Thứ Hai, 30 tháng 3, 2015

Trả lại tên cho Mỡ, Vàng tâm

Magnolia-conifera_Vang_tam_credit_Bruce_Rutherford
Gần đây có nhiều tranh luận về tên các loài cây Mỡ và Vàng tâm, và đã có nhiều chuyên gia về phân loại thực vật lên tiếng về tên khoa học chính xác của chúng.
Tuy nhiên, không ít người vẫn còn nhầm lẫn, thậm chí trang Từ điển Bách khoa trực tuyến mở Wikipedia cũng chưa rõ ràng về các loài cây này. Vậy để làm rõ hơn, xin mời quý vị độc giả đọc chi tiết những thông tin được cung cấp dưới đây.


Những loài Cây cảnh, Bóng mát nào nên trồng ở đường phố Hà Nội

Trong bài này, tên tiếng Việt được trích dẫn từ cuốn sách Cây Cỏ Việt Nam (CCVN) của GS. Phạm Hoàng Hộ, Sách Đỏ Việt Nam 2007 (SĐVN) và dựa trên lý lịch mẫu được lưu tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. Tất cả các tên khoa học đã được chấp nhận bởi Vườn Thực vật Hoàng gia Anh và Vườn Thực vật Mít-xu-ri Hoa Kỳ đăng tải trên trang ‘The Plantlist’.

- Vàng tâm [1]: Magnolia conifera (Dandy) V.S.Kumar [2, 9]
                Tên đồng nghĩa:  Magnolia conifera var. conifera
                                       Manglietia conifera Dandy
       
           Tình trạng bảo tồn: Danh lục đỏ quốc tế mức LC (Ít lo ngại) [6]

vang-tam-Magnolia-conifera-type

vang-tam-Magnolia-conifera-type2
Ảnh mẫu tiêu bản chuẩn (Holotype) và lý lịch loài Vàng tâm Magnolia conifera (Ảnh MNHN)

Theo tìm hiểu của tác giả thì tên gọi ‘Vàng tâm’ trong nhân dân chính là loài này và có tên khoa học là Magnolia conifera. Tên tiếng Việt ‘Vàng tâm’ này đã được nhắc đến trong cuốn sách của GS. Phạm Hoàng Hộ. Và quan trọng hơn nó được ghi rõ ràng trong lý lịch tiêu bản mẫu chuẩn (Holotype) của loài được thu bởi F. Fleury ngày 2 tháng 6 năm 1918 tại Ba Vì, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội). Mẫu này mang số hiệu của người thu mẫu là 37817, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204406 và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. F. Fleury cũng ghi rõ tên địa phương chúng được gọi là ‘hông hit’. Ban đầu mẫu này được định loại nhầm là Manglietia glauca (nay tên này trở thành tên đồng nghĩa của loài Magnolia sumatrana var. glauca). Nhưng H.P. Nooteboom năm 1987 đã định loại chúng chính là loài Manglietia conifera, và được xác nhận lại bởi Chen Bao Liang vào năm 1991. 

Đây là loài mọc tự nhiên ở Việt Nam (Lào Cai, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Bình Định, Hà Nội (Ba Vì)) [1, 6], và Trung Quốc [1, 5, 6]. Chúng được xếp vào nhóm cây trang trí, làm thuốc và lấy gỗ đóng đồ gia dụng [5, 6]. Như vậy trải qua gần thế kỷ, tên gọi ‘Vàng tâm’ vẫn đúng với loài Magnolia conifera.

- Dạ hợp dandy [1], Vàng tâm (4): Magnolia dandyi Gagnep. [3, 9]
                   Tên đồng nghĩa: Magnolia megaphylla (Hu & W.C.Cheng) V.S.Kumar
                                        Manglietia dandyi (Gagnep.) Dandy
                                        Manglietia megaphylla Hu & W.C.Cheng
                                        Manglietia sinoconifera F.N.Wei

          Tình trạng bảo tồn: Danh lục đỏ quốc tế mức LC (Ít lo ngại) [7]; Sách đỏ Việt Nam 2007 mức VU (Sẽ nguy cấp) [4].

vang-tam-Magnolia-dandyi
Ảnh mẫu tiêu bản chuẩn (Holotype) loài Dạ hợp dandy Magnolia dandyi (Ảnh MNHN)

Loài Magnolia dandyi này trong SĐVN gọi là ‘Vàng tâm’, còn trong CCVN gọi là ‘Dạ hợp dandy’. Mẫu chuẩn (Holotype) loài này được thu bởi E. Poilane tại Luang Prabang, Lào ngày 4 tháng 4 năm 1932. Mẫu này mang số hiệu của người thu mẫu là 20714, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204418 và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. Chúng được định loại là Manglietia dandyi bởi GS. Nông Văn Tiếp năm 1978 và được xác nhận lại bởi Chen Bao Liang năm 1990. Rất tiếc, mẫu này không phải thu tại Việt Nam nên không có tên tiếng Việt đi kèm. 

Loài này có mọc tự nhiên ở Việt Nam (Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh (Đầm Hà), Thanh Hoá, Nghệ An (Quỳ Châu), Quảng Bình (Ba Rền)) [4], Trung Quốc [1, 5, 7]; và Lào [5,7]. Theo Danh lục đỏ của IUCN quốc tế (IUCN) thì loài Vàng tâm này được dùng làm nắp sáo diều ở Việt Nam [7] (khu vực Hà Tây cũ – tác giả). Chúng được xếp vào nhóm cây trang trí, lấy gỗ dùng trong xây dựng, đóng đồ gia dụng và làm củi [5, 7].

- Mỡ phú thọ [1]: Magnolia chevalieri (Dandy) V.S.Kumar [2, 9]
                  Tên đồng nghĩa: Magnolia phuthoensis (Dandy ex Gagnep.) V.S. Kumar
                                     Manglietia chevalieri Dandy
                                     Manglietia phuthoensis Dandy ex Gagnep.

        Tình trạng bảo tồn: Danh lục đỏ quốc tế mức DD (Thiếu dẫn liệu) [8]

Mo-Magnolia-chevalieri-type
Ảnh mẫu tiêu bản chuẩn (Holotype) loài Mỡ Magnolia chevalieri (Ảnh MNHN)

Loài ‘Mỡ’ này có tên khoa học là Magnolia chevalieri, trong CCVN gọi là ‘Mỡ phú thọ’. Mẫu chuẩn (Holotype) loài này được thu bởi A.J.B. Chevalier tại Langbian (Lâm Đồng) ngày 30 tháng 4 năm 1919. Mẫu này mang số hiệu của người thu mẫu là 40404, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204394 và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. Ban đầu chúng được định loại nhầm là Manglietia glauca (nay tên này trở thành tên đồng nghĩa của loài Magnolia sumatrana var. glauca). Sau đó Chen Bao Liang vào năm 1991 đã định loại chúng chính là loài Manglietia chevalieri. Tuy nhiên lý lịch mẫu này không ghi tên gọi tiếng Việt.

Image-Mo-Magnolia-chevalieri-type-2

Image-Mo-Magnolia-chevalieri-type-3
Ảnh mẫu tiêu bản và lý lịch loài Mỡ với tên Manglietia phuthoensis

Một điều rất thú vị là trên một số tiêu bản mẫu được thu bởi “Service Forestier Tonkin” ngày 7 tháng 10 năm 1924 tại Phú Thọ, có số hiệu của người thu mẫu là 15, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204464, đã được ghi lại với tên tiếng Việt là “Mở”. Mẫu này ban đầu cũng được định loại nhầm là Manglietia glauca. Và chúng chính là mẫu mà Dandy định loại là Manglietia phuthoensis và còn ghi chữ “Typus” (Mẫu chuẩn) lên đó vào năm 1927 (nay trở thành tên đồng nghĩa của Magnolia chevalieri). Như vậy có thể khẳng định loài này được người dân địa phương gọi là Mỡ.

Đây là loài phân bố tự nhiên và cũng được trồng rộng rãi ở phía Bắc Việt Nam, ngoài ra còn có ở Lào; và Trung Quốc [8]. Chúng được xếp vào nhóm cây trang trí, lấy gỗ dùng trong xây dựng, và đóng đồ gia dụng [5, 8]. Ngoài ra chúng cũng được trồng ở đường phố và vườn cây do có thời gian ra hoa dài [8]. 

Một khía cạnh khác, theo một số chuyên gia thì những cây Mỡ trồng ở phía Bắc đã và đang được gọi nhầm tên khoa học là Magnolia conifera (Vàng tâm) trong khi tên thật của chúng là Magnolia chevalieri. Việc nhầm lẫn này có thể dẫn đến áp dụng những quy trình nhân giống và chăm sóc, xác định giá trị thương phẩm gỗ của loài Vàng tâm cho loài Mỡ.

Qua những dẫn liệu ở trên thì có thể thấy được Vàng tâm gồm hai loài có tên khoa học là: Magnolia conifera và Magnolia dandyi, còn Mỡ là loài có tên khoa học là Magnolia chevalieri

Phạm Văn Thế (Phòng Tài nguyên Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật) 
Theo NGƯỜI ĐÔ THỊ Online

Tài liệu tham khảo:
1. Phạm Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam – An Illustrated Flora of Vietnam, 1999. Tập 1: 230-232. NXB Trẻ
2. Kew Bull. 61: 183, 2006.
3. Flore Générale de l'Indo-Chine [P.H. Lecomte et al.] Suppl.: 38 (1938), gallice; et in Humbert, Not. Syst. viii. 63 (1939), latine.
4. Sách đỏ Việt Nam - Phần II.Thực vật: tr.270-271, 2007. NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ
5. Flora of China, Vol. 7: 50-60 
6. Khela, S. 2014. Magnolia conifera. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2014.3. <www.iucnredlist.org>. Downloaded on 28 March 2015.
7. Rivers, M.C. & Wheeler, L. 2014. Magnolia dandyi. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2014.3. <www.iucnredlist.org>. Downloaded on 28 March 2015.
8. Rivers, M.C., Wheeler, L. & Khela, S. 2014. Magnolia chevalieri. The IUCN Red List of Threatened Species. Version 2014.3. <www.iucnredlist.org>. Downloaded on 28 March 2015.
9. The Plantlist, Royal Botanic Gardens, Kew and Missouri Botanical Garden <http://www.theplantlist.org>. Downloaded on 28 March 2015.

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

Một loài Cóc mới từ Lang Bian, Lâm Đồng


Nhóm các nhà khoa học Nga và Úc vừa công bố một loài Cóc mới cho khoa học từ Lộc Bắc, khu vực phía Tây cao nguyên Lang Bian, Lâm Đồng, Việt Nam. Kết quả được công bố trên tạp chí chuyên ngành Zootaxa, số 3931(2): 221-252.

Loài Cóc mày mắt cam, Leptolalax pyrrhops Poyarkov et al., 2015 từ Lâm Đồng, Việt Nam

Loài Cóc mới, Leptolalax pyrrhops Poyarkov et al., 2015 thuộc giống Leptolalax, họ Megophryidae, bộ không đuôi (Anura), và được đặt tên Việt Nam: Cóc mày mắt cam.  Loài mới chỉ ghi nhận phân bố ở khu vực rừng thường xanh núi cao từ 800-1000m và được xem là loài phân bố duy nhất phân bố ở phía nam Việt Nam trong giống Leptolalax. Nhóm các nhà khoa học cũng khuyến nghị xếp hạng loài ở mức DD của Danh lục đỏ của IUCN.
Giống Leptolalax với 43 loài, phân bố rộng ở khu vực Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam.

Nguồn: http://dx.doi.org/10.11646/zootaxa.3931.2.3
Biên tập: Đức Anh



Những loài Cây cảnh, Bóng mát nào nên trồng ở đường phố?

cay-xanh-do-thi
Việt Nam có một hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng với hơn 14 nghìn loài đã được biết đến, đưa nước ta trở thành một trong những điểm nóng đa dạng sinh học của thế giới. Đó là một lợi thế mà cha ông ta đã biết tận dụng và thuần hoá những loài cây hoang dại để tạo lên một hệ thống cây cảnh, bóng mát có giá trị thẩm mỹ cao như ngày nay.


Những loài cây đó đã được chọn lọc và lai tạo để trồng trên các đường phố, công viên, khu đô thị phù hợp với các tiêu chí như tạo cảnh quan, cải tạo khí hậu, vệ sinh môi trường, chống nóng, không gây độc hại, nguy hiểm cho khách bộ hành, an toàn cho giao thông và không ảnh hưởng tới các công trình hạ tầng đô thị (đường dây, đường ống, kết cấu vỉa hè mặt đường). Chúng có khả năng chịu được các điều kiện khí hậu khắc nghiệt, dẻo dai, tuổi thọ cao, ít sâu bệnh, có dáng vóc và hoa đẹp biểu hiện đặc trưng của các mùa …

Trong hệ thống cây cảnh bóng mát đồ sộ của Việt Nam, những loài dưới đây mang nhiều đặc điểm vượt trội hơn cả và được các nhà khoa học khuyến khích nên trồng ở các đường phố, khu đô thị. Tuỳ từng điều kiện cụ thể mà từng vùng có thể chọn một số loài cho riêng mình.

Thong-Pinus
Ảnh minh hoạ môt loài Thông (Hạt trần) mọc tự nhiên ở Bắc Kạn (Ảnh Phạm Văn Thế)

1. Bằng lăng (Lagerstroemia) có khả năng chịu hạn, chống chịu gió bão và có hoa đẹp với nhiều màu sắc. Các loài được trồng phổ biến như: 

+ Bằng lăng tím (Lagerstroemia speciosa (L.) Pers.); 
+ Tường vi (L. indica L.) hoa màu tím hay hồng; 
+ Bằng lăng xoan (L. ovalifolia Teijm & Binn.) hoa màu tím; và 
+ Bằng lăng trung (L. lecomtei Gagnep.) hoa lớn màu hồng tím đậm. 

2. Cọ (Livistona) có dáng đẹp, dẻo dai chống chịu gió bão tốt như:

+ Cọ bầu (Livistona saribus (Lour.) Merr. ex A.Chev.); 
+ Cọ xẻ hay kè (L. chinensis (Jacq.) R.Br. ex Mart.); và 
+ Cọ Hạ Long (L. halongensis T.H.Nguyên & Kiew). 

3. Móng bò (Bauhinia) hoa đa dạng màu như hồng, trắng, tím hay vàng. Hiện nay có một số loài đang được trồng như: 

+ Móng bò hồng: (Bauhinia monandra Kurz); 
+ Móng bò sọc (hoa ban) (B.variegata L.); 
+ Móng bò hoa trắng (B. acuminata L.); 
+ Móng bò tím (B. purpurea L.); và 
+ Móng bò vàng (B. tomentosa L.) 

4. Lim xẹt (Peltophorum) hoa có màu vàng và bền, tán lá đẹp. Gồm có: 

+ Hoàng linh Bắc bộ (Peltophorum dasyrrhachis var. tonkinense (Pierre) K.Larsen & S.S.Larsen); 
+ Lim vàng (P. dasyrrhachis (Miq.) Kurz); và 
+ Lim xẹt (P. pterocarpum (DC.) K.Heyne).

5. Kim giao (Nageia fleuryi (Hickel) De Laub.) có tán cành và thân đẹp và tuổi thọ cao. 

6. Lộc vừng (Barringtonia acutangula (L.) Gaertn.) có sức sống khoẻ, thân dẻo dai. 

7. Muồng đen (Senna siamea (Lam.) H.S.Irwin & Barneby) có tán là tròn, tạo bóng râm tốt, lá gần như xanh quanh năm, hoa đẹp. 

8. Muồng (Cassia) có hoa màu hồng hay vàng, tán lá đẹp được trồng ở nhiều thành phố lớn. Chúng bao gồm ba loài là: 

+ Muồng hoa đào (Cassia agnes (de Wit) Brenan); 
+ Bò cạp hường (C. javanica subsp. nodosa (Roxb.) K.Larsen & S.S.Larsen); và 
+ Muồng hoàng yến (C. fistula L.) 

Ngoài ra, với tiềm năng vô cùng lớn từ rừng tự nhiên, chúng ta có thể tuyển chọn và thuần hoá những loài cây cảnh và bóng mát có vóc dáng đẹp và sống lâu như các loài thuộc họ Cau dừa (Palmae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Tre (Bambusoideae), họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Côm (Elaeocarpaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), và nhóm Hạt trần.

Dau-Dipterocarpus
Ảnh minh hoạ một loài Dầu (họ Dipterocarpaceae) mọc tự nhiên ở Tây Nguyên (Ảnh Phạm Văn Thế)
Việc trồng các loài cây cảnh bóng mát ở đường phố không chỉ đáp ứng nhu cầu và mục đích của địa phương mà còn có thể trở thành biểu tượng đặc trưng cho từng vùng, thành phố hoặc của quôc gia.

Biên tập: Phạm Văn Thế
Tài liệu tham khảo: Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Hệ thống phân loại và đa dạng các loài Động vật

Da-dang-dong-vat-Animals-diversity

Công bố gần đây nhất cho thấy khoảng 1.552.319 loài động vật thuộc 40 ngành đã được phát hiện. Trong số đó, ngành Động vật chân khớp – Arthropoda chiếm số lượng lớn nhất với 1.242.040 loài (khoảng 80% tổng số), với các lớp Côn trùng – Insecta (1.020.007 loài – chiếm 66% tổng số loài),
lớp Hình nhện – Arachnida (112.201 loài), lớp Giáp xác – Crustacea (66.914 loài), Lớp Ba thùy – Trilobitomorpha (19.606 loài) và lớp Nhiều chân (11.885 loài).



Ngành Thân mềm – Mollusca đã phát hiện đươc 117.358 loài, nhiều gấp 3 lần so với ngành Giun dẹp – Platyhelminthes (29.285 loài), gấp 4-5 lần so với các ngành Giun tròn – Nematoda (24.783 loài), Echinodermata (20.509 loài), Giun đốt – Annelida (17.210 loài) và Bryozoa (10.941 loài). 



Ngành Craniata (gồm cả động vật có xương sống) đã ghi nhận được 64.832 loài, trong đó, có 7.694 loài lượng cư, 31.958 loài cá và 5.750 loài thú. 

Hệ thống phân loại và mức độ đa dạng loài được thể hiện trong bảng sau.


Số tt
Tên Khoa học
Tên Việt Nam
Số loài hiện biết (cả hóa thạch)
Số loài hóa thạch

Animalia Linnaeus, 1758
Giới Động vật
1,552,319
24,659

Ctenophora Eschscholtz, 1829
Ngành Sứa lược
242


Porifera Grant, 1826
Ngành Động vật thân lỗ
8,346


Placozoa Grell, 1971
Ngành Động vật hình tấm
1


Cnidaria Hatschek, 1888
Ngành Động vật có tế bào gai
10,105


Myxozoa Grassé, 1970 
Ngành Động vật nguyên mảnh
2,402


Xenoturbellida Westblad, 1949
Ngành Giun bùn
2


Acoelomorpha Ehlers,   1985
Ngành Động vật không xoang
393


Orthonectida Giard, 1877

43


Rhombozoa van Beneden, 1876

123


Cephalochordata Owen, 1846
Ngành Đầu sống
33


Tunicata Lamarck, 1816
Ngành Có bao
2,792


Craniata Linnaeus, 1758
Ngành Có họp sọ
64,832


Echinodermata
Ngành Da gai
20,509
13,000

Hemichordata Bateson, 1885
Ngành Động vật nửa dây sống
120


Chaetognatha Leuckart 1854
Ngành Hàm tơ
186
7

Nematoda Cobb, 1932 
Ngành Giun tròn
24,783
10

Nematomorpha Vejdovsky, 1886
Ngành Giun cước
351


Tardigrada Doyère, 1840
Ngành Động vật đi chậm
1,157


Onychophora Grube, 1853
Ngành Có móc
182
3

Arthropoda von Siebold, 1848
Ngành Chân khớp
1,242,040
6,182

Priapulida Théel, 1906
Ngành Giun có móc có đầu tròn
19


Loricifera Kristensen, 1983
Ngành Động vật có lớp áo
30


Kinorhyncha Reinhard, 1881

179


Bryozoa Ehrenberg, 1831
Ngành Động vật hình rêu
10,941
5,455

Entoprocta Nitsche 1869

169


Cycliophora Funch & Kristensen, 1995

2


Sipuncula Rafinesque,   1814

1,507


Mollusca Linnaeus, 1758
Ngành Thân mềm
117,358


Nemertea Schultze, 1851
Ngành Giun vòi
1,200


Brachiopoda Duméril,   1806
Ngành Tay cuốn
443


Phoronida Hatschek, 1888
Ngành Giun hình móng ngựa
10


Nguồn: http://www.mapress.com/zootaxa/list/2011/3148.html
http://www.mapress.com/zootaxa/2011/f/zt03148p012.pdf

Biên tập: Đức Anh