Hiển thị các bài đăng có nhãn Fauna New species. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Fauna New species. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Loài rắn mới cho khoa học ở VQG Côn Đảo, Bà Rịa-Vũng Tàu

Oligodon condaoensis
Rắn Khiếm Côn Đảo Oligodon condaoensis ngoài tự nhiên


Các nhà khoa học Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Vườn Quốc gia Côn Đảo và Bảo tàng Hoàng gia Ontario, Canada vừa phát hiện và mô tả một loài rắn mới tại Vườn Quốc Gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. 
Loài rắn mới này được đặt tên là Rắn Khiếm côn đảo Oligodon condaoensis, theo địa danh thu mẫu để mô tả loài mới.

Loài rắn mới này có chiều dài trung bình khoảng 60 cm, màu đen hoặc có sọc mờ dọc theo thân, bụng trắng. Rắn Khiếm Côn Đảo là loài rắn không độc, hoạt động ban ngày. Đây là loài rắn đặc hữu có vùng phân bố rất hẹp ở Côn Đảo và cần được nghiên cứu bảo tồn trong thời gian tới.

Phát hiện mới này được đăng trên tạp chí chuyên ngành Zootaxa 4139(2): 261-273, 2016. Thông tin chi tiết về loài mới này có thể tham khảo tại website: http://www.mapress.com/j/zt/article/view/zootaxa.4139.2.9

Nguồn tin: Nguyễn Đăng Hoàng Vũ – Viện Sinh học nhiệt đới

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Loài dơi mới thuộc giống Dơi mũi ba lá Aselliscus dongbacana ở vùng Đông Bắc

Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm và Công nghệ Việt Nam cùng các cộng sự đến từ Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hungary, Viện Nghiên cứu quốc gia về các bệnh truyền nhiễm (Nhật Bản), Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội và Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử tự nhiên (Cộng hoà Pháp), đã phát hiện và mô tả một loài dơi mới thuộc giống Dơi mũi ba lá, Aselliscus, họ Hipposideridae.
Aselliscus dongbacana
A - A. stoliczkanus complex (IEBR-T5024, ♂); B - A. dongbacana sp.n. (holotype IEBR-VN11-0143, ♂)

Trước nghiên cứu này, giống Aselliscus được cho là chỉ có hai loài: A. tricuspidatus chỉ có ở các quần đảo thuộc Thái Bình Dương và A. stoliczkanus phân bố rộng trên đất liền của Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Tuy nhiên, kết quả so sánh về hình thái và trình tự gene những mẫu thu được thuộc giống Aselliscus tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cho thấy loài A. stoliczkanus thực chất là tập hợp gồm nhiều loài có hình thái rất giống nhau (nên gọi là A. stoliczkanus complex). Trong đó, những mẫu vật thu được tại những khu vực có núi đá vôi ở vùng Đông Bắc Việt Nam thuộc về một loài mới.

Loài dơi mới có tên khoa học là Aselliscus dongbacana Tu, Csorba, Gorfol, Arai, Son, Thanh & Hassanin, 2015 và tên tiếng Việt là Dơi mũi ba lá Đông Bắc, được đặt dựa trên vùng phân bố hiện biết của loài mới.
Các mẫu chuẩn (holotype và paratypes) của loài A. dongbacana được thu tại Động Nà Phòng, Vườn Quốc Gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Ngoài ra, các mẫu thuộc về loài dơi mới cũng được thu tại các Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (Bắc Kạn), Khau Ca (Hà Giang), Hữu Liên (Lạng Sơn) và Phia Oắc-Phia Đén (Cao Bằng).
Tình trạng bảo tồn: Loài Dơi mũi ba lá Đông Bắc có phân bố giới hạn trong vùng núi đá vôi ở Đông Bắc Việt Nam. Nơi đây cũng là nơi sống lý tưởng cho nhiều loài sinh vật của Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các vùng núi đá vôi này đã và đang bị suy thoái, chủ yếu do các hoạt động gây hại của con người. Hệ quả là không chỉ loài Dơi mũi ba lá Đông Bắc mà hầu hết các loài động thực vật nơi đây đang ngày càng bị đe doạ tuyệt chủng. Chính vì vậy, cần phải tiến hành thêm những nghiên cứu tại những khu vực này để bổ sung những dẫn liệu khoa học giúp cho việc quy hoạch và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học trong vùng có hiệu quả hơn.
Kết quả nghiên cứu trên đã được đăng tải trên Tạp chí chuyên ngành ACTA CHIROPTEROLOGICA: Vuong Tan Tu, Gábor Csorba, Tamás Görföl, Satoru Arai, Nguyen Truong Son, Hoang Trung Thanh and Alexandre Hassanin. 2015. Description of A New Species of the Genus Aselliscus (Chiroptera, Hipposideridae) from Vietnam. Acta Chiropterologica 17 (2): 233-254.
Nguồn tin: TS. Vương Tân Tú - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Xử lý tin: Thanh Hà

Theo http://vast.ac.vn/

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Loài Ong cự mới cho khoa học từ Việt Nam: Phalgea maculata

Coleocentrus_excitator2_lindsey
Minh hoạ Ong cự trong phân họ Acaenitinae. Ảnh Wikipedia
Các nhà khoa học Việt Nam và Hà Lan vừa công bố 1 loài côn trùng mới cho thế giới được phát hiện từ Việt Nam. Thêm vào đó, 1 loài côn trùng khác cùng họ cũng lần đầu tiên được ghi nhận ở nước ta, trước đây chỉ thấy phân bố ở Trung Quốc.

Acaenitinae là một phân họ có trên 250 loài thuộc họ Ong cự Ichneumonidae. Mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu về sinh học của Acaenitinae nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng phân họ này bao gồm các loài ngoại ký sinh của các loài sâu sống trong gỗ. 

Ong-cu-Ichneumonidae_Wiki
Minh hoạ Ong cự họ Ichneumonidae. Ong cự thường có thân nhỏ, mảnh và dài, râu dài. Ảnh Wikipedia

Phalgea là một giống ong nhỏ chỉ gồm hai loài được ghi nhận trước đây ở Ma-lai-xia và Trung Quốc. 

Dựa trên các mẫu vật thu được gần đây, cả hai loài thuộc giống ong này đã được phát hiện ở Việt Nam, chúng bao gồm Phalgea maculata và P. melaptera

Trong đó loài Ong cự Phalgea maculata Pham & Achterberg là loài mới cho khoa học. 

Về mặt hình thái, P. maculata tương đối giống với loài P. melaptera Wang ở Trung Quốc. 

Tuy nhiên loài mới ở Việt Nam có thể phân biệt với loài ở Trung Quốc bởi sự xuất hiện của một đốm vàng trên ô marginal của cánh trước, đồng thời hai đốm trong trên gân 2m-cu của cánh trước hoàn toàn phân tách với nhau. 

Đây là những đại diện đầu tiên của phân họ Acaenitinae được ghi nhận ở Việt Nam. Công bố này được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3947 (1): 146–150.

Biên tập: TS. Phạm Thị Nhị (ptnhi2@yahoo.com)- Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, VAST


A review of the genus Phalgea Cameron (Hymenoptera: Ichneumonidae: Acaenitinae) with description of a new species from Vietnam

NHI THI PHAM, CEES VAN ACHTERBERG
Abstract: 
In this paper, the genus Phalgea is reviewed. A new species, Phalgea maculata sp. nov., is described and illustrated from Vietnam. In addition, P.melaptera Wang 1989 is recorded as new for the country. It is the first time the subfamily Acaenitinae is reported from Vietnam.

Keywords: 
Phalgea, new species, new record, parasitoid, Vietnam

Links: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3947.1.11
http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03947p150f.pdf

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Một loài tôm nước ngọt mới cho khoa học trong hang động của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng


Hai nhà khoc học Đỗ Văn Tứ và Nguyễn Tống Cường thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phát hiện một loài tôm càng nước ngọt mới. Điều thú vị là loài tôm mới được phát hiện trong một số hang động của Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Phát hiện mới được công bố trên Tạp chí Sinh học, số 36(3) trang 301-308

Loài tôm Phong Nha, Macrobrachium phongnhaense có đặc điểm đặc trưng bởi cơ thể trong suốt, mắt bị tiêu giảm, chân bò thứ hai mịn và thanh mảnh, không có gai trước hậu môn. Loài này sống trong các suối và vùng nước đọng ở trong các hang động, có thể xa cửa hang tới 4-5 km như trong hang Va. Tại đây, hoàn toàn không có ánh sáng và nước trong hang chủ yếu là nước thấm từ các khe đá và nền đá. Nền đáy có thể là đáy bùn hoặc bùn pha lẫn cát.




Hình. Ảnh mẫu vật sống loài tôm Macrobrachium phongnhaense 
(Nguồn: TS. Đỗ Văn Tứ)


Cho tới nay, loài mới chỉ được tìm thấy trong một số hang động (hang Va, hang 35, hang Sơn Đoòng) tại Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Loài tôm mới chỉ được thu được trong 3 hang động tại vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. Theo nhận xét bước đầu của Ts. Đỗ Văn Tứ, số lượng của các loài này trong các hang động không nhiều, ước tính số lượng tối đa dưới 1000 cá thể. Các mối đe dọa hiện tại và trong tương lai đối với loài này là khai thác nước ngầm, du lịch, ô nhiễm môi trường nước. Với khu vực phân bố rất hẹp, số lượng cá thể ít, cùng với các mối đe dọa tiềm tàng, loài này đủ tiêu chuẩn để có thể đưa vào thứ hạng Sẽ nguy cấp theo tiêu chí VU D1 trong Danh lục đỏ của IUCN
  
Đến nay, giống tôm nước ngọt Macrobrachium ở Việt Nam có 22 loài, vùng Đông Phương có 123 loài.

Xử lý tin: Đức Anh
Cung cấp thông tin: TS. Đỗ Văn Tứ

Nguồn tài liệu: Tạp Chí Sinh học, số 36(3): http://vjs.ac.vn/index.php/vjbio/article/view/5969 

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015

Phát hiện Phụ loài Ốc núi Garnieria mới ở Sơn La

Oc-nui-Garnieria-mouhoti-nhuongi-1
Phụ loài ốc núi (subspecies) mới có tên khoa học Garnieria mouhoti nhuongi Do, 2015, được phát hiện ở dãy núi đá vôi thuộc xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

Phụ loài thuộc cỡ lớn, hình trụ dài, màu nâu sẫm với nhiều vệt chỉ ngắn, trắng trên mặt vỏ; miệng vỏ hình ôvan, vành miệng dày và mở rộng; chiều cao vỏ dao động 37-42 mm, chiều rộng vỏ 8-9 mm, số vòng xoắn 10-11.

Phụ loài ốc núi này sống bám trên đá, ưa sống những nơi có độ ẩm cao như các khe, rãnh, chúng sử dụng thức ăn là rêu, tảo sống bám trên bề mặt đá hoặc các vụn hữu cơ lắng đọng. Chúng hoạt động mạnh vào các tháng mùa mưa (khoảng tháng 5 đến tháng 10 hàng năm), đây cũng là giai đoạn chúng có hoạt động sinh sản. Mật độ cá thể trong quần thể nơi phát hiện loài này khá cao, khoảng 3-4 cá thể/m2.

Oc-nui-Garnieria-mouhoti-nhuongi
Phụ loài ốc núi mới Garnieria mouhoti nhuongi Do, 2015

Phụ loài Garnieria mouhoti nhuongi và nhiều loài ốc núi khác ngoài giá trị tạo nên tính đa dạng sinh học, là mắt xích quan trọng trong các chuỗi và lưới thức ăn, một số còn được dùng làm thực phẩm (như nhóm loài ốc miệng tròn Cyclophorus, ốc núi Camaena, ốc sên Achatina), trong y học và sản xuất đồ thủ công, chúng còn được đề xuất như nhóm sinh vật chỉ thị đa dạng động vật không xương sống ở những sinh cảnh tự nhiên và coi chúng như chỉ số của sự xáo trộn cho lớp phủ thảm thực vật.

Hiện nay, một số hoạt động của con người như phá rừng lấy đất canh tác, làm đường giao thông hay xây dựng các thủy điện, hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường sống của sinh vật nói chung và các loài ốc núi nói riêng. Năm 2014, Ủy Ban nhân dân và Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La đã có quyết định và nghị quyết về bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Sơn La đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, đây là một trong số nhiều biện pháp góp phần bảo tồn và gìn giữ tài nguyên sinh vật của tỉnh nhà.

Phụ loài mới Garnieria mouhoti nhuongi đã được tác giả Đỗ Đức Sáng và Đỗ Văn Nhượng công bố trên tạp chí chuyên ngành Ruthenica, Russian Malacologia Journal, Tập 25, Số 1, 2015.

Đỗ Đức Sáng (Trường Đại học Tây Bắc) <http://susta.vn>

Ruthenica, 2015, vol. 25, No. 1: 1-9. Published online February 16, 2015

The terrestrial snail family Clausiliidae (Gastropoda: Pulmonata) from Son La, Vietnam, with description of a new subspecies

DO DUC SANG - Department of Zoology, Faculty of Biology, Tay Bac University, Vietnam, E-mail: doducsangdhtb@gmail.com; 
DO VAN NHUONG - Faculty of Biology, Hanoi National University of Education, Vietnam 
urn:lsid:zoobank.org:pub:552854A9-D121-4508-AAFA-FC35D10FE65F

ABSTRACT. This paper reports the systematics of the Clausiliidae species occurring in Son La Province, Vietnam. Specimens of 15 species and subspecies of Clausiliidae from Son La were investigated based on their shell characteristics. The subspecies Garnieria mouhoti nhuongi subsp. nov. was collected in Phu Yen, Muong Do, approximately 200 km NE of the type locality of the nominotypical subspecies Garnieria mouhoti mouhoti. This is the first species of genus Garnieria Bourguignat, 1877 from Vietnam

http://www.ruthenica.com/documents/vol25_1-09_Do_Do


a

Hai loài Chân kép mới ở Lào và mô tả lại bốn loài ở Việt Nam

Hai loài chân kép (Cuốn chiếu) mới cho khoa học là Desmoxytes rhinoceros và Desmoxytes rhinoparva phát hiện ở Nam và Bắc Lào đã được các nhà khoa học Thái Lan và Nga mô tả và minh hoạ, và vừa được công bố trên tạp chí Zootaxa 3931 (4): 483–504.

Desmoxytes-enghoffi
Desmoxytes enghoffi Nguyen et al. 2005, từ Quảng Bình

Thêm vào đó 4 loài chân kép khác cũng thuộc giống Desmoxytes được công bố bởi Carl Attems năm 1938 ở Việt Nam đã được mô tả lại. Đó là: Desmocytes aspera, D. pilosa, D. spectabilis  D. cervaria


Giống chân kép Desmoxytes còn được gọi là chân kép rồng hay cuốn chiếu rồng (Dragon millipede) do hình dạng giống những con rồng trong truyền thuyết. Hiện nay, đã có 35 loài cuốn chiếu rồng đã được ghi nhận, phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, đã gặp 13 loài chân kép rồng. 



Two new species of dragon millipedes, genus Desmoxytes Chamnerlin, 1923, from Laos (Diplopoda: Polydesmida: Paradoxosomatidae), with redescriptions of all four species of Attems from Vietnam

NATDANAI LIKHITRAKARN, SERGEI I. GOLOVATCH, SOMSAK PANHA

Abstract
Two new species of Desmoxytes are described and abundantly illustrated: D. rhinoceros sp. n. and D. rhinoparva sp. n., from southern and northern Laos, respectively. Illustrated redescriptions of all four Vietnamese Desmoxytes species proposed by Carl Attems are also provided, based on type material.

Keywords
Millipede, Desmoxytes, new species, Laos

http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3931.4.2

http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03931p504f.pdf

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Loài Ve sầu mới phát hiện ở Ninh Bình

Ve-Sau-Pomponia-brevialata-1
 Một loài ve sầu mới cho khoa học, có tên là Pomponia brevialata, đã được phát hiện ở Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.

Gần đây, các nhà khoa học của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Trường Đại học Connecticut, Hoa Kỳ và Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ đã nghiên cứu về phân loại học của giống ve sầu Pomponia ở Việt Nam và Cămpuchia. Kết quả nghiên cứu đã công bố 1 loài mới cho khoa học và ghi nhận thêm 1 loài mới cho khu hệ ve sầu của Cămpuchia.

Loài ve sầu mới cho khoa học được đặt tên là Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015. Loài này được phân biệt với các loài khác của nhóm loài Pomponia linearis bởi các đốm vệt màu nâu trên gân r, r-m, và m của cánh trước; bụng con đực hình phễu. Loài này giống với loài Pomponia cinctimanus (Walker, 1850) và loài Pomponia ramifera (Walker, 1850) (cả hai loài đều phân bố ở Sylhet, Bănglađét). Tuy nhiên, loài này phân biệt với hai loài trên bởi các gai của clasper hẹp hơn và dài hơn rõ rệt cũng như các đốm vệt màu nâu trên cánh trước.

Ve-Sau-Pomponia-brevialata
Hình 1: Loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, cơ thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bụng. E, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Mẫu vật nghiên cứu của loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015 được thu tại Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật nghiên cứu được lưu giữ tại Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Với việc công bố thêm loài mới này đã nâng số tổng loài thuộc giống Pomponia lên 36 loài. Trong đó Việt Nam có 5 loài. 

Loài ve sầu ghi nhận mới cho khu hệ ve sầu Cămpuchia là loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009. Loài này được công bố là loài mới cho khoa học từ năm 2009 với mẫu vật thu được ở Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ve-Sau-Pomponia-backanensis
Hình 2: Loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Nguồn tin: Phạm Hồng Thái
Theo Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

Tóm tắt nội dung bài báo được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3925 (4): 562–572 

Cicada genus Pomponia Stål, 1866 (Hemiptera: Cicadidae) from Vietnam and Cambodia, with a new species, a new record, and a key to the species 

HONG-THAI PHAM1,4, YOUNG JUNE LEE 2 & JEROME CONSTANT 3 
1 Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet St, Hanoi, Vietnam. E-mail: phamthai@vnmn.vast.vn 
2 Department of Ecology and Evolutionary Biology, University of Connecticut, 75 North Eagleville Road, Storrs, CT 06269, USA 
3 Royal Belgian Institute of Natural Sciences, Department of Entomology, Vautierstreet 29, B-1000 Brussels, Belgium 
4 Corresponding author 

Abstract 
The genus Pomponia Stål, 1866 from Vietnam and Cambodia is reviewed . Pomponia brevialata Lee & Pham, sp. nov. is described from Vietnam. Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009 is added to the Cambodian cicada fauna. A key to the seven Vietnamese and Cambodian species of the genus Pomponia Stål, 1866 is provided: P. linearis (Walker, 1850), P. backanensis Pham & Yang, 2009, P. brevialata Lee & Pham, sp. nov., P. subtilita Lee, 2009, P. piceata Distant, 1905, P. daklakensis Sanborn, 2009, and P. orientalis (Distant, 1912). Synonymic lists, information on geographical distributions, and material examined for the Vietnamese and Cambodian species of Pomponia are provided. 

Key words: Auchenorrhyncha, Psithyristriini, Pomponia brevialata, Pomponia backanensis, Pomponia linearis, Pomponia subtilita, Pomponia piceata, Pomponia daklakensis, Pomponia orientalis, distribution.
For final version: http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03925p572f.pdf

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

Một loài Cóc mới từ Lang Bian, Lâm Đồng


Nhóm các nhà khoa học Nga và Úc vừa công bố một loài Cóc mới cho khoa học từ Lộc Bắc, khu vực phía Tây cao nguyên Lang Bian, Lâm Đồng, Việt Nam. Kết quả được công bố trên tạp chí chuyên ngành Zootaxa, số 3931(2): 221-252.

Loài Cóc mày mắt cam, Leptolalax pyrrhops Poyarkov et al., 2015 từ Lâm Đồng, Việt Nam

Loài Cóc mới, Leptolalax pyrrhops Poyarkov et al., 2015 thuộc giống Leptolalax, họ Megophryidae, bộ không đuôi (Anura), và được đặt tên Việt Nam: Cóc mày mắt cam.  Loài mới chỉ ghi nhận phân bố ở khu vực rừng thường xanh núi cao từ 800-1000m và được xem là loài phân bố duy nhất phân bố ở phía nam Việt Nam trong giống Leptolalax. Nhóm các nhà khoa học cũng khuyến nghị xếp hạng loài ở mức DD của Danh lục đỏ của IUCN.
Giống Leptolalax với 43 loài, phân bố rộng ở khu vực Đông Nam Á, bao gồm cả Việt Nam.

Nguồn: http://dx.doi.org/10.11646/zootaxa.3931.2.3
Biên tập: Đức Anh



Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

126 Sinh vật mới cho khoa học phát hiện từ Việt Nam năm 2014

preserving biodiversity - Fotolia - Danielle Bonardelle
Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng đối với môi trường và đời sống con người, đảm bảo chức năng hệ sinh thái, cung cấp các nguyên liêụ thiết yếu như thực phẩm, dược liệu, các nguồn gen quý của các loại cây trồng vật nuôi…
Mức độ đa dạng sinh học càng cao càng đảm bảo sự bền vững của hệ sinh thái, và đảm bảo cuộc sống của con người, đặc biệt trong bối cảnh ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. 


Việt Nam được coi là một trong những điểm nóng về đa dạng sinh học trên thế giới với khoảng gần 19 nghìn loài động vật và gần 14 nghìn loài thực vật được biết đến. Tuy nhiên con số đó vẫn tiếp tục tăng lên khi mà mỗi năm có hàng trăm loài mới cho khoa học được phát hiện từ Việt Nam. 

Với những nỗ lực đầy say mê của các nhà khoa học Việt Nam và đồng nghiệp của họ, những phát hiện về các loài sinh vật mới cho khoa học ở Việt Nam đã đóng góp thông tin rất giá trị cho hệ động thực vật Việt Nam, càng làm rõ thêm tính đa dạng sinh học của Việt Nam, và cung cấp thêm những dẫn liệu khoa học cho việc nghiên cứu các quan hệ phát sinh loài, tiến hóa và bảo tồn.

Chúng tôi xin giới thiệu với độc giả góc nhìn toàn cảnh những loài động vật, thực vật và nấm được phát hiện mới cho khoa học với các mẫu chuẩn được thu thập ở Việt Nam trong năm 2014. Theo thống kê của trang www.biodivn.com, 80 loài động vật và 46 loài thực vật, nấm mới đã được phát hiện ở Việt Nam trong năm qua

Các loài động vật

Có 80 loài động vật mới được công bố, chủ yếu thuộc về các nhóm Côn trùng (chiếm tỷ lệ 64%), Lưỡng cư (chiếm 16%), và các nhóm còn lại như Bò sát, Cá, Cổ sinh vật, Giáp xác, Thân mềm, Thú (chiếm tỷ lệ từ 2 đến 5%) (Xem hình dưới). Trong đó, có 45% số loài được phát hiện ở khu vực miền Bắc, 43% từ khu vực miền Nam và chỉ có 12% từ khu vực miền Trung Việt Nam. 

ty-le-phan-tram-cac-loai-dong-vat-moi-2014
Biểu đồ tỷ lệ phần trăm nhóm loài Động vật mới phát hiện từ Việt Nam năm 2014

Hiện nay, rất khó có thể để phát hiện những loài thú mới ở Việt Nam, nhưng các nhà khoa học vẫn tìm được hai loài thú mới, Dơi muỗi Hypsugo dolichodon ở Đồng Nai và Chuột cây thomas Chiromyscus thomasi ở Sơn La. 

Bên cạnh đó, cũng rất gây ấn tượng trong năm 2014 là việc tìm thấy những loài thú cổ đại (đã tuyệt chủng) ở Việt Nam. Các nhà khoa học đã công bố 3 loài thú cổ đại từ các mẫu hóa thạch thu được ở Na Dương, Lạng Sơn, đó là: Tê giác na dương Epiaceratherium naduongenseThú than phương đông Bakalovia orientalis, và Cá nước ngọt cổ đại Planktophaga minuta.

Chuot-cay-thomas-Chiromyscus-thomasi
Chuột cây thomas Chiromyscus thomasi mới cho khoa học phát hiện ở Sơn La. Nguồn ảnh http://zookeys.pensoft.net/

Các loài Thực vật, nấm và địa y

Trong tổng số 46 loài thực vật, nấm và địa y mới cho khoa học được phát hiện ở Việt Nam, 50% số loài được đến từ miền Nam, 33% số loài đến từ miền Bắc và 17% số loài đến từ miền Trung. Đặc biệt, việc tập trung nghiên cứu tại tỉnh Lâm Đồng đã cho kết quả đáng kinh ngạc với 14 loài thực vật được công bố, chiếm 30,4% tổng số loài đã phát hiện. 

Hầu hết các loài thực vật mới đều thuộc dạng cây bụi chiếm 39%, các dạng cây còn lại như cây gỗ, thân thảo, và dây leo chiếm tỷ lệ lần lượt 26%, 17%, và 7% (Xem hình dưới). 

ty-le-phan-tram-cac-loai-thuc-vat-moi-2014
Biểu đồ tỷ lệ phần trăm nhóm loài Thực vật mới phát hiện từ Việt Nam năm 2014

Việc phát hiện loài Thông năm lá rủ Pinus cernua được đánh giá là phát hiện ấn tượng nhất về thực vật trong năm 2014. Bởi vì, trong nhiều năm qua chưa có phát hiện mới nào về các loài cây Thông. 

Thong-5-la-ru-pinus-cernua
Thông năm lá rủ Pinus cernua phát hiện ở Sơn La

Năm 2014 có thể được đánh giá là một năm thành công rực rỡ của các nhà khoa học sinh vật. Theo WWF, trong năm 2012-2013, chỉ mới có khoảng 100 loài sinh vật mới được phát hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ riêng năm 2014, đã tìm thấy 126 loài mới, tăng 26% so với cả hai năm 2012-2013. 

Thành công này có được từ các nguyên nhân sau: 

1) sự tập trung vào các nhóm sinh vật có kích thước nhỏ (côn trùng, thực vật dạng cây bụi), là những nhóm ít được quan tâm nghiên cứu trước đây; 
2) sự nỗ lực khảo sát, nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam trong sự hợp tác với các đồng nghiệp nước ngoài; và 
3) sự hỗ trợ kinh phí của các tổ chức quốc tế và chính phủ Việt Nam vào công tác nghiên cứu của ngành khoa học này. 

Việc phát hiện những loài mới ở Việt Nam cũng đang chỉ ra những thách thức to lớn đối với việc bảo vệ và bảo tồn đa dạng sinh học. Các loài sinh vật mới được phát hiện đều có vùng phân bố hẹp và có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng cao, ví dụ những loài bò sát, ếch nhái, thực vật lá kim… Sự phá rừng, chuyển đổi đất rừng và khai thác quá mức tài nguyên sinh vật đang là những mối đe dọa chính đến nơi sống của các loài mới nói riêng và các loài sinh vật nói chung. Nơi sống bị đe dọa là nguyên nhân đẩy các loài này vào nguy cơ biến mất khỏi hệ sinh thái. 

Trong năm 2015, hy vọng với những chính sách bảo tồn mà chính phủ đã đưa ra, như quy hoạch đa dạng sinh học toàn quốc, cấm khai thác gỗ tự nhiên,… sẽ có tác động tích cực đến việc bảo vệ các hệ sinh thái, nơi sống của các loài. Đồng thời, tiếp tục với những nỗ lực của các nhà khoa học, chắc chắn số loài sinh vật mới được phát hiện trong năm 2015 sẽ không chỉ dừng lại ở con số 126 loài như năm 2014.

Tác giả: Phạm Văn Thế - Nguyễn Đức Anh

Đính chính: Một phần nội dung bài này đã được đăng trên tạp chí Tia Sáng (Bộ Khoa học và Công nghệ) ở trang 7, Số 2 - Ngày 20.1.2015 với tiêu đề "Việt Nam phát hiện 126 loài sinh vật mới". Nhưng "Ban biên tập" tạp chí nói trên có sự nhầm lẫn về nguồn thông tin nên chúng tôi xin đính chính lại rằng: Nội dung bài này do tác giả tổng hợp từ BIODIVN.COM và thống kê, chứ không phải do WWF tổng hợp hay công bố!

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

Loài cá cóc Tylototriton anguliceps mới cho khoa học


Ca-coc-Tylototriton-anguliceps
Dựa trên các số liệu so sánh sự sai khác về hình thái, di truyền phân tử và cấu trúc xương sọ, các nhà khoa học Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Sinh thái và tài nguyên Sinh vật (Việt Nam),
Đại học Tây Bắc, Đại học Cologne (Đức), và Đại học Kyoto (Nhật Bản) phát hiện, mô tả và công bố loài cá cóc mới trên tạo chí quốc tế chuyên nghành Current Herpetology (Nhật Bản).


Loài mới có phân bố ở Việt Nam (Điện Biên, Sơn La); Thái Lan (Chiang Rai) và có thể phân bố ở Mianma và Lào. Loài mới được có tên khoa học là Tylototriton anguliceps Le, Nguyen, Nishikawa, Nguyen, Pham, Matsui, Bernardes & Nguyen, 2015 (Cá cóc gờ sọ mảnh) do có gờ xương trên sọ hẹp hơn so với các loài cùng giống.

 Tylototriton-anguliceps-1
Cá cóc gờ sọ mảnh - Tylototriton anguliceps (con trưởng thành và nòng nọc)

Tylototriton anguliceps có hình thái tương đối giống các loài cá cóc T.yangi, T.pulchernnima, T.verucosus, T. uyenoi  T.shanjing nhưng khoảng cách di truyền giữa chúng từ 4,1- 5,1 %, ngoài ra có sự khác biệt rất rõ về cấu trúc xương sọ.

Ca-coc-Tylototriton-anguliceps-2
Xương sọ 3 loài cá cóc Tylototriton anguliceps, T. uyenoi  T.shanjing (Hình chụp X-Rey – 3D)

Đặc điểm nhận dạng như sau: Chiều dài cơ thể từ 61-63 mm ở con đực, 65-74 mm ở con cái; gờ rìa hai bên đầu rõ, dốc và mảnh; có gờ xương ở giữa đỉnh đầu; có nốt sần lớn dọc hai bên gờ lưng, da nhám với các nốt sần nhỏ; gờ sống lưng nổi rõ; chân dài và nhỏ; đuôi mỏng; phần đầu, các chi, gờ sống lưng, các mụn lớn ở dọc gờ lưng bên và phần đuôi có màu da cam; mặt bụng màu nâu hoặc đen nâu; các phần còn lại của cơ thể có màu đen thẫm.

Tylototriton-anguliceps-3

Sinh cảnh tự nhiên loài cá cóc gờ sọ mảnh - Tylototriton anguliceps

Nguồn tin: Nguyễn Thiện Tạo - Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

File pdf:  http://www.bioone.org/doi/abs/10.5358/hsj.34.38 

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

Giống xén tóc Aegosoma và loài mới tại Tỉnh Lâm Đồng

Giống xén tóc Aegosomađã được ghi nhận trên toàn thế giới với 15 loài, chúng có phân bố khá rộng, từ châu Âu, Bắc Á (Nga và Trung Quốc) và xuống tới các vùng thuộc Đông Nam Á.
xen-toc-Aegosoma-george
Mẫu chuẩn con đực của loài Aegosoma george


Khi nghiên cứu về phân loại học và phân bố các loài xén tóc thuộc giống Aegosoma, được Ths Đỗ Mạnh Cương công bố trên tạp chí Journal of Asia-Pacific Entomology, tác giả đã phân tích và sắp xếp các loài xén tóc này thành năm nhóm khác nhau. Khi phân tích về phân bố của của các thành viên trong giống, tác giả đã điều chỉnh về phân loại học của một số loài, đồng thời đưa ra giả thuyết về mối liên hệ giữa 2 khu hệ động vật ở Đông Dương và Indonesia – Malaysia; trong quá khứ khi mực nước biển Đông xuống thấp tới mức các nhóm động vật có lẽ đã có thể di cư qua lại giữa 2 phần đất liền. Từ đó xây dựng cơ sở về thứ tự tiến hóa của các nhóm theo thời gian.


Trong công bố vào tháng 3 năm 2015 này, tác giả cũng đã phát hiện và mô tả mới cho khoa học 1 loài xén tóc mới, loài Aegosoma george có phân bố ở Tỉnh Lâm Đồng. Đây là loài thứ 16 thuộc giống Aegosoma và là loài thứ 3 được tác giả công bố thuộc giống Aegosoma. Trong đó ngoại trừ loài A. mussaamaniđược phát hiện ở Malaysiathì cả 2 loài A. xentoc và A. georgeđược tác giả phát hiện gần đây đều dựa trên những mẫu thu được ở Lâm Đồng, Việt Nam. Tên của loài được gợi ý bởi con trai 5 tuổi của tác giả, George là nhân vật trong series phim hoạt hình ưa thích của cậu bé: “Peppa pig”. George được chọn để đặt tên cho loài mới vì đó là chú lợn bé nhất trong gia đình của lợn hồng Peppa Pig vì vậy tên của chú lợn này được đặt sau cùng so với các thành viên còn lại trong gia đình. Tuổi chính xác của chú lợn con George không được đề cập tới trong phim nhưng đó là 1 chú chú lợn con chưa biết nói, thích chơi khủng long và luôn mặc chiếc áo mầu xanh da trời.

Đặt tên cho các sinh vật vừa là công việc và cũng là đặc quyền của các nhà làm phân loại học, mỗi một cái tên đều có một ý nghĩa nhất định và có một câu chuyện riêng. Tên của các loài sinh vật có thể mô tả địa danh nơi tìm ra sinh vật đó, đặt theo tên của những người có ảnh hưởng tới những nghiên cứu của tác giả, tên loài cũng có thể được lựa chon theo tên của các vị thần (trong tôn giáo) hay có thể là bất cứ thứ gì khác có ý nghĩa với tác giả. Đối với các nhà làm phân loại học công đoạn lựa chọn tên và giải thích từ nguyên học của tên loài có lẽ là công việc thư giãn và thú vị nhất của một công bố mô tả loài mới.

   
Pink-Pig-Familly


Gia đình lợn hồng Peppa Pig, từ trái sang phải: Daddy Pig, Peppa Pig, George và Mummy Pig.

Biên tập: Đỗ Cương
Nguồn: http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1226861515000266 

Aegosoma-george



Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Một phân giống bọ cạp mới cho khoa học ở Điện Biên

Phân giống bọ cạp mới này có tên khoa học là Vietscorpiops Lourenco & Phạm, được phát hiện bởi TS. Phạm Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và TS. Wilson Lourenco thuộc Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris – Pháp. Mô tả của phân giống và loài được công bố trên Tạp chí Quốc tế uy tín Comptes Rendus Biologies, 338(3): 212-217 (tháng 3 năm 2015).


Bo-cap-Scorpiops-(Vietscorpiops)-dentidactylus

Loài bọ cạp Scorpiops (Vietscorpiops) dentidactylus Lourenco & Phạm, 2015. A. Mặt lưng; B. Mặt bụng 

Phân giống bọ cạp mới này thuộc giống Scorpiops, họ Euscorpiidae, loài mới Scorpiops (Vietscorpiops) dentidactylus Lourenco & Phạm, được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập được ở rừng tự nhiên xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Phân giống Vietscorpiops đặc trưng bởi hai mắt bên được cấu tạo bởi thấu kính trong khi các mắt còn lại thấu kính được thay thế bằng một điểm vàng lớn, và một mấu lớn xuất hiện ở mặt trong vuốt của chân kìm.
Đặc điểm loài Scorpiops (Vietscorpiops) dentidactylus Lourenco & Phạm: mặt lưng màu nâu vàng, mặt bụng màu vàng nhạt. Chân kìm màu nâu vàng, các chân bò màu vàng nhạt. Tổng chiều dài 30,6 mm. Giáp đầu ngực: chiều dài 4,6 mm; chiều rộng phía trước 2,8 mm; chiều rộng phía sau 4,4 mm. Phần bụng: chiều dài 9,5 mm. Đuôi đoạn I: chiều dài 1,6 mm, chiều rộng 2,2 mm; đoạn II: chiều dài 2,0 mm, chiều rộng 2,0 mm; đoạn III: chiều dài 2,1 mm, chiều rộng 1,9 mm; đoạn IV: chiều dài 2,4 mm, chiều rộng 1,8 mm; đoạn V: chiều dài 4,1 mm, chiều rộng 1,8 mm, độ sâu 1,5 mm. Chiều dài tuyến độc 4,3 mm.
Trước đó, trong thời gian từ 2010 đến 2014, TS. Phạm Đình Sắc và cộng sự đã tiến hành cuộc khảo sát các loài động vật không xương sống tại động khu vực Đắk Rông (tỉnh Quảng Trị), Phong Nha – Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình), Ba Bể (tỉnh Bắc Cạn), và Điện Biên (tỉnh Điện Biên). Ông đã phát hiện một giống và năm loài bọ cạp mới cho khoa học là Vietbocap canhi Lourenco & Pham, 2010; Vietbocap thienduongensis Lourenco & Pham, 2012;  Euscorpiops cavernicola Lourenco & Phạm, 2013; và Chaerilus pathom Lourenco & Phạm, 2014; Euscorpiops dakrong Lourenco & Phạm, 2014; được công bố trên các Tạp chí Quốc tế Zookeys (2010) và Comptes Rendus Biologies (2012, 2013, 2014a, 2014b).
Theo TS. Phạm Đình Sắc, các phát hiện mới không chỉ có ý nghĩa trong khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao bởi nọc bọ cạp là nguyên liệu tự nhiên tiềm năng cho ngành dược hiện tại và tương lai.
Mô tả chi tiết phân giống xem thêm tại http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1631069115000268

Nguồn: Viện Khoa hoc và Công nghệ Việt Nam
http://vast.ac.vn/tin-tuc-su-kien/tin-khoa-hoc/trong-nuoc/2229-cong-bo-mot-phan-giong-bo-cap-moi-cho-khoa-hoc-phat-hien-duoc-o-dien-bien

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

Loài Ong mới Anterhynchium punctatum cho khoa học từ Việt Nam


Tiến sỹ Nguyễn Thị Phương Liên thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phát hiện một loài ong mới cho khoa học thuộc giống Anterhynchium, họ Ong vàng (Vespidae), bộ Cánh màng (Hymenoptera). Loài mới được công bố trên Tạp chí Khoa học Zootaxa, số 3915 tập 1, ngày 2/2/2015.
Ong-Wasp-Anterhynchium-(Anterhynchium)-punctatum

Loài ong lưng chấm Anterhynchium (Anterhynchium) punctatum được mô tả từ mẫu vật thu được ở Mai Châu (Hòa Bình), Tô Hiệu (Sơn La), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sơn Động (Bắc Giang), Cúc Phương (Ninh Bình) và Yon Don (Đắc Lắc). Loài mới khác với các loài đã biết của phân giống Anterhynchium ở đặc điểm mặt lưng của tấm bụng 1 và 2 có chấm dày và thô, mép trong của răng thứ hai hàm trên lõm vào.

Ngoài ra, Tiến sỹ Phương Liên cũng bổ sung 2 phân loài mới, A. flavolineatum flavolineatum và A. flavomarginatum flavomarginatumcho khu hệ Ong vàng ở Việt Nam.
Giống Anterhynchiumphân bố tương đối rộng ở châu Âu – Á với 39 loài đã được mô tả. Trong đó, chỉ có 10 loài được ghi nhận ở khu vực từ Ấn Độ đến Đông Nam Á.
Các loài ong bắt mồi thuộc họ Ong vàng có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái. Chúng vừa là thức ăn của một số nhóm động vật, vừa là thiên địch của một số nhóm khác. Đồng thời, chúng cũng đảm nhận việc thụ phấn cho các loài thực vật.
Phát hiện mới của Tiến sỹ Phương Liên đóng góp vào việc làm rõ tính đa dạng sinh học, đặc biệt của các loài ong vàng họ Vespidae ở Việt Nam.

Biên tập: Đức Anh
Nguồn: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3915.1.7

Taxonomic notes on the species of the genus Anterhynchium de Saussure, 1863 (Hymenoptera: Vespidae: Eumeninae) from Vietnam, with description of a new species

LIEN THI PHUONG NGUYEN

Abstract

A taxonomic study on the solitary wasps in the vespid genus Anterhynchium de Saussure, 1863, from Vietnam is presented. One species previously identified as A. (Anterhynchium) abdominale abdominale (Illiger, 1802) is described as new, namely A. punctatum Nguyen, sp. nov. Antechynchium(Dirhynchiumflavolineatum flavolineatum (Smith, 1857) and A. (Dirhynchiumflavomarginatum flavomarginatum (Smith, 1852) are newly recorded from Vietnam. New synonymy is proposed for A. flavolineatum flavolineatum (Smith, 1857) =A. flavolineatum malaisei van der Vecht, 1963, syn. nov. A. coracinum van der Vecht sensu Girish Kumar (2013) is a misidentification of A. f. flavomarginatum (Smith), and the record of this species from Pakistan and India belongs to A. f. flavolineatum. A key to species of the genus from Vietnam is provided.



Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Loài nhện mới Belisana denticulate cho khoa học

Phát hiện một loài nhện mới cho khoa học ở Việt Nam

Nhen-spider-Belisana-denticulate-1
Loài nhện Belisana denticulata Phạm, 2015. C.–Mặt lưng; D. Mặt bụng; E. Mặt bên. (Ảnh: Phạm Đình Sắc 2015)
Một loài nhên mới vừa được Tiến sỹ Phạm Đình Sắc, thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vât phát hiện và công bố trên tạp chí ZooKeys số 480, ngày 2 tháng 2 năm 2015). Loài nhện Belisana denticulate mới được tìm thấy ở tầng tán của thảm thực vật rừng Tam Đảo, và được phân biệt bởi đặc điểm: khoảng cách giữa mấu ngoại biên và mấu bên trên chân kìm cách xa nhau, sự có mặt của mảnh xương cứng hình yên ngựa trên mấu xúc biện, và sự xuất hiện của một khối màng bao phủ trên mấu xúc biện.


Giống Belisana, thuộc họ Pholcidae, bộ Nhện (Araneae), lớp Hình nhện (Arachnida) phân bố chủ yếu phía Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam, với khoảng 111 loài đã biết. Ở Việt Nam, đã ghi nhận được 15 loài nhện thuộc giống này. Tuy nhiên, với những tiềm ẩn giàu có về đa dạng sinh học, chắc chắn số loài nhện thuộc giống Belisana gặp ở Việt Nam sẽ còn cao hơn, với nhiều loài mới còn chưa được phát hiện.

Nhen-spider-Belisana-denticulate-2

Loài nhện Belisana denticulata Phạm, 2015. A. Hành trên xúc biện; B. Chân kìm ( b = Hành, ba = Mấu trên hành, da = Mấu ngoại biên, e = Mấu sinh dục, pa = Mấu bên. (Ảnh: Phạm Đình Sắc 2015)

Biên tập: Đức Anh
Nguồn: http://zookeys.pensoft.net/articles.php?id=4623

ZooKeys 480: 41-47 (02 Feb 2015)
doi: 10.3897/zookeys.480.9046
ZooKeys 480: 41–47 (2015)

One new species of the genus Belisana Thorell, 1898 (AraneaePholcidae) from northern Vietnam

expand article infoDinh-Sac Pham
One new species Belisana denticulata sp. n. () is reported from northern Vietnam based on material collected by fogging the forest canopy. This species resembles B. scharffi Huber, 2005, but can be distinguished by relatively long distance between proximal parts of proximo-lateral apophysis and distal apophysis on male chelicerae, by presence of a nearly saddle-shaped prolateral sclerite on procursus, and by different shape of retrolateral membranous flap on procursus. Type specimens are deposited in the Vietnam Academy of Science and Technology in Hanoi.



Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Hai loài ếch ở Tây Bắc mới cho Việt Nam

Ech-suoi-Babina lini-credit-Le-Trung-Dung
 Các nhà khoa học Việt Nam và Đức đã phát hiện và công bố hai loài ếch nhái mới cho khu hệ lưỡng cư bò sát của Việt Nam trên tạp chí Russian Journal of Herpetology số 21 (tháng 12 năm 2014) dựa trên mẫu vật thu thập ở tỉnh Điện Biên (Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé) và Sơn La (Khu Bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp và Copia), Tây Bắc Việt Nam. Hai loài ếch nhái này có tên khoa học là Babina lini (Chou, 1999) và Hylarana menglaensis Fei, Ye et Xie, 2008. Cả hai loài được ghi nhận sống ở các vực suối chảy chậm và ở độ cao 1000-1600m so với mực nước biển.


1. Ếch suối lin Babina lini (Ảnh trên) trước đây đã được ghi nhận ở nhiều nước như Trung Quốc, Lào và Thái Lan. Mẫu vật của loài tại Việt Nam có kích thước 49,8 – 59,5 mm ở con đực và 55,1 – 60,8 mm ở con cái. Lưng màu nâu sẫm với sọc sáng hẹp ở giữa và hai sọc sáng rộng hơn ở rìa ngoài. Hai bên sườn có nếp gấp lớn, mịn, màu vàng nhạt. Tiếng kêu của loài chỉ được ghi nhận vào buổi tối đêm.

2. Ếch bám đá mường la Hylarana menglaensis là loài đặc hữu của Trung Quốc, trước đây chỉ được ghi nhận tại tỉnh Yunan, phía Đông Nam Trung Quốc. Loài trước đây có thể được ghi nhận nhầm lẫn với loài Ếch suối Hylarana nigrovittata có khu phân bố rộng ở Việt Nam. Cá thể cái của loài có kích thước 44,1 – 49,3 mm lớn hơn cá thể đực 38,9 – 44,9 mm, mặt trên của đầu và thân màu nâu xám với nhiều đốm đen nhỏ, hai bên sườn có các đốm đen lớn hơn. Tiếng kêu của loài được ghi nhận vào cả ngày và đêm.

Ech-bam-da-Hylarana-menglaensis
Ếch bám đá mường la Hylarana menglaensis – Ảnh: Lê Trung Dũng

Các công trình công bố gần đây của nhóm các nhà khoa học cho thấy mối quan hệ gần gũi về khu hệ lưỡng cư giữa các khu vực rừng núi của Tây Bắc Việt Nam, Đông Bắc Lào và Đông Nam Trung Quốc. Cần phải có những nghiên cứu tiếp theo để xác minh thực tế của mối liên hệ này.

Lê Trung Dũng – Đại học sư phạm Hà Nội/Theo http://vncreatures.net/

Russian Journal of Herpetology Vol 21, No 4 (2014)

Babina lini (Chou, 1999) and Hylarana menglaensis Fei, Ye et Xie, 2008, Two Additional Anuran Species for the Herpetofauna of Vietnam

Dzung Trung Le, Anh Van Pham, Son Hung Lan Nguyen, Thomas Ziegler, Truong Quang Nguyen

Abstract
Two ranid species, Babina lini and Hylarana menglaensis, are recorded for the first time from Vietnam on the basis of a new amphibian collection from Dien Bien and Son La provinces. In addition, acoustic analyses of these species are also provided based on the advertisement calls recorded in Muong Nhe Nature Reserve of Dien Bien Province.

Keywords
Babina lini, Hylarana menglaensis, new records, advertisement calls, Dien Bien Province, Son La Province

Final version: http://rjh.folium.ru/index.php/rjh/article/view/911