Hiển thị các bài đăng có nhãn BSEN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BSEN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Hai loài ếch ở Tây Bắc mới cho Việt Nam

Ech-suoi-Babina lini-credit-Le-Trung-Dung
 Các nhà khoa học Việt Nam và Đức đã phát hiện và công bố hai loài ếch nhái mới cho khu hệ lưỡng cư bò sát của Việt Nam trên tạp chí Russian Journal of Herpetology số 21 (tháng 12 năm 2014) dựa trên mẫu vật thu thập ở tỉnh Điện Biên (Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé) và Sơn La (Khu Bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp và Copia), Tây Bắc Việt Nam. Hai loài ếch nhái này có tên khoa học là Babina lini (Chou, 1999) và Hylarana menglaensis Fei, Ye et Xie, 2008. Cả hai loài được ghi nhận sống ở các vực suối chảy chậm và ở độ cao 1000-1600m so với mực nước biển.


1. Ếch suối lin Babina lini (Ảnh trên) trước đây đã được ghi nhận ở nhiều nước như Trung Quốc, Lào và Thái Lan. Mẫu vật của loài tại Việt Nam có kích thước 49,8 – 59,5 mm ở con đực và 55,1 – 60,8 mm ở con cái. Lưng màu nâu sẫm với sọc sáng hẹp ở giữa và hai sọc sáng rộng hơn ở rìa ngoài. Hai bên sườn có nếp gấp lớn, mịn, màu vàng nhạt. Tiếng kêu của loài chỉ được ghi nhận vào buổi tối đêm.

2. Ếch bám đá mường la Hylarana menglaensis là loài đặc hữu của Trung Quốc, trước đây chỉ được ghi nhận tại tỉnh Yunan, phía Đông Nam Trung Quốc. Loài trước đây có thể được ghi nhận nhầm lẫn với loài Ếch suối Hylarana nigrovittata có khu phân bố rộng ở Việt Nam. Cá thể cái của loài có kích thước 44,1 – 49,3 mm lớn hơn cá thể đực 38,9 – 44,9 mm, mặt trên của đầu và thân màu nâu xám với nhiều đốm đen nhỏ, hai bên sườn có các đốm đen lớn hơn. Tiếng kêu của loài được ghi nhận vào cả ngày và đêm.

Ech-bam-da-Hylarana-menglaensis
Ếch bám đá mường la Hylarana menglaensis – Ảnh: Lê Trung Dũng

Các công trình công bố gần đây của nhóm các nhà khoa học cho thấy mối quan hệ gần gũi về khu hệ lưỡng cư giữa các khu vực rừng núi của Tây Bắc Việt Nam, Đông Bắc Lào và Đông Nam Trung Quốc. Cần phải có những nghiên cứu tiếp theo để xác minh thực tế của mối liên hệ này.

Lê Trung Dũng – Đại học sư phạm Hà Nội/Theo http://vncreatures.net/

Russian Journal of Herpetology Vol 21, No 4 (2014)

Babina lini (Chou, 1999) and Hylarana menglaensis Fei, Ye et Xie, 2008, Two Additional Anuran Species for the Herpetofauna of Vietnam

Dzung Trung Le, Anh Van Pham, Son Hung Lan Nguyen, Thomas Ziegler, Truong Quang Nguyen

Abstract
Two ranid species, Babina lini and Hylarana menglaensis, are recorded for the first time from Vietnam on the basis of a new amphibian collection from Dien Bien and Son La provinces. In addition, acoustic analyses of these species are also provided based on the advertisement calls recorded in Muong Nhe Nature Reserve of Dien Bien Province.

Keywords
Babina lini, Hylarana menglaensis, new records, advertisement calls, Dien Bien Province, Son La Province

Final version: http://rjh.folium.ru/index.php/rjh/article/view/911

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Ba loài ếch giun mới ở Việt Nam và Campuchia

Ichthyopis-catlocensis-credit-Geissler
Trong quá trình phân tích các đặc điểm hình thái và dẫn liệu phân tử các loài Ếch giun thuộc giống Ichthyophis Fitzinger, 1826, Tiến sỹ Nguyễn Quảng Trường cùng các đồng nghiệp người Đức, Nga đã phát hiện và công bố 3 loài mới cho khoa học. 

Loài Ếch giun cardamo Ichthyophis cardamomensis Geissler et al., 2014 được mô tả từ mẫu vật thu ở núi Cardamo, miền tây Cam-pu-chia. Loài có chiều dài từ 83-321,7 mm, gấp 23-37 lần chiều rộng trung bình. Cơ thể có mầu xám đen trên lưng, xám nhạt ở bụng đối với mẫu ngâm, và có màu nâu đỏ (nâu hạt dẻ) đối với mẫu sống. Xung quanh mắt có viền tròn hẹp màu trắng. Phía bên thân không có sọc vàng. Loài được tìm thấy ở rừng thường xanh từ độ cao 300-980m, gần suối nhỏ, chảy xiết. Loài được đề nghị xếp hạng DD theo tiêu chí của IUCN.

Ichthyophis-cardamomensis
Loài Ếch giun cardamo Ichthyophis cardamomensis. Ảnh Geissler et al., 2014

Loài Ếch giun cát lộc Ichthyophis catlocensis Geissler et al., 2014 được mô tả từ mẫu vật thu ở khu vực Cát Lộc, Lâm Đồng, Việt Nam. Loài có mầu sắc xám đỏ nhạt đối với mẫu ngâm, và xám đen đối với cá thể còn sống. Mắt có viền màu trắng. Phía bên thân không có sọc vàng. Loài được tìm thấy phía dưới hòn đá (đường kính 30cm) gần mép suối Sui Lan, rừng Cát Lộc. Loài được đề nghị xếp hạng DD theo tiêu chí của IUCN.

Ichthyopis-catlocensis
Loài Ếch giun cát lộc Ichthyophis catlocensis. Ảnh Geissler et al., 2014

Loài Ếch giun cha lo Ichthyophis chaloensis Geissler et al., 2014 được mô tả từ mẫu vật thu ở khu vực Cha Lo, Quảng Bình, Việt Nam. Loài có xám đen ở lưng và hơi nhạt dần ở bụng đối với mẫu ngâm, và nâu sẫm hạt dẻ ở lưng, nhạt hơn ở bụng đối với mẫu sống. Phía bên thân không có sọc vàng. Loài được tìm thấy bên dưới lớp lá rụng trên bờ suối. Loài được đề nghị xếp hạng DD theo tiêu chí của IUCN.

Ichthyophis-chaloensis
Loài Ếch giun cha lo Ichthyophis chaloensis. Ảnh Nguyễn Quảng Trường

Như vậy, tổng số đã có 11 loài ếch giun thuộc giống Ichthyophis đã được mô tả và ghi nhận trong khu vực Đông Nam Á lục địa. Các loài ếch giun giống Ichthyophis được thành hai nhóm dựa trên sự xuất hiện các vết sọc trên thân: nhóm có soc và nhóm không có sọc. Kết quả phân tích quan hệ phát sinh giữa hai nhóm dựa trên dẫn liệu phân tử và hình thái cho thấy nhóm không sọc có nguồn gốc đa phát sinh đối với nhóm có sọc.

Ếch giun giống Ichthyophis thuộc họ Ichthyopiidae, bộ Gymnophiona, lớp Lưỡng cư phân bố rộng ở khu vực Đông Nam Á, bao gồm phần lục địa, miền nam Philippine và miền đông quần đảo Indonesia-Australia. Hiện nay, đã ghi nhận được 51 loài ếch giun, trong đó có 2 loài (I. orthoplicatus và I. pseudangularis) xếp hạng VU, và 5 loài khác xếp hạng LC theo tiêu chí của IUCN.

Các loài mới này được công bố trên tạp chí Organisms Diversity and Evolution, 24/12/2014.
Nguyễn Đức Anh tổng hợp

Organisms Diversity & Evolution
Date: 24 Dec 2014

New Ichthyophis species from Indochina (Gymnophiona, Ichthyophiidae): 1. The unstriped forms with descriptions of three new species and the redescriptions of I. acuminatus Taylor, 1960, I. youngorum Taylor, 1960 and I. laosensisTaylor, 1969

Peter Geissler, Nikolay A. Poyarkov Jr., Lee Grismer, Truong Q. Nguyen, Hang T. An, Thy Neang, Alexander Kupfer, Thomas Ziegler, Wolfgang Böhme, Hendrik Müller

Abstract: Caecilians of the genus Ichthyophis Fitzinger, 1826 are among the most poorly known amphibian taxa within Southeast Asia. Populations of Ichthyophis from the Indochina region (comprising Cambodia, Laos, and Vietnam) have been assigned to five taxa: Ichthyophis acuminatus, Ichthyophis bannanicus, Ichthyophis kohtaoensis, Ichthyophis laosensis, and Ichthyophis nguyenorum. Barcoding of recently collected specimens indicates that Indochinese congeners form a clade that includes several morphologically and genetically distinct but yet undescribed species. Although body coloration is supported by the molecular analyses as a diagnostic character at species level, unstriped forms are paraphyletic with respect to striped Ichthyophis. Based on our morphological and molecular analyses, three distinct unstriped ichthyophiid species, Ichthyophis cardamomensis sp. nov. from western Cambodia, Ichthyophis catlocensis sp. nov. from southern Vietnam, and Ichthyophis chaloensis sp. nov. from central Vietnam are described as new herein, almost doubling the number of Ichthyophis species known from the Indochinese region. All three new species differ from their unstriped congeners in a combination of morphological and molecular traits. In addition, redescriptions of three unstriped Ichthyophis species (Ichthyophis acuminatus, I. laosensis, I. youngorum) from Indochina and adjacent Thailand are provided.

Final version could be found in: http://link.springer.com/article/10.1007/s13127-014-0190-6

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

Loài Nhái cây mới phát hiện ở Tây Nguyên

Ruồi bọ cạp và 'hôn nhân bạo lực'


Kurixalus-motokawai-credit_Nguyen_Matsui_Eto-2014
Các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản vừa công bố một loài nhái cây mới cho thế giới được phát hiện tại Tây Nguyên, Việt Nam.


Chúng thuộc giống Nhái cây Kurixalus được thu thập từ Kon Plông, Đắk Glei thuộc tỉnh Kon Tum, và K'Bang thuộc tỉnh Gia Lai. Việc mô tả dựa trên những phân tích phát sinh chủng loài sinh học phân tử và hình thái học. 

Loài mới Nhái cây mô tô ka wa được đặt tên là Kurixalus motokawai sp. nov. có hình thái khá giống với Nhái cây bà nà K. banaensis, nhưng trong trình tự DNA ty thể đã chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa chúng.

Tuy nhiên chúng thuộc nhóm cùng nhánh với nhau bao gồm loài Nhái cây mô tô ka wa mới này, Nhái cây bà nà, và Nhái cây xanh nhạt K. viridescens

Nhái cây mô tô ka wa khác với Nhái cây bà nà bởi đặc điểm kích thước cơ thể nhỏ hơn, tỷ lệ chiều dài chân so với chiều dài cơ thể cao hơn; khác với Nhái cây xanh nhạt ở đặc điểm con cái nhỏ hơn, lưng màu nâu và có những đốm đen. 

Công bố này vừa được tạp chí Russian Journal of Herpetology đăng tải trong tập 21(4), trang 295-302.

Russian Journal of Herpetology 21(4); 295-302.

A New Cryptic Tree Frog Species Allied to Kurixalus banaensis (Anura: Rhacophoridae) from Vietnam

Thien Tao Nguyen, Matsui Masafumi, Eto Koshiro

Abstract: A new species of the genus Kurixalus is described from the Central Highlands of Vietnam based on molecular phylogenetic and morphological analyses. Morphologically, Kurixalus motokawai sp. nov. is most similar to K. banaensis but they are clearly separated from each other in mitochondrial DNA sequences. In phylogenetic analysis the new species clustered in the same clade with Kurixalus banaensis and K. viridescens. However, the new species differs from K. banaensis by having a smaller body size, a higher ratio of forelimb length/SVL in both sexes, a smaller ratio of first toe length/SVL in males, snout tip less markedly pointed, and only weakly developed dermal appendages on the outer edges of fore- and hindlimbs. Kurixalus motokawai sp. nov. also differs from K. viridescens by having a smaller size in females and a brown dorsum with dark markings.

The origin version at: http://rjh.folium.ru/index.php/rjh/article/view/917

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Ghi nhận thêm hai loài lưỡng cư cho Việt Nam

Leptolalax-eos-credit-PhamVanAnh
Hai loài lưỡng cư là Cóc núi eos Leptolalax eos và Chàng đá Hylarana cubitalis ghi nhận mới cho Việt Nam được các nhà khoa học của Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tây Bắc và Vườn thú Cologne – Đức công bố trên tạp chí Russian Journal of Herpetology (Tập 21, số 3, 2014).

Loài Leptolalax eos có chiều dài thân 32,7–34,8 mm ở con đực và 40,1–45,5 mm; mặt trên đầu và lưng nổi các nốt sần nhỏ; màng nhĩ không rõ ràng; phần trên mống mắt màu cam, phần dưới màu vàng; lưng màu nâu – xám với hình tam giác màu nâu nhạt trên đầu; bụng màu trắng hoặc màu kem. Loài này được Ohler mô tả năm 2011 với mẫu chuẩn thu ở Bắc Lào.

Leptolalax-eos
Cóc mắt eos Leptolalax eos – Ảnh: Phạm Văn Anh

Loài Hylarana cubitalis có chiều dài thân 51,8–58,8 ở con đực và 60,4 mm ở con cái; chai sinh dục ở con đực phát triển ở gốc ngón tay và bên trong cánh tay; da ở lưng và mặt trên đầu nhẵn, nếp da lưng sườn rõ; phần trên màu nâu vàng; môi trên trắng; màng nhĩ màu nâu; sườn màu xám với các đốm đen; bụng trắng. Loài này trước kia phân bố ở Trung Quốc, Lào, Myanmar và Cambodia.

Hylarana-cubitalis
Chàng đá Hylarana cubitalis – Ảnh: Phạm Văn Anh 

Trong quá trình khảo sát thực địa các nhà nghiên cứu đã phát hiện hai loài này có ở hai tỉnh Sơn La và Điện Biên thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, một khu vực cách Vườn Quốc gia Hoàng Liên (một trung tâm của đa dạng sinh học Việt Nam) không xa.
Phạm Văn Anh – Trường Đại học Tây Bắc; http://www.vncreatures.net/

Về bài công bố ghi nhận mới cho Việt Nam: Russian Journal of Herpetology, Vol 21, No 3 (2014)

First Records of Leptolalax eos Ohler, Wollenberg, Grosjean, Hendrix, Vences, Ziegler et Dubois, 2011 andHylarana cubitalis (Smith, 1917) (Anura: Megophryidae, Ranidae) from Vietnam

Anh Van Pham, Dzung Trung Le, Son Lan Hung Nguyen, Thomas Ziegler, Truong Quang Nguyen

Abstract: Two species of anurans are recorded for the first time from Vietnam: the megophryid Leptolalax eos from Dien Bien and Son La provinces and the ranid Hylarana cubitalis from Son La Province. These discoveries bring the total species number of amphibians to222 in Vietnam.

For more detail, please go http://rjh.folium.ru/index.php/rjh/article/view/862