Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Hai loài ếch ở Tây Bắc mới cho Việt Nam

Ech-suoi-Babina lini-credit-Le-Trung-Dung
 Các nhà khoa học Việt Nam và Đức đã phát hiện và công bố hai loài ếch nhái mới cho khu hệ lưỡng cư bò sát của Việt Nam trên tạp chí Russian Journal of Herpetology số 21 (tháng 12 năm 2014) dựa trên mẫu vật thu thập ở tỉnh Điện Biên (Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé) và Sơn La (Khu Bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp và Copia), Tây Bắc Việt Nam. Hai loài ếch nhái này có tên khoa học là Babina lini (Chou, 1999) và Hylarana menglaensis Fei, Ye et Xie, 2008. Cả hai loài được ghi nhận sống ở các vực suối chảy chậm và ở độ cao 1000-1600m so với mực nước biển.


1. Ếch suối lin Babina lini (Ảnh trên) trước đây đã được ghi nhận ở nhiều nước như Trung Quốc, Lào và Thái Lan. Mẫu vật của loài tại Việt Nam có kích thước 49,8 – 59,5 mm ở con đực và 55,1 – 60,8 mm ở con cái. Lưng màu nâu sẫm với sọc sáng hẹp ở giữa và hai sọc sáng rộng hơn ở rìa ngoài. Hai bên sườn có nếp gấp lớn, mịn, màu vàng nhạt. Tiếng kêu của loài chỉ được ghi nhận vào buổi tối đêm.

2. Ếch bám đá mường la Hylarana menglaensis là loài đặc hữu của Trung Quốc, trước đây chỉ được ghi nhận tại tỉnh Yunan, phía Đông Nam Trung Quốc. Loài trước đây có thể được ghi nhận nhầm lẫn với loài Ếch suối Hylarana nigrovittata có khu phân bố rộng ở Việt Nam. Cá thể cái của loài có kích thước 44,1 – 49,3 mm lớn hơn cá thể đực 38,9 – 44,9 mm, mặt trên của đầu và thân màu nâu xám với nhiều đốm đen nhỏ, hai bên sườn có các đốm đen lớn hơn. Tiếng kêu của loài được ghi nhận vào cả ngày và đêm.

Ech-bam-da-Hylarana-menglaensis
Ếch bám đá mường la Hylarana menglaensis – Ảnh: Lê Trung Dũng

Các công trình công bố gần đây của nhóm các nhà khoa học cho thấy mối quan hệ gần gũi về khu hệ lưỡng cư giữa các khu vực rừng núi của Tây Bắc Việt Nam, Đông Bắc Lào và Đông Nam Trung Quốc. Cần phải có những nghiên cứu tiếp theo để xác minh thực tế của mối liên hệ này.

Lê Trung Dũng – Đại học sư phạm Hà Nội/Theo http://vncreatures.net/

Russian Journal of Herpetology Vol 21, No 4 (2014)

Babina lini (Chou, 1999) and Hylarana menglaensis Fei, Ye et Xie, 2008, Two Additional Anuran Species for the Herpetofauna of Vietnam

Dzung Trung Le, Anh Van Pham, Son Hung Lan Nguyen, Thomas Ziegler, Truong Quang Nguyen

Abstract
Two ranid species, Babina lini and Hylarana menglaensis, are recorded for the first time from Vietnam on the basis of a new amphibian collection from Dien Bien and Son La provinces. In addition, acoustic analyses of these species are also provided based on the advertisement calls recorded in Muong Nhe Nature Reserve of Dien Bien Province.

Keywords
Babina lini, Hylarana menglaensis, new records, advertisement calls, Dien Bien Province, Son La Province

Final version: http://rjh.folium.ru/index.php/rjh/article/view/911

Chủ Nhật, 25 tháng 1, 2015

Học bổng Sinh học, Lâm, Nông nghiệp ở Châu Âu

Hoc-bong-Erasmus-Mundus-Lotus+
Học bổng trao đổi Cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ cho các ứng viên Việt Nam ngành Sinh học, Lâm nghiệp, Nông nghiệp và nhiều ngành khác tại các nước Châu Âu từ 1 tháng đến 3 năm.

Deadline

Start date: 3-November-2014 (00:00 CET)
End date: 1-March-2015 (23:59 CET)


General information

Welcome to the LOTUS+ project

The LOTUS+ project offers scholarships for nationals of Cambodia, China, Indonesia, Myanmar, North Korea, Thailand and Vietnam to study or do research at one of our European partner universities.

The following types of scholarships will be available:
  • Bachelor exchanges (1-2 semesters) - open only for students from our Asian partners
  • Master exchanges (1-2 semesters) - open to all students from the seven partner countries
  • Master degrees (1-2 years) - open to all students from the seven partner countries
  • PhD exchanges (6-10 months) - open to all PhD´s from the seven partner countries
  • PhD degrees (36 months) - open to all master degree holders from the seven partner countries
  • Post-doc exchanges (6 - 10 months) - open to all nationals of the seven partner countries
  • Staff exchanges (1 month) - open to staff members at universities from the seven partner countries (priority given to partner universities)
The scholarships are open to all academic fields (except music, arts and language studies). There is no age limit to apply.

The scholarships include the following:
  • Monthly stipend: 1000 € (bachelor/master), 1500 € (PhD´s), 1800 € (post-docs), 2500 € staff.
  • Travel to and from Europe
  • Comprehensive health insurance
  • Costs related to the scholarship: residence permit (visa), transport to and from airport etc.
  • Tuition fees: LOTUS+ grantees do not pay any tuition fees at the host university.

Guidelines for applicants

This document contains detailed information about the application procedure. We strongly advise you to read it before starting to fill in the Application Form.
Application Form Download

Eligibility Criteria

Asian applicants who want to participate in mobility to the EU:
  • Must be a national of one of Asian countries covered by the lot: China, Cambodia, Thailand, Myanmar, Vietnam, Indonesia and North Korea;
  • Must have not resided nor have carried out their main activity (studies, work, etc.) for more than a total of 12 months over the last five years in any of the eligible European countries at the time of submitting their application to the partnership. This rule does not apply to candidates in a vulnerable situation.
  • Must have sufficient knowledge of the language of the courses or of one of the languages currently spoken in the hosting countries. 
  • There are different categories of possible candidates. If your current situation is in accordance with the scenarios here below, then you are eligible to apply
          1. You are registered / enrolled in one of the partner universities in the project at the moment of application (October 2014 - January 2015):
  • Sichuan University (China): Management Co-coordinator
  • Royal University of Agriculture - Phnom Penh (Cambodia)
  • Royal University of Phnomh Penh (Cambodia)
  • Nanjing University (China)
  • Peking University (China)
  • University of Gadjah Mada (Indonesia)
  • Yezin Agriculture University (Myanmar)
  • Pyonyang University of Science and Technology (North Korea)
  • Thammasat University (Thailand)
  • Hanoi University of Science and Technology (Vietnam)
  • Hue University (Vietnam)
    2. You are registered in a university in Cambodia, China, Indonesia, Myanmar, Thailand or Vietnam at the moment of application (October 2014 - January 2015).
       3. You are already working AND you have a higher education degree from one of the 6 countries involved.
       4. You are currently unemployed, but you have a higher education degree from one of the 6 countries involved.

Please note that being disadvantaged (disabled students, economically disadvantaged,...), is not the same as being in a vulnerable situation.

For more information please see derect at: http://www.lotusplus.eu/

Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

5th International Forum on Green Technology and Management

International-Forum-on-Green-Technology-and-Management
Hội thảo Quốc tế về Môi trường Xanh cho Phát triển Bền vững “Green Environment for Sustainable Development” tại Đại học Huế, ngày 28-30, tháng 7, 2015

About IFGTM 2015

International Forum on Green Technology and Management (IFGTM) is an annual event initiated by Consortium for Green Technology Management and Research. The consortium consists of eleven members: School of Environmental Science and Technology, Ha Noi University of Science and Technology (INEST-HUST);
Faculty of Environment and Natural Resources, Ho Chi Minh City University of Technology (FE-HCMUT); Faculty of Environment, Da Nang University of Technology (FE-DUT); Institute for Environmental Science and Engineering, National University of Civil Engineering (IESE-NUCE);
Institute of Environmental Technology, Vietnam Academy of Science and Technology (IET-VAST); College of Environment and Natural Resources, Can Tho University (CENRes-CTU); Department of Environmental Science, Hue University of Sciences (DES-HUSC); Institute of Resources and Environment, Hue University (IREN-HU); Department of Environmental Resources and Management, Chia-Nan University of Pharmacy and Science (ERM-CNU); Department of Environment and Resources, University of Thu Dau Mot (DER-UTDM) and Faculty of Biotechnology and Environmental Engineering, Ho Chi Minh City University of Food Industry (FBEE-HUFI). The IFGTM provide a platform for researchers and managers to share knowledge, experience and research results in various aspects of environment, with a focus on green technology and management. There have been so far four IFGTMs occurred: in Da Nang (2011), in Ho Chi Minh City (2012), in Ha Noi (2013) and in Can Tho (2014).

The 5th International Forum on Green Technology and Management (IFGTM 2015) is hosted by Hue University of Sciences and will be held in Hue City, from 28 to 30th July, 2015.

Call for Papers (PDF file)

We are pleased to invite you to participate in the 5th International Forum on Green Technology and Management (IFGTM 2015) which will be held in Hue city on July 28th to 30th 2015.

Abstract and full paper submission

An abstract (no more than 200 words) is required for screening by Scientific Committee. The abstract must be in English and should include title, names and affiliations of all authors, contact email of corresponding author; and key words.

Authors whose abstracts are accepted should submit manuscripts of maximum 8 pages for a reviewing process. Good papers will be published in a Special Issue of Journal of Science and Technology of Vietnam Academy of Science and Technology. Manuscripts must follow the journal guidelines which can be downloaded from the conference website.

Selected authors will be invited for oral presentations at the conference. The others will be invited for poster presentations.

Theme and Topics

Environmental pollution controlWith the theme “Green Environment for Sustainable Development”, IFGTM 2015 will cover a broad range of the following topics related to environmental engineering and management:

  • Environmental pollution control
  • Advanced waste and wastewater treatment
  • Low-carbon technology and management
  • Cleaner production and energy efficiency
  • Renewable energy development and use
  • Climate change adaptation and mitigation
  • Integrated urban environmental management
  • Sustainable resources management
  • Ecological industry and eco-toxicology
  • Water supply and sanitation


Important dates
  • January 15th 2015: First announcement
  • March 10th 2015: Abstract submission deadline
  • March 30th 2015: Acceptance notification
  • May 10th 2015: Full paper submission deadline
  • June 15th 2015: Second announcement

Please proceed your submission at the section “For authors” on the menu bar.

Registration and fees

Registration

Participants are requested to perform online registration to the activities at conference. The registration form will be available on this website soon.

If you need any assistance, please do not hesitate to contact the IFGTM2015 Secretariat.

Invitation Letter

The Conference Organizing Committee will be pleased to send an invitation letter to any participant upon his/her request. It must be understood that these letters are only intended to help participants to obtain a visa or to raise travel funds and do not commit the conference organizers to any financial nor insurance obligations. To obtain the invitation letter, the participant should register to attend the conference in advance.

Publication fee and conference fee

Publication fee is applied for the authors whose abstracts are accepted for reviewing process. The fee is 35 USD or 750,000 VND per manuscript. This fee is used for publishing process, including payments for reviewers, editors and printing. The author should pay this fee at the same time of manuscript submission.

The conference fee, which will be collected at the registration desk, is 25 USD or 500,000 VND for each regular participant and 12.5 USD or 250,000 VND for each graduate student. The fee covers materials (abstract book, journal, etc.) at the conference and all activities during conference such as full attendance of sessions, cultural tour, technical tour, lunches, coffee-breaks, etc.

Xem chi tiết tại/For more information detail, please see:  http://ifgtm.khoamoitruonghue.edu.vn/

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Sinh vật mới không ở đâu xa

Curcuma-pambrosima
TTO - Phát hiện trong vườn nhà mình có một cây lan lạ, anh Nguyễn Phong (Hà Nội) liên hệ với các chuyên gia về lan. Thật bất ngờ khi sau đó cây lan này được xác định là một loài mới...

Việc phát hiện loài mới không hề đơn giản vì chúng thường phân bố ở những nơi xa xôi hẻo lánh khó tiếp cận như nơi núi cao, rừng sâu, vực thẳm... Tuy nhiên đôi khi có những loài được phát hiện một cách rất tình cờ như từ một mẩu tin du lịch, tồn tại ngay trước mắt chúng ta như cây trồng trong vườn hoặc được bán đầy chợ. Có loài lại tình cờ được phát hiện... trong bảo tàng khi mẫu vật đã được lưu giữ hơn thế kỷ.

Dưới đây là một số loài được phát hiện theo kiểu tình cờ như thế:

Cá "mù" ẩn

ca-mu-an-Schistura-mobbsi

Năm 2002, anh Leisher thuộc Ủy ban bảo vệ thiên nhiên ở Mỹ vô tình đọc được một đoạn ngắn đề cập đến một hang động có dòng suối ngầm ở Thái Nguyên (Việt Nam) trong cuốn hướng dẫn du lịch cũ “Lonely Planet Vietnam”. Vốn là người thích lặn và tò mò, Leisher - khi đó đang ở Việt Nam, đã rủ người bạn Jerry Mobbs lên Thái Nguyên khám phá.

Tuy nhiên lần đó anh đã thất vọng vì dòng suối trong hang có mực nước rất nông, không thể lặn được. Hang động này có vẻ như chưa từng có ai đặt chân đến và cũng không mang dấu hiệu của sự sống.

Hai người sau đó quay lại cùng cây vợt bắt côn trùng với ý định kiểm tra xem có sinh vật nào sinh sống dưới dòng suối ngầm trong hang động không. Thật kỳ diệu, họ đã bắt được một con cá mù, hoàn toàn không có mắt và không có sắc tố. Có lẽ môi trường sống không có ánh sáng trong hang động đã tạo ra chúng như vậy.

Mới nhìn qua, họ đoán đây là loài cá hiếm. Tuy nhiên phải mất 10 năm, Leisher mới thu thập đầy đủ tư liệu và công bố đây là loài cá mới với tên khoa học là Schistura mobbsi.

Schistura mobbsi có chiều dài cơ thể chỉ nhỉnh hơn 3cm. Mặc dù là cá "mù", chúng vẫn có thể sinh sống bình thường và trốn tránh kẻ thù nhờ khả năng cảm biến ở mõm và đầu. Đây chính là một bằng chứng cho sự thích nghi, tiến hoá của sự sống ở những môi trường khắc nghiệt.

Giáng hương Ninh Thuận

giang-huong-phong-Aerides-phongii

Năm ngoái anh Nguyễn Phong (Hà Nội) phát hiện trong vườn nhà mình có một cây lan lạ đang nở hoa. Một chuyên gia về hoa lan sau đó đã nhận nhầm đây là một loài lan tóc tiên do hình dạng lá của nó rất giống một loài lan trong chi Holcoglossum.

Điều thú vị bất ngờ xảy ra khi ông Leonid Averyanov - chuyên gia người Nga về lan Việt Nam, kết luận rằng nó là một loài mới của chi lan giáng hương, và đặt tên là Aerides phongii. Nó mang đặc điểm lá của chi lan tóc tiên và hoa của chi lan giáng hương.

Theo anh Phong, cây lan này được anh mua lại từ miền Nam và có lẽ nó không mới mẻ gì đối với một số vườn lan tư nhân. Lần tìm theo dấu vết, các nhà khoa học phát hiện ra gốc gác tự nhiên của loài lan này ở Ninh Thuận.

Chuồn chuồn "quên lãng"

chuon-chuon-quen-lang-Indocypha-neglecta

Thật khó có thể tưởng tượng được rằng người ta có thể phát hiện ra sinh vật mới khi mà mẫu vật đã bị bỏ quên hơn một thế kỷ.

Matti Hämäläinen - Trung tâm Đa dạng sinh học tự nhiên Hà Lan, đã tìm thấy mẫu vật lưu trữ của một loài chuồn chuồn ở Bảo tàng lịch sử tự nhiên Quốc gia Pháp được thu thập từ năm 1895 tại miền bắc Việt Nam.

Thực tế thì mẫu vật này không còn được nguyên vẹn và khó có thể được chấp nhận công bố loài mới nếu không có bản thảo của René Martin cũng được ghi chép vào thời gian đó.

Khi ấy Martin đã định loại nhầm mẫu vật nói trên thành một loài chuồn chuồn châu Á và có ý định công bố. Tuy nhiên Thế chiến I xảy ra và bản thảo bị thất lạc khi Martin chưa kịp gửi cho nhà xuất bản. Đến năm 2013, vô tình bản thảo đó lại được tìm thấy ở Florida, nó được quét lại và gửi về Bỉ.

Hämäläinen đã may mắn khi có được các tư liệu này, và đặt tên loài chuồn chuồn trên là Indocypha neglecta cũng vì lý do chúng bị lãng quên trong thời gian lâu như vậy.

Cho đến nay người ta vẫn chưa gặp lại chúng ngoài tự nhiên, khu vực phân bố có lẽ là vùng Sông Chảy thuộc tỉnh Lào Cai.

Củ giờ

cu-gio-Curcuma-pambrosima

Có lẽ người dân ở miền Trung không xa lạ với cây củ giờ dùng lấy hoa, lá nấu canh. Vào mùa thu hoạch, chúng được bày bán đầy trong các chợ ở khu vực này.

Đây là loài thực vật thấp, thuộc họ dong riềng, có hoa vào tháng 8, tháng 9 hàng năm với các màu tím, vàng sặc sỡ. Chúng được trồng phổ biến trong vườn nhà dân để lấy lá non hoặc hoa làm rau ăn do có chứa tinh dầu. Ngoài ra, củ của chúng được nghiền thành bột để làm bánh vào những dịp đặc biệt như tết Nguyên đán.

Quen thuộc là vậy, được sử dụng lâu đời là vậy nhưng khoa học vẫn chưa biết chính xác nó là gì. Phải đến năm 2010, ông Lý Ngọc Sâm ở Viện Sinh học nhiệt đới và cộng sự mới mô tả chúng và công bố loài mới cho khoa học với tên Curcuma pambrosima.

Đa số các loài cây trong họ dong riềng đều có thể làm thực phẩm hoặc làm dược liệu. Lý do chúng chưa được mô tả mặc dù được trồng ở rất nhiều nơi có thể là vì chúng hiếm thấy ngoài tự nhiên.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 1,9 triệu loài sinh vật đã được các nhà khoa học mô tả, trong đó Việt Nam có khoảng gần 19.000 loài động vật và gần 14.000 loài thực vật. Tuy nhiên theo ước tính, vẫn còn khoảng 7,5 triệu loài sinh vậtchưa được con người biết đến.
Năm 2014, có 126 loài mới được phát hiện ở Việt Nam. Việc này có ý nghĩa quan trọng trong cuộc khủng hoảng đa dạng sinh học hiện nay khi mà mỗi năm Trái đất đang mất đi khoảng hơn 10.000 loài, nhiều trong số đó đã vĩnh viễn biến mất trước khi được phân loại.
PHẠM VĂN THẾ (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Thế nào là Ngành và Nhà phân loại học?

tree-of-life
Phân chia ngành phân loại và các nhà phân loại học

Phân loại học được xác định là một ngành khoa học về phân chia và sắp xếp theo các điều luật và quy định. Thực tế, phân loại học không chỉ được áp dụng đối với ngành Sinh học, và có thể áp dụng cho nhiều đối tượng, lĩnh vực khác. 

Phân loại học trong Sinh học là khoa học về sự phân chia và sắp xếp các loài sinh vật (đơn vị phân loại cơ bản nhất) vào các vị trí thích hợp để có thể giải thích được sự đa dạng, mối quan hệ và quá trình hình thành, tiến hóa của chúng. 

tree-of-life-cay-phan-loai-su-song
(Cây phân loại sự sống: Nguồn: http://www.greennature.ca/)


Với khái niệm rộng như vậy, ngành phân loại học sẽ được phân chia theo hệ thống sau:

· Phân loại học – alpha: chủ yếu ở mức độ nhận dạng, mô tả và đặt tên cho các đơn vị phân loại mới (loài, giống, họ...) hoặc xem xét những mô tả/hệ thống lại tên khoa học trước đây.

· Phân loại học – beta: thực hiện các công việc so sánh giữa các đơn vị phân loại, bao gồm việc nghiên cứu quan hệ phát sinh; hoặc mức độ khác là sắp xếp hệ thống các đơn vị phân loại (chủ yếu dựa trên các phân tích về phát sinh chủng loại).

· Phân loại học – gamma: chủ yếu nghiên cứu các biến dị di truyền trong các loài. 

Ngoài ra, còn có các công việc khác như:

· Phát triển các công cụ cho việc định loại/nhận dạng: khóa phân loại, mã vạch DNA

· Định loại/nhận dạng các mẫu vật, sử dụng các công cụ định loại và sắp xếp chúng vào hệ thống đã biết. 

· Điều tra phát hiện các đơn vị phân loại trong khu vực cụ thể hoặc hệ sinh thái cụ thể, chủ yếu dựa vào công cụ định loại.

Trên cơ sở phân chia như vậy, các nhà phân loại học cũng được chia thành các nhóm sau:

· Nhà phân loại – alpha: mô tả, đặt tên, tổng kết và thống nhất các đơn vị phân loại.

· Nhà phân loại – beta: so sánh và phân chia các đơn vị phân loại, hình thành cây phát sinh chủng loại.

· Nhà phân loại – gamma: nghiên cứu biến di truyền trong loài. 

· Người phát triển công cụ: xây dựng khóa định loại và các công cụ hỗ trợ khác cho việc nhận dạng các đơn vị phân loại.

· Người sử dụng: nhận biết các loài, sử dụng khóa/công cụ để điều tra đa dạng sinh học.

Trên thực tế, các nhà phân loại có thể được sắp xếp vào nhiều hơn các nhóm được đề cập ở trên, tùy thuộc vào công việc của họ trong thời gian đó. Nói một cách khái quát, nhà phân loại được xem là nhà khoa học có cảm nhận một cách công bằng như mình đang ở nhà ở mọi nơi, khi thực địa, trong bảo tàng, trong phòng thí nghiệm và trước máy tính. 

Tương lai của các ngành khoa học phân loại:


Carl Linnaeus (1707-1778): Cha đẻ của ngành phân loại  trong sinh học
(http://en.wikipedia.org/wiki/Carl_Linnaeus)

Hình thành từ năm 1758, phân loại học đã đóng vai trò quan trọng cho việc tìm hiểu sự sống, đóng góp cho việc tìm hiểu quá trình tiến hóa và phát sinh các loài sinh vật trên trái đất; và cũng đóng góp vào các ngành kinh tế như dược học, nông nghiệp, lâm nghiệp thông qua những phát hiện mới về nguồn gen, nguồn tài nguyên sinh vật mới. Hiện nay, ngành khoa học phân loại đang đứng trước một áp lực rất lớn với sự xuất hiện của lĩnh vực sinh học phân tử DNA và phân loại dựa vào DNA. Đã, đang và sẽ còn những tranh luận về vai trò của phân loại học cổ điển và phân loại học hiện đại (dựa vào DNA), nhưng không thể phủ nhận được vai trò của phân loại học cổ điển. Thực tế hiện nay, việc kết hợp các dẫn liệu phân tử và dẫn liệu hình thái trong việc nghiên cứu phân loại đang được sử dụng rộng rãi và phổ biển trên thế giới. 

Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều sáng kiến được thực hiện nhằm thúc đẩy ngành phân loại trên thế giới. Ủy ban CBD (Công ước về Đa dạng sinh học) đã công bố Sáng kiến Phân loại toàn cầu (GTI) để cải thiện những khó khăn cho ngành phân loại. Bên cạnh đó, các sáng kiến quốc tế khác như, Bách khoa toàn thư về sự sống (Encyclopedia of Life), Khu hệ động vật châu Âu (Fauna of Europe), Cơ sở thông tin đa dạng sinh học toàn cầu (Global Biodiversity Information Facility), Loài2000 (Species2000) đều được phát triển nhằm cung cấp các thông tin về đa dạng sinh học một cách phổ biến hơn, đặc biệt thông qua internet. Các nhà phân loại vẫn tiếp tục công việc bởi vì phải còn rất lâu nữa chúng ta mới có thể có được đầy đủ hiểu biết về các loài sinh vật trên trái đất.

Biên tập: Đức Anh

Tài liệu tham khảo: 
  1. Enghoff H., & Seberg O. (2006) A Taxonomy of Taxonomy and Taxonomists. The systematics, 27: 13-15. (http://www.systass.org/newsletter/TheSystematist27.pdf).
  2. Enghoff H. (2008) What is taxonomy? – An overview with myriapodological examples. Soil Organisms, 81(3): 441-451.
  3. http://www.senckenberg.de/files/content/forschung/publikationen/soilorganisms/volume_81_3/16_enghoff.pdf

Mười chín loài Nhện mới công bố

Nhen-viet-nam
Công bố mười chín loài nhện mới cho khoa học phát hiện được ở phía Bắc Việt Nam

Đây là kết quả hợp tác giữa TS. Phạm Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các nhà khoa học Trung Quốc.

Mười chín loài nhện mới này thuộc họ Pholcidae, được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập ở các tỉnh Bắc Cạn, Phú Thọ, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Ninh Bình và Quảng Bình. Chúng không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao, nhiều loài có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, đặc hữu của Việt Nam. Bên cạnh đó, loài nhện còn được biết đến như là những thiên địch quan trọng góp phần phòng chống tổng hợp sâu hại bảo vệ cây trồng. Mô tả của 19 loài mới được công bố trên Tạp chí Quốc tế chuyên ngành Zootaxa, 3909(1): 82pp (monograph, tháng 1 năm 2015).

1. Loài Nhện Pholcus bifidus 

Nhen-Pholcus-bifidus
Loài Pholcus bifidus được phát hiện ở trong hang Tượng, vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc giống Pholcus bởi sự có mặt của các mấu lồi trên chân kìm của con đực, các gai sinh dục dài và nhọn, hơi cong, hóa kitin cứng; cơ quan sinh dục cái nhô hẳn ra ngoài.

2. Loài Nhện Pholcus caecus 

Nhen-Pholcus-caecus
Loài Pholcus caecus được phát hiện ở trong động Thiên Đường, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài nhện này phân biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi kích thước cơ thể rất nhỏ; nhện không có mắt; xuất hiện đôi sừng cong và sắc nhọn ở mặt trên của giáp đầu ngực.

3. Loài Nhện Pholcus hochiminhi 

Nhen-Pholcus-hochiminhi
Loài Pholcus hochiminhi được phát hiện ở trong động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự loài Pholcus aduncus Yao & Li, 2012, nhưng khác loài Pholcus aduncus ở đặc điểm phần cuối của xúc biện con đực kéo dài, xuất hiện mấu lồi trên xúc biện, hành cong mạnh, mắt chia 2 vùng và nổi hẳn lên tạo hai khối.


4. Loài Nhện Pholcus phami

Nhen-Pholcus-phami
Loài Pholcus phami được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi chân kìm con đực có hai đôi mấu lồi lớn ở mép; trên hành có nhiều gai hình con dao; bộ phận sinh dục cái hóa kitin với một mấu lồi hình chiếc gậy chạy dọc.


5. Loài Nhện Pholcus zhaoi

Nhen-Pholcus-zhaoi
Loài Pholcus zhaoi được phát hiện ở trong hang Sơn Động, vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này giống với loài Pholcus undatus Yao & Li, 2012 nhưng khác loài Pholcus undatus bởi sự có mặt của mấu lồi lớn hình thang; hành có 2 rãnh sâu xẻ dọc.


6. Loài Nhện Belisana babensis

Nhen-Belisana-babensis
Loài Belisana babensis được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự như loài Belisana strinatii Huber, 2005 nhưng khác loài Belisana strinatii bởi có có đốt chuyển trên xúc biện con đực và có gai cong lớn xuất hiện trên hành.


7. Loài Nhện Belisana cheni

Nhen-Belisana-cheni
Loài Belisana cheni được phát hiện ở trong hang Pắc Chấn, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác thuộc giống Belisanna do xuất hiện hai mấu lồi màu đen kéo dài ở mặt dưới của chân kìm; xuất hiện 2 túi nằm 2 bên của bộ phận sinh dục cái.


8. Loài Nhện Belisana clavata

Nhen-Belisana-clavata
Loài Belisana clavata được phát hiện ở núi Tây Côn Lĩnh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Đây là loài sống trong rừng tự nhiên, ở độ cao 1816 mét so với mặt biển. Loài này khác biệt so với các loài khác thuộc giống Belisanna do có các mấu lồi hình chùy hóa kitin cứng trên chân kìm; và xuất hiện 1 gai lớn trên mấu lồi hình chùy.







9. Loài Nhện Belisana curva

Nhen-Belisana-curva
Loài Belisana curva được phát hiện ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là loài sống ở bụi rậm, ở độ cao 440 mét so với mặt biển. Loài này giống với loài Belissana xiangensis Yao & Li, 2013 nhưng khác loài Belissana xiangensis do xuất hiện một tấm chắc lớn hóa kitin trên bề mặt của hành, và một đôi gai cong sắc nhọn trên đầu giáp đầu ngực.


10. Loài Nhện Belisana decora

Nhen-Belisana-decora
Loài Belisana decora được phát hiện ở vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống ở rừng thứ sinh, ở độ cao 284 mét so với mặt biển. Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc giống Belisanna bởi sự có mặt của những chiếc gai cong trên xúc biện con đực và xuất hiện các u lồi hóa kitin cứng trên bộ phận sinh dục cái.

11. Loài Nhện Belisana halongensis 

Nhen-Belisana-halongensis
Loài Belisana halongensis được phát hiện ở động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Belisanna bởi sự có mặt của mấu lồi hình ngón tay trên hành của xúc biện; trên giáp đầu ngực mặt trên có 1 tấm hóa kitin cứng hình ca vát, mặt dưới 1 tấm hình cái bát.

12. Loài Nhện Belisana phungae

Nhen-Belisana-phungae
Loài Belisana phungae phát hiện được ở động Nà Phòng, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Belisanna bởi sự xuất hiện của các tấm la men lớn, dẹt, phẳng trên bề mặt xúc biện con đực; và cửa ngoài của cơ quan sinh dục cái có cấu trúc dạng túi

13. Loài Nhện Belisana pisinna 

Nhen-Belisana-pisinna
Loài Belisana pisinna phát hiện được ở động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này có kích thước cơ thể rất nhỏ; giáp đầu ngực tròn; có các tấm bên tạo hình tam giác trên bề mặt xúc biện; hành không có gai.




14. Loài Nhện Belisana triangula

Nhen-Belisana-triangula
Loài Belisana triangula phát hiện được ở hang La, vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự loài Belisanna phurua Huber, 2005 nhưng khác loài Belisanna phurua bởi khoảng cách giữa các mấu lồi trên xúc biện con đực lớn; hành có hình lưỡi dao; có hai vuốt lớn, cong, mọc đối xứng trên hàm.



15. Loài Nhện Belisana vietnamensis

Nhen-Belisana-vietnamensis
Loài Belisana vietnamensis phát hiện được ở vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Loài này phân bố ở rừng tự nhiên, ở độ cao 386 mét so với mặt biển. Loài này có một cặp mấu lồi nhỏ trên chân kìm con đực, và một đôi túi dẹt trên cửa ngoài của bộ phận sinh dục cái.

16. Loài Nhện Belisana zhengi

Nhen-Belisana-zhengi
Loài Belisana zhengi phát hiện được ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Loài này phân bố ở sinh cảnh bụi rậm, ở độ cao 440 mét so với mặt biển. Loài này không có các mấu lồi trên chân kìm, nhưng có các mấu lồi dài màu đen thẫm xuất hiện trên hành của xúc biện con đực. 





17. Loài Nhện Khorata dangi

Nhen-Khorata-dangi
Loài Khorata dangi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự loài Khorata dongkou Yao & Li, 2010 nhưng khác loài Khorata dongkou do hành phân ra 2 lớp; có các vảy nhỏ trên chân kìm; có 2 gai hình lưỡi câu trên xúc biện con đực.



18. Loài Nhện Khorata huberi

Nhen-Khorata-huberi
Loài Khorata huberi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Khorata bởi sự có mặt của một cặp mấu lồi hình củ ấu ở hàm trên con đực; có 4 mấu lồi ở mặt dưới của bụng con cái.

19. Loài Nhện Khorata protumida

Nhen-Khorata-protumida
Loài Khorata protumida phát hiện được ở hang Bảy Tầng, vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này giống loài Khorata khammouan Huber, 2005 nhưng khác loài Khorata khammouan do có các tấm la mel tạo hình vòm như tổ tò vò ở hàm dưới con đực; có 4 mấu lồi ở hàm trên; cửa ngoài bộ phận sinh dục cái hóa kitin cứng, nổi rõ thành bờ.

Bài và ảnh Phạm Đình Sắc (Photos by Pham Dinh Sac). Theo http://www.vast.ac.vn/

Zootaxa 3909 (1): 001–082

Pholcid spiders (Araneae: Pholcidae) from northern Vietnam, with descriptions of nineteen new species

ZHIYUAN YAO, DINH SAC PHAM, SHUQIANG LI

Abstract 
Five genera and 26 species belonging to two subfamilies Arteminae Simon, 1893 (one genus and one species) and Pholcinae C.L. Koch, 1850 (four genera and 25 species) are reported from northern Vietnam, including 19 new species of three genera: Belisana babensis sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. cheni sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. clavata sp. nov. (male; Ha Giang), B. curva sp. nov. (male; Vinh Phuc), B. decora sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. halongensis sp. nov. (male; Quang Ninh), B. phungae sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. pisinna sp. nov. (male; Quang Ninh), B. triangula sp. nov. (male; Phu Tho), B. vietnamensis sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. zhengi sp. nov. (male; Vinh Phuc), Khorata dangi sp. nov. (male; Bac Kan), K. huberi sp. nov. (male, female; Bac Kan), K. protumida sp. nov. (male, female; Quang Binh), Pholcus bifidus sp. nov. (male, female; Quang Binh), P. caecus sp. nov. (male, female; Quang Binh), P. hochiminhi sp. nov. (male, female; Quang Ninh), P. phami sp. nov. (male, female; Bac Kan), and P. zhaoi sp. nov. (male; Ninh Binh). One genus Khorata Huber, 2005 and five species Belisana schwendingeri Huber, 2005, B. sepaku Huber, 2005, Khorata digitataYao & Li, 2010, Leptopholcus podophthalmus (Simon, 1893), and Pholcus bangfai Huber, 2011 are reported from Vietnam for the first time. Additional new records are given for two species Leptopholcus huongson Huber, 2011 and Physocyclus globosus (Taczanowski, 1874).

Keywords: Taxonomy, morphology, new record, Arteminae, Pholcinae, Southeast Asia

For final version: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3909.1.1
http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03909p082f.pdf

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2015

Ba loài giun đất không manh tràng mới

giun-dat

Đồng bằng sông Cửu Long được xem là một khu vực còn chưa được nghiên cứu nhiều, ít nhất đối với các nhóm động vật không xương sống ở đất. Khả năng tiềm ẩn những loài động vật không xương sống ở khu vực này còn rất cao. Điều này được củng cố thêm khi Tiến sỹ Nguyễn Thanh Tùng, Trường Đại học Cần Thơ phát hiện và công bố ba loài giun đất mới cho khoa học. Đây là các loài thuộc giống Polypheretima, nhóm không có manh tràng (Aceacata), họ Megascolecidae, ngành Giun đốt (Annelida).


·          Giun đất Cát Tiên Polypheretima cattienensis được phát hiện tại Vườn Quốc gia Cát Tiên, Đồng Nai. Loài được nhận dạng với cac đặc điểm: Thân hình trụ, phần đầu phình to ở đốt IV đến đốt VII, kích thước trung bình lớn. Chiều dài 115 – 147 mm, đường kính 6,41 – 8,63 mm, số đốt 132 – 189, trọng lượng 2,82 – 4,28 g. Màu xanh đậm từ đốt I – VII, các đốt còn lại có màu nhạt đồng nhất giữa phía lưng và bụng, màu sắc ở đai đồng nhất ở với màu của thân. Môi kiểu epi (2/3). Lỗ lưng đầu tiên luôn ở 12/13, xuất hiện một đường màu xanh đậm chạy dọc theo hàng lỗ lưng, từ phía sau đai đến gần cuối cơ thể. Tơ nhỏ, xếp đều giữa các đốt trước đai và sau đai, 90 – 114/ VIII, 95 – 129/ XXX, 3 – 8 ở giữa hai nhú đực ở đốt XVIII, aa = 2ab, zz = 2zy. Đai kín, đủ, từ XIV – XVI, không có tơ và lỗ lưng trên đai.

·           Giun đất quân nhân Polypheretima militium được phát hiện tại Khu Văn hóa lịch sử Đồng Nai, Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Loài được nhận dạng với các đặc điểm: Kích thước trung bình nhỏm, từ sau đai đến đốt XXX phình to. Chiều dài 58 – 97 mm, đường kính 2,58 – 3,57 mm, số đốt 137 – 164, trọng lượng 0,36 – 1,56 g. Cơ thể có màu xám nhạt, đồng nhất giữa phía lưng và phía bụng, đai sinh dục có màu nâu nhạt. Kiểu môi epi (1/3). Lỗ lưng đầu tiên 12/13 hoặc 13/14. Tơ các đốt trước đai to và nhiều hơn các đốt sau đai, 67  –  90/ VIII, 36 – 62/XXX, 7 – 11 ở giữa hai nhú đực đốt XVIII, khoảng cách tơ aa = 2ab, zz = 2zy. Đai kín, thiếu, XIV – 3/4XVI, không có tơ và lỗ lưng trên đai.

·           Giun đất tim Polypheretima cordata được phát hiện tại Khu Văn hóa lịch sử Đồng Nai và Vườn Quốc gia Cát Tiên. Loài được nhận dạng với các đặc điểm: Thân hình trụ, kích thước trung bình. Chiều dài 98 – 168 mm, đường kính 3,17 – 3,99 mm, số đốt 110 – 154, trọng lượng 0,76 – 1,63 g. Cơ thể có màu nâu sáng, đồng nhất giữa phía lưng và bụng, đai sinh dục có màu nâu đậm. Kiểu môi pro. Lỗ lưng đầu tiên 12/13. Tơ nhỏ, nhiều xếp đều quanh đốt, các đốt trước và sau đai có số tơ gần tương đương nhau, 61 – 90/ VIII, 60 – 84/XXX, 7 – 9 ở giữa hai nhú đực đốt XVIII, aa = ab, zz = zy. Đai kín, thiếu, từ  XIV – 3/4XVI, không có tơ và lỗ lưng trên đai.

Giống giun đất Polypheretima được biết phân bố chủ yếu trong khu vực Indonesia, Philippine, Malaysia và phía nam Việt Nam. Hiện nay, mới chỉ ghi nhận được 13 loài giun đất thuộc giống Polypheretimaở Việt Nam, và chưa có một ghi nhận nào được tìm thấy ở miền Trung và Bắc Việt Nam. Số lượng 13 loài giun đất có thể nói là chưa phản ánh hết được mức độ đa dạng của giống Polypheretima ở Việt Nam, và sẽ tiếp tục có những phát hiện mới nếu có những khảo sát sâu và chi tiết ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long.  

Biên tâp: Đức Anh

Tài liệu:  http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3905.4.11

Three new earthworm species of the genus Polypheretima Michaelsen, 1934 (Oligochaeta: Megascolecidae) from Vietnam

TUNG T. NGUYEN, BINH T.T. TRAN, ANH D. NGUYEN

Abstract: The paper provides descriptions of three new species of the earthworm genus Polypheretima Michaelsen, 1934 from Dong Nai Province, South Vietnam. They are named Po. cattienensis sp. nov., Po. militium sp. nov., and Po. cordatasp. nov.. All three species are characterized by spermathecal pores in 5/6/7 and the absence of genital markings. Po. cattienensis sp. nov. is distinguished by paired spermathecal pores and seven spermathecae per porus. Po. militiumsp. nov. is diagnosed by paired spermathecal pores and a variable number of spermathecae, 21–40 altogether, with 7–17 in 5/6 and 11–23 in 6/7. Po. cordata sp. nov. is recognized by one pair of spermathecal pores in 5/6 and two in 6/7, by only one spermatheca per porus, and by a heart-shaped spermathecal ampulla.

Keywords

Clitellata, Megascolecidae, Polypheretima, earthworms, new species, Dong Nai, Vietnam



Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

Gửi những kẻ tàn ác với thiên nhiên

giet-dai-bang-hoang-da
(Laodong.com) Tại sao con người Việt Nam ngày càng tàn ác hơn với thiên nhiên - câu hỏi ấy quẩn quanh trong đầu nhà báo Trung Bảo khi chứng kiến tình yêu vô điều kiện của những đứa trẻ nhà anh với động vật. Và liệu có mối liên hệ nào giữa sự tàn nhẫn dành cho những con thú hoang với sự bạo lực mà mỗi con người dành cho nhau...

Anna và Rio của ba,

Tình cờ, đêm qua ba cha con mình nằm coi chung một bộ phim kể về chú cá heo bị thương dạt vào bờ, vết thương nhiễm trùng nên những người cứu chú phải cắt cụt đuôi để giữ được mạng sống và rồi chú được gắn cho một cái đuôi giả. Bộ phim là câu chuyện có thật ở tiểu bang Florida (Mỹ), nơi chú cá heo có tên Winter vẫn đang sống trong một trung tâm cứu hộ động vật biển. 

Winter giờ đây trở thành một biểu tượng và là một sự động viên cho những ai lâm vào cảnh tàn phế. Winter nổi tiếng trong toàn nước Mỹ đến nổi chú có những chương trình biểu diễn riêng của mình, tiền bán vé và các khoản quyên góp của khán giả được dùng để tái đầu tư cho các chương trình cứu hộ các sinh vật biển bị thương. Ai cũng có thể vào thăm bạn Winter của tụi con ở địa chỉ www.seewinter.com.

Mấy con biết không, cách đây vài ngày trên facebook xôn xao vì bỗng dưng có một người mặc sắc phục công an bỏ lên tấm hình cắt cổ và dội nước sôi một con mèo. Trước đó nữa là cảnh một đám đông xúm vào làm thịt một con chim rất to, có lẽ là đại bàng. Lâu hơn nữa người ta cũng đã nổi giận vì cảnh những thanh niên làm thịt con khỉ. 

Tất cả những cảnh khủng khiếp đó, được những người trẻ tuổi đưa lên mạng với nụ cười hả hê. Ba ngạc nhiên vì họ tỏ ra vui vẻ với việc làm tàn nhẫn của mình. Chẳng lẽ không ai trong số họ hiểu rằng khi con người đem việc giết chóc sinh vật làm niềm vui chứ không phải vì sinh tồn, khi đó họ đang tiến rất gần tới ngưỡng phân biệt giữa người và thú!

Cách đây không lâu, một đồng nghiệp của ba tại báo Lao Động phanh phui ra một đường dây thu mua và giết rùa biển để làm đồ trang trí. Nhìn kho chứa xác rùa đến hàng trăm con bị phát hiện, có người không hiểu một căn nhà sẽ trở nên đẹp hay sang trọng thế nào khi dùng xác rùa, sọ hươu nai trâu bò, hay thậm chí nhồi bông hổ gấu… để trang trí.

Đã không còn cái thời người ta đói đến mức cái gì cũng phải ăn và cũng không hiểu có thật sự bổ béo không khi người ta uống máu dơi, ăn tim rắn, uống rượu ngâm bào thai động vật… Từ việc treo xác thú vật đến việc ăn uống và bây giờ là khoe hình giết thú vật lên mạng dường như là dấu vết của một thời hoang dã, cái thời con người lấy việc giết chóc để sinh tồn, vẫn còn sót lại trong những con người đó.

Những việc làm đó có thể bị pháp luật chế tài nhưng điều làm ba băn khoăn khi đứng trước những cánh rừng nham nhở, đứng trước những ánh mắt tuyệt vọng của con thú rừng nằm chờ chết trong lồng… đó là, tại sao con người Việt Nam ngày nay trở nên tàn ác, vô nhân như vậy đối với thiên nhiên, đối với sinh vật.

Đêm qua, khi chú cá heo Winter mang chiếc đuôi giả nhảy vọt lên khỏi mặt nước, cả Anna và Rio đều vỗ tay mừng. Ba vui quá, vì biết tụi con luôn mang trong mình mầm thiện, vì biết tụi con yêu thích cuộc sống. Ba vui như khi Anna dù rất sợ chó sói (tưởng tượng) nhưng vẫn biết hỏi ba: “Ba ơi, tối rồi chó sói có về với ba mẹ không ba?”.

Anna và Rio à, ba thật ra phải cám ơn tụi con vì mỗi khi được ở bên nhau, tụi con luôn nhắc nhở ba, luôn giữ cho ba tình yêu thương cuộc sống, yêu thương mọi thứ quanh mình bằng một cái nhìn ngây thơ, vô nhiễm mà mỗi người lớn thường hay đánh mất như một cái giá phải trả cho việc phải lớn lên.

Rất yêu thương hai con, 
Trung Bảo

Clip cá heo Winter: