn thú là cần thiết nếu chúng ta muốn tăng cơ hội sống sót của loài."

Theo WAZA (http://www.waza.org/) / Dịch bởi nhóm BIODIVN (http://www.biodivn.com/)

Tài liệu tham khảo: Dalia A. Conde, Fernando Colchero, Burak Güneralp, Markus Gusset, Ben Skolnik, Michael Parr, Onnie Byers, Kevin Johnson, Glyn Young, Nate Flesness, Hugh Possingham & John E. Fa (2015) Opportunities and costs for preventing vertebrate extinctions. Current Biology 25(6): R219-R221.

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Loài Ngọc lan mới cho khoa học Magnolia tiepii ở Khánh Hoà


Ngoc-lan-tiep-Magnolia-tiepii-1

Một trong những kết quả đạt được của Đề tài TN3/T14 “Điều tra, sàng lọc nguồn tài nguyên dược liệu thực vật tỉnh Lâm Đồng theo định hướng hoạt tính sinh học nhằm phát triển các loài có giá trị cao”
bắt đầu thực hiện từ tháng 11/2012 đến nay là phát hiện một loài thực vật mới và được đặt tên là Ngọc lan tiếp Magnolia tiepii


Đây là loài mới cho khoa học được mô tả bởi các nhà thực vật Việt Nam thuộc Viện nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên, Đại học Đà Lạt, và Vườn thực vật Nam Trung Hoa và công bố trên tạp chí Nordic Journal of Botany.

Ngoc-lan-tiep-Magnolia-tiepii
Bản ảnh loài Ngọc lan tiếp Magnolia tiepii (Hình Nông Văn Duy và Trần Văn Tiến; theo http://taynguyen3.vast.vn/)

Theo TS. Nông Văn Duy và TS. Trần Văn Tiến thì loài Ngọc lan này phân bố ở khu vực rừng núi đất cây lá rộng có độ cao tầm 700-800 m so với mặt biển ở Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà. Chúng được đặt tên vinh danh GS. Nông Văn Tiếp vì những đóng góp của ông cho nghiên cứu họ Ngọc lan ở Việt Nam. Tên địa phương gọi loài này là Giổi lá to

Ngọc lan tiếp là loài cây gỗ nhỡ cao đến 20 m và đường kính thân tầm 50 cm. Lá trưởng thành dài đến 70 cm, rộng đến 30 cm. Chúng ra hoa ở đầu cành, có màu trắng - vàng nhạt, xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 Dương lịch.

Vùng phân bố của loài mới này rất hạn hẹp, ước chừng nhỏ hơn 100 km2, do đó chúng được đề nghị ở tình trạng bảo tồn là Critically Endangered (CR - Nguy cấp) theo tiêu chuẩn của IUCN quốc tế.

Ngoc-lan-lam-dong-Magnolia-lamdongensis
Bản ảnh loài Ngọc lan lâm đồng Magnolia lamdongensis (Hình Nông Văn Duy và Trần Văn Tiến; theo http://taynguyen3.vast.vn/)

Ngoài loài mới Ngọc lan tiếp Magnolia tiepii này ra, nhóm nghiên cứu còn phát hiện thêm một loài mới khác là Ngọc lan lâm đồng Magnolia lamdongensis và được chấp nhận công bố trên tạp chí Adansonia. Những thông tin chi tiết về loài Ngọc lan lâm đồng sẽ được biodivn.com cập nhật trong thời gian sớm nhất. 

Biên tập: Phạm Văn Thế

Magnolia tiepii sp. nov. from Vietnam

Published online: 4 February 2015
Duy Nong Van, Phan Nguyen Huu Toan, Van Tien Tran, Van Dung Luong, Nianhe Xia

A new species of Magnolia sect. Gwillimia DC., Magnoliaceae from Vietnam is described and illustrated. Magnolia tiepii is recognized from southern Vietnam, where it occurs in Khanh Vinh slope, Khanh Vinh District, Khanh Hoa Province. It is distinguished from the closely related M. henryi by having narrowly cuneate leaf blade, short petiole, stipular scar at the base of the leaf blade, short peduncle and ellipsoid fruit.


Doi: 10.1111/njb.00540; http://www.nordicjbotany.org/article/magnolia-tiepii-sp-nov-vietnam