Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Người sáng lập BIODIVN trò truyện với phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam

Pham-van-the

CHUYỆN ĐÊM 17/03/2016
Dẫn 1:
Quý vị và các bạn thân mến!
Sinh ra và lớn lên ở vùng quê miền núi ngay sát rừng (nay là thôn Trại Gạo, phường Bến Tắm, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) anh Phạm Văn Thế đã có tình yêu đặc biệt với cây rừng. Mơ ước được chăm sóc, bảo vệ cây rừng cứ tự nhiên lớn dần lên trong anh. Khi phải chứng kiến cánh rừng quê hương ngày càng bị thu hẹp, anh Phạm Văn Thế đã theo đuổi công tác bảo tồn cây rừng, với mơ ước có thể nhân rộng tình yêu rừng của mình, để cộng đồng có ý thức bảo vệ thiên nhiên, môi trường hơn nữa. Phóng viên mục Chuyện đêm đã có cuộc trò chuyện với anh Phạm Văn Thế - Nghiên cứu viên, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam:


          PV: Xin chào anh Phạm Văn Thế, cảm ơn anh nhận lời tham gia mục chuyện đêm hôm nay!

          Anh Thế: Vâng, cảm ơn chị và chương trình đã quan tâm đến vấn đề bảo tồn và công việc của tôi!

          1 PV: Trước hết, anh có thể cho biết xuất phát từ đâu anh có niềm đam mê với việc bảo tồn và phát triển các loài thực vật?

          Anh Thế:Bản thân tôi được sinh ra và lớn lên tại một khu vực miền núi, có rất nhiều rừng, ngay từ nhỏ tôi đã được tiếp xúc với rừng, nên tôi có một tình cảm đặc biệt với chúng. Đối với tôi rừng vừa như là một người bạn đặc biệt và rất thân thiện. Ngay từ nhỏ tôi đã phải chứng kiến rừng bị mất đi, nên tôi có ước mơ lớn lên sẽ làm một công việc gì đó liên quan đến rừng. Vì thế khi tốt nghiệp phổ thông trung học xong, tôi quyết định thi vào Đại học Lâm nghiệp, khoa Quản lý Bảo vệ Tài nguyên rừng và Môi trường. Sau khi tốt nghiệp Đại học tôi đã xin vào làm việc tại Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Khi ấy tôi xin vào làm Dự án Bảo tồn thực vật Việt Nam do Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hiệp làm chủ nhiệm. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hiệp cũng là thầy giáo hướng dẫn luận văn tốt nghiệp của tôi. Tôi thấy thích công việc này và theo đuổi từ đó cho đến nay.

2 PV: Với tình yêu thiên nhiên, yêu cây rừng mãnh liệt, anh đã quyết tâm theo đuổi công tác bảo tồn và làm việc không quản mệt mỏi, khó khăn. Đâu là điều khó khăn nhất khi mới bắt đầu công việc, thưa anh?

Anh Thế: Tôi bắt đầu công việc vào tháng 7 năm 2003, tôi xin làm việc ở chỗ thầy giáo hướng dẫn. Tôi đã gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu là về mặt chuyên môn, do mới ra trường nên chưa vững. Khi đi thực địa phải thu mẫu vật như thế nào, xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm ra sao… đó là những việc rất mới với tôi, chưa từng học ở trường. Vì khi học, tôi học ngành Quản lý và bảo vệ rừng, thì đúng chuyên ngành sẽ làm kiểm lâm. Còn công việc của tôi lúc đó là về bảo tồn các loài thực vật. Nhưng mà với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy Nguyễn Tiến Hiệp và các đồng nghiệp trong dự án thì những khó khăn này đã dần dần được khắc phục. Ví dụ tôi có thể kể một vài khó khăn là trong phòng thí nghiệm sắp xếp mẫu vật theo họ. Khi chuyên gia đến làm việc thì họ thấy 1 cây rất lạ được sắp xếp vào họ lan. Thì thầy giáo cũng cười và nói đây là do sinh viên sắp xếp nhầm thôi. Rất nhiều người mới bắt đầu vào nghề gặp phải điều đó

3 PV: Đó là những khó khăn tại nơi anh làm việc và được thầy giáo - Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hiệp (Giám đốc Trung tâm Bảo tồn thực vật Việt Nam, người phát hiện ra rất nhiều loài lan hài ở nước ta) - giúp đỡ rất tận tình. Vậy những chuyến lặn lội trong rừng sâu, núi thẳm thì có kỉ niệm nào đáng nhớ với anh?

Anh Thế: Khi tôi mới bắt đầu vào nghề thì cũng gặp nhiều khó khăn khi đi điều tra thực địa. Năm 2004, tôi đi Sơn Kim, thì vô tình bị trượt ngã vào bụi Han Voi. Lông của lá Han Voi dính vào người rất ngứa, nhất là những lúc tiếp xúc với nước rất đau rát, có lúc bị sốt. Rồi trong 1 lần đi điều tra ở chợ Đồn Bắc Cạn, tôi bị trượt chân, nắm vào được vách đá. Nhưng vỉa đá rất sắn, nên bị rách tay. Tôi có lấy lá cây mắm tôm để bịt vào vết thương. Đây là cây mà địa phương tôi hay sử dụng, nên cũng rất tốt, có thể sát trùng được. Có một vài lần tôi còn gặp rắn, nhưng lớn lên và sinh sống gần rừng, nên tôi cũng không sợ. Thường thì rắn thấy mình là nó chạy, nhưng nếu mình làm gì khiến nó sợ thì nó sẽ tấn công lại.

4 PV: Như vậy là làm việc không đúng chuyên ngành học đã là một khó khăn, rồi phải đi thực địa, cũng gặp thêm không ít nguy hiểm. Vậy làm thế nào để theo đuổi được công tác bảo tồn thực vật như anh?

Anh Thế: Thì thực ra, từ khi tôi ra trường thì kiến thức của tôi cũng còn kém. Với sự hướng dẫn của thầy và tham gia các dự án thì mình được học dần dần. Ngoài ra mình có thể tự học, tự tìm tỏi bằng cách là trong lúc rảnh rỗi, tôi cũng đem các mẫu vật ra để tự so sánh. Hoặc đọc sách, tài liệu về bảo tồn. Tôi thấy là để theo đuổi được cần có sự đam mê và mình phải chịu khó tìm tòi và học hỏi.


Dẫn 2:
Thưa quý vị và các bạn!
          Cùng với sự đam mê, tìm tòi và học hỏi, anh Phạm Văn Thế đã phát hiện được thêm nhiều loài thực vật mới, cũng như bảo tồn được nhiều loài cây có nguy cơ bị tuyệt chủng. Tên của anh còn được đặt cho 4 loài và chi thực vật mới phát hiện. Đó là loài Địa Lan Thế ở Thừa Thiên Huế, chi Lan Thế, loài Lan Thế Việt ở Hoà Bình và loài Tỏi Rừng Thế ở Quảng Bình. Mời quý vị và các bạn cùng tiếp tục trò chuyện với anh Phạm Văn Thế - Nghiên cứu viên, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam:

5 PV: Được biết anh cùng các đồng nghiệp đã bảo tồn được rất nhiều loại thực vật có nguy cơ tuyệt chủng caoVí dụ như ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bát Đại Sơn (Hà Giang), thì đã bảo tồn thành công loài thực vật nào, thưa anh?

Anh Thế: Có thể nói ở khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, Quản Bạ Hà Giang thì chúng tôi bảo tồn thành công nhất là loài Bách Vàng. Bách Vàng là một loài mới được phát hiện vào năm 2002, bị đe doạ tuyệt chủng cao. Hiện nay đã có hơn 100 cá thể được trồng ra ngoài tự nhiên. Chúng tôi đã nhân giống thành công, rồi đem trông lại ở tự nhiên. Cây cao 3-5 m. Trung tâm Bảo tồn thực vật Việt Nam đang tiếp tục theo dõi và thấy chúng phát triển rất tốt, không có cây nào bị người dân chặt hay lấy đi.

6 PV: Có thể thấy công tác bảo tồn còn đòi hỏi cả sự chia sẻ, thông cảm của cả cộng đồng nữa, thưa anh?

Anh Thế: Vâng, trước hết là Ban Quản lý Khu bảo tồn ở đấy đã làm việc rất tốt. Sau này chúng tôi phát triển mô hình bảo tồn với sự tham gia của cộng đồng. Chúng tôi trồng cây tại vườn của người dân, mời họ tham gia vào dự án. Tức là dự án này có 2 phần, để cho người dân trực tiếp bảo vệ và Ban Quản lý vẫn tiếp tục bảo vệ những cây này.

7 PV: Được biết, anh còn là sáng lập viên và đồng quản trị trang web “Đa dạng Sinh học và Bảo tồn Việt Nam biodivn.com?

Anh Thế: Chúng tôi thành lập trang web đa dạng sinh học Việt Nam biodivn vào năm 2014, với mục đích cung cấp và tuyên truyền thông tin về động thực vật hoang dã ở Việt Nam. Qua đó cũng hy vọng nhận được sự quan tâm của cộng đồng. Chúng tôi cũng kêu gọi cộng tác viên để đóng góp bài vở, ảnh cho các bài viết. Bên cạnh đó tôi luôn có ý thức đem kiến thức về thực vật của Việt Nam đến mọi người nhiều hơn, để hy vọng có thể thay đổi nhận thức của họ, ít nhất là của gia đình, bạn bè tôi. Về lâu dài thì tôi muốn cho cộng đồng nhận được nhiều thông tin hơn về mảng này, để qua đó cộng đồng quan tâm hơn và cùng bảo tồn với các nhà bảo tồn ở Việt Nam.

          8 PV: Vâng, như anh vừa chia sẻ thì hy vọng là niềm đam mê của anh ít nhất là có thể đến được với gia đình và bạn bè. Với con gái của anh thì anh làm như thế nào để truyền cho cháu niềm đam mê, tình yêu với cây rừng, thưa anh?

          Anh Thế:Cuộc sống hàng ngày thì tôi vẫn cho con tôi xem hình ảnh mà tôi chụp được khi đi rừng, hoặc là cho cháu tham gia những chuyến đi rừng nhỏ nhỏ, như về quê tôi. Những kiến thức mà con tôi, bạn bè của cháu được nghe kể về rừng, cây, thú sẽ giúp chúng sau này yêu thiên nhiên hơn. Tôi nghĩ là nếu chỉ có nhà bảo tồn hoặc nhà quản lý bảo tồn một cây, một loài nào đó thì rất khó. Quan trọng là cần phải có ý thức của cộng đồng. Khi mà họ nhận thức được là động, thực vật cực kỳ quan trọng với cuộc sống, họ sẽ lên tiếng ngăn cản khi ai đó chặt phá rừng. Công cuộc bảo tồn động thực vật của Việt nam cũng như trên thế giới thì tôi nghĩ không chỉ cá nhân làm được, mà cần sự hợp tác rất lớn của cộng đồng.

          PV: Vâng, trân trọng cảm ơn anh đã cùng trò chuyện với Chuyện đêm trong Chương trình Thức cùng sự kiện tối nay./.
Dẫn 3:
          Quý vị và các bạn thân mến!
          Với các thành tích về bảo tồn thực vật hướng tới phát triển bền vững, anh Phạm Văn Thế đã được Trung Ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao tặng giải thưởng Quả Cầu Vàng năm 2015. Nhưng tình yêu với cây rừng khiến anh vẫn đau đáu một mong ước Việt Nam sẽ có những vườn thực vật có thể vừa là công viên, vừa là nơi bảo tồn, để được nhiều người chăm sóc, bảo vệ và tham quan như Botanic Garden nổi tiếng ở Sing-ga-po./.

Theo: Mai Hạnh, VOV1
Nghe trực tiếp trên VOV1: http://vov1.vov.vn/chuyen-dem/nguoi-say-me-nghien-cuu-va-bao-ton-cac-loai-thuc-vat-1732016-c91-24153.aspx

Link dự phòng: https://soundcloud.com/pham-van-the/03-17-2016-chuyen-dem-anh-pham-van-the-vien-sinh-thai-tnsv

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

"Rừng lặng", và những nguy hại tiềm ẩn từ thịt động vật hoang dã

Rừng bị tận diệt đến mức tĩnh lặng, không còn tiếng thú, tiếng chim là thực tế đang xảy ra khá nhiều tại Việt Nam.


Meo-rung-1

Các nhà bảo tồn quốc tế nhắc đến khái niệm 'rừng lặng' (silent forest), tức là những khu rừng bị săn bắn, tận diệt đến mức tĩnh lặng, không còn tiếng thú, ít tiếng chim. Hiện tượng này dường như đã xảy ra ở rất nhiều cánh rừng tại Việt Nam, khiến thịt thú rừng trở nên khan hiếm và đắt đỏ hơn trước. Cánh thợ săn đã tận diệt từ khu rừng này, rồi càn quyết qua khu rừng khác để đáp ứng nhu cầu thị trường. Rừng lặng - chính là tương lai không xa của các cánh rừng Việt Nam nếu không có ngay những hành động quyết liệt từ phía cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và người tiêu dùng. 

Dù các cơ quan quản lý đã ban hành hàng loạt quy định về cấm buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã, nhưng thực khách vẫn tìm thấy những quán đặc sản thịt thú rừng khá dễ dàng ở bất cứ địa phương nào trên cả nước. 

Việt Nam vẫn được xem là một điểm nóng, là "trung tâm trung chuyển" động vật hoang dã phục vụ nhu cầu trong nước lẫn xuất lậu sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và các thị trường khác

Nghiên cứu của ba tác giả Milica Sandalj, Anna Treydte và Stefan Ziegler thực hiện năm 2015 với sự hỗ trợ của WWF-Việt Nam cho thấy, ước tính mỗi năm có khoảng 3.500 đến 4.000 tấn thịt rừng đi qua thị trường Việt Nam. Một nửa số này được tiêu thụ trong nước với 80% dưới dạng "đặc sản thịt rừng".

Theo nghiên cứu này, 85% trong tổng số 329 người được hỏi ở Huế từng ăn thịt rừng ít nhất một lần trong đời; 68% người có sử dụng thịt rừng trong vòng 12 tháng kể từ ngày được hỏi. Trong số người không ăn thịt rừng thì có đến 55% là do "không có cơ hội", 15% do "quá đắt" và 14% do "không thích"; chỉ 7% không ăn thịt rừng vì "không rõ nguồn gốc". 

Meo-rung-2
Mèo rừng bị săn bắn buôn bán. Ảnh Phạm Văn Thế

Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng nhóm người có thu nhập và trình độ học vấn cao xu hướng ăn thịt rừng nhiều thường xuyên hơn, một phần do họ có đủ khả năng tài chính, một phần để chứng tỏ đẳng cấp, phần khác do niềm tin vào tác dụng bồi bổ và công hiệu tăng cường sức khoẻ của thịt rừng.

Phần lớn thịt thú rừng tiêu thụ tại Việt Nam có nguồn từ loài động vật bản địa bị săn, bắn, bẫy từ rừng, trong đó có cả rừng thuộc khu bảo tồn, vườn quốc gia, nơi hành vi săn, bắt động vật hoang dã bị cấm và kiểm soát nghiêm ngặt hơn các nơi khác. Một phần khác được nhập lậu từ các nước lân cận. Trên thị trường cũng có các loại thịt thú rừng được nuôi trong các trang trại. Tuy nhiên, thực khách thường không mặn mà với các loại thịt không có tính “hoang dã” như vậy.

Để đáp ứng nhu cầu thịt rừng lớn đến như vậy thì cánh thợ săn phải săn bắn đến cạn kiệt thú. Có những “tụ điểm” thu mua thú rừng và khu nhà hàng đặc sản thịt rừng vốn hoạt động rầm rộ vài năm trước, nay phải đóng cửa hoặc tìm nguồn thịt rừng từ nhiều nguồn khác nhau do cạn kiệt nguồn thịt rừng tại địa phương.

Khi-moc
Khỉ mốc hoang dã bị bắt nuôi nhốt. Ảnh Phạm Văn Thế

Điều đó dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng của một số loài, trong đó có những loài nguy cấp như bò tót, voọc … Ngoài ra, sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể trong một hoặc một số loài lại có thể dẫn đến nguy cơ mất cân bằng trong tự nhiên. Một số loài có hại có thể sẽ phát triển rất mạnh do không có thiên địch. Một số loài khác, đặc biệt là thú ăn thịt, lại đứng trước nguy cơ chết đói do không kiếm được thức ăn.

Quy trình kiểm dịch thịt động vật ở Việt Nam

Không chỉ Việt Nam, mà nhiều nước kém phát triển khác ở châu Phi, Nam Á, cũng ăn thịt thú rừng. Thậm chí, ngay cả quốc gia có nền kinh tế, giáo dục, y tế phát triển như Mỹ, Canada, châu Âu, Nhật Bản... cũng tiêu thụ một số lượng lớn thịt rừng. Tuy nhiên có sự khác biệt lớn trong cách săn bắn và tiêu thụ thịt rừng ở châu Âu so với Việt Nam, bao gồm cả mục đích săn bắn, các loài được phép săn bắn và quan trọng hơn là quy trình kiểm dịch nghiêm ngặt, hạn chế tối đa khả năng lây bệnh cho người và lan ra cộng đồng. 

Thịt rừng ở Việt Nam thường được dân buôn thu gom từ nhiều nguồn. Người ta sử dụng các chất hoá học để chống thối rữa, đông lạnh rồi sau đó mới chuyển đến các nơi tiêu thụ. Nó không còn là đặc sản nữa mà là một loại thực phẩm lạ chưa qua kiểm dịch. Người ăn chắc chắn sẽ không tránh khỏi các loại chất độc hoá học đã ngấm vào từng miếng thịt được ướp đủ thứ gia vị để giấu đi mùi thật.

Nguy hiểm hơn, dù vẫn còn có tranh cãi trong giới khoa học, chúng ta không thể phớt lờ các bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa việc ăn thịt thú rừng, nhất là ăn theo kiểu sống-tái-nội tạng, với nguy cơ nhiễm các loại bệnh chưa từng biết đến, một số bệnh lại có khả năng lây lan rất cao, dẫn đến đại dịch khu vực hoặc thậm chí toàn cầu. Ebola, SARS, H5N1 là ví dụ. 

Vì vậy, việc sử dụng thịt rừng một cách bừa bãi không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người trực tiếp tiêu thụ mà còn có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng.

Cay-van-moc
Cây vằn mốc bị bắt từ rừng và nhốt chờ khách mua.  Ảnh Phạm Văn Thế

Từ thực trạng trên, Việt Nam cần tăng cường thực thi pháp luật để hạn chế, tiến đến kiểm soát được tình trạng săn bắn, vận chuyển, mua bán, tiêu thụ thịt và các sản phẩm từ động vật hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý hiếm là yêu cầu đã được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần.

Mọi người đừng góp phần biến rừng Việt Nam thành 'rừng lặng', hay để nó là nơi phục hồi sự sống. Nếu bạn là người có thói quen sử dụng động vật hoang dã, và nếu bạn chưa sẵn sàng để nghĩ đến những lợi ích thiên nhiên, thì ít nhất bạn hãy nghĩ đến sức khỏe của chính bạn và những người xung quanh.

Trần Lê Trà
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF)


Link: http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/trong-nuoc/rung-viet-nam-truoc-nguy-co-khong-con-tieng-thu-it-tieng-chim-3367707.html

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Loài dơi mới thuộc giống Dơi mũi ba lá Aselliscus dongbacana ở vùng Đông Bắc

Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm và Công nghệ Việt Nam cùng các cộng sự đến từ Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hungary, Viện Nghiên cứu quốc gia về các bệnh truyền nhiễm (Nhật Bản), Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội và Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử tự nhiên (Cộng hoà Pháp), đã phát hiện và mô tả một loài dơi mới thuộc giống Dơi mũi ba lá, Aselliscus, họ Hipposideridae.
Aselliscus dongbacana
A - A. stoliczkanus complex (IEBR-T5024, ♂); B - A. dongbacana sp.n. (holotype IEBR-VN11-0143, ♂)

Trước nghiên cứu này, giống Aselliscus được cho là chỉ có hai loài: A. tricuspidatus chỉ có ở các quần đảo thuộc Thái Bình Dương và A. stoliczkanus phân bố rộng trên đất liền của Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Tuy nhiên, kết quả so sánh về hình thái và trình tự gene những mẫu thu được thuộc giống Aselliscus tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cho thấy loài A. stoliczkanus thực chất là tập hợp gồm nhiều loài có hình thái rất giống nhau (nên gọi là A. stoliczkanus complex). Trong đó, những mẫu vật thu được tại những khu vực có núi đá vôi ở vùng Đông Bắc Việt Nam thuộc về một loài mới.

Loài dơi mới có tên khoa học là Aselliscus dongbacana Tu, Csorba, Gorfol, Arai, Son, Thanh & Hassanin, 2015 và tên tiếng Việt là Dơi mũi ba lá Đông Bắc, được đặt dựa trên vùng phân bố hiện biết của loài mới.
Các mẫu chuẩn (holotype và paratypes) của loài A. dongbacana được thu tại Động Nà Phòng, Vườn Quốc Gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Ngoài ra, các mẫu thuộc về loài dơi mới cũng được thu tại các Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (Bắc Kạn), Khau Ca (Hà Giang), Hữu Liên (Lạng Sơn) và Phia Oắc-Phia Đén (Cao Bằng).
Tình trạng bảo tồn: Loài Dơi mũi ba lá Đông Bắc có phân bố giới hạn trong vùng núi đá vôi ở Đông Bắc Việt Nam. Nơi đây cũng là nơi sống lý tưởng cho nhiều loài sinh vật của Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các vùng núi đá vôi này đã và đang bị suy thoái, chủ yếu do các hoạt động gây hại của con người. Hệ quả là không chỉ loài Dơi mũi ba lá Đông Bắc mà hầu hết các loài động thực vật nơi đây đang ngày càng bị đe doạ tuyệt chủng. Chính vì vậy, cần phải tiến hành thêm những nghiên cứu tại những khu vực này để bổ sung những dẫn liệu khoa học giúp cho việc quy hoạch và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học trong vùng có hiệu quả hơn.
Kết quả nghiên cứu trên đã được đăng tải trên Tạp chí chuyên ngành ACTA CHIROPTEROLOGICA: Vuong Tan Tu, Gábor Csorba, Tamás Görföl, Satoru Arai, Nguyen Truong Son, Hoang Trung Thanh and Alexandre Hassanin. 2015. Description of A New Species of the Genus Aselliscus (Chiroptera, Hipposideridae) from Vietnam. Acta Chiropterologica 17 (2): 233-254.
Nguồn tin: TS. Vương Tân Tú - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Xử lý tin: Thanh Hà

Theo http://vast.ac.vn/

Loài Thực vật mới tại Vũ Quang: Homalium glandulosum

MÔ TẢ LOÀI THỰC VẬT MỚI
TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG
Homalium-glandulosum_1_Credit Viet Hung

Tên loài: Homalium glandulosum Tagane & V. H. Nguyen
Họ: Flacourtiaceae/Salicaceae
Địa điểm phát hiện: Tiểu khu 180B. Vườn Quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh
Tên tạp chí đã đăng: Phytokey: số 58: Trang 97-104. Date: 12/1/2016


Mô tả

Cây gỗ, cao đến 9 m. Vỏ màu nâu xám. Cành non có lông nhưng sớm rụng, có rất nhiều bì khổng, các bì khổng có kích thước nhỏ, cỡ 0,3–0,9 × 0,1–0,25 mm, màu trắng. Cành non khi khô màu đen, khi già màu nâu xám. 

Homalium-glandulosum_2_Credit Viet Hung

Lá đơn mọc cách; cuống lá dài 2,5–5 mm; lá khi non có lông, khi khô màu đen; phiến lá hình trứng hay hình thuôn dài, kích thước (2,4–)3,5–9,8 × (1,0–)1,2–3,1 cm, cả 2 mặt có lông, mũi nhọn, gốc cuống lá dạng nêm, có 2-5 cặp tuyến ở cuống lá, mép phiến lá có răng cưa, gân chỉnh nổi  rõ ở cả hai mặt phiến lá, có 6-7 cặp gân. Lá kèm hình tam giác hep, cỡ 5 x 1 mm, mỏng như giấy, có 4-6 tuyến mỗi mép, phía trên tuyến thường nhọn, có một tuyến phía trên, màu đen khi khô, có nhiều lông, nhưng sớm bị rụng đi. 


Homalium-glandulosum_3_Credit Viet Hung

Cụm hoa mọc ở nách lá, phân nhánh, mỗi nhánh mang 7-20 hoa, dài 4-9 cm, lá bắc tiêu biến. Cuống hoa dài 2,5-3,5 cm, nhiều lông. Lá bắc con hình trứng hẹp, cỡ  2,5–3 mm, mép có 3–5 cặp tuyến mỗi bên, nhẵn trừ phần gần gốc, sớm rụng. Hoa thơm, cỡ 6–8 x 2,5 mm,  Ống đài cỡ 2,5 mm, nhiều lông; thùy đài 8, cỡ 3 x 0,5 mm; dạng mác hẹp. Thùy tràng 8, dạng mác ngược, cỡ 3,5 × 1,1 mm, mỏng, viền có lông mi; có 8 tuyến đĩa, cỡ 0,3 mm, cuống tuyến dài 0,15 mm. Nhị 8; chỉ nhị dài 5,5 mm; bao phấn dài 0,4 mm. Bầu giữa, nhụy 3 hoặc 4, vòi nhụy dạng chỉ, dài 5 mm, dính với nhau ở 1/3 của vòi nhụy, có lông ở phía dưới ½ vòi nhụy. 3 hoặc 4 giá noãn, mỗi giá noãn mang 3-4 noãn. Quả chưa thấy.

Homalium-glandulosum_4_Credit Viet Hung





















All photos by Viet Hung, Vu Quang National Park, Ha Tinh province