Hiển thị các bài đăng có nhãn Ninh Binh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ninh Binh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Loài Ve sầu mới phát hiện ở Ninh Bình

Ve-Sau-Pomponia-brevialata-1
 Một loài ve sầu mới cho khoa học, có tên là Pomponia brevialata, đã được phát hiện ở Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.

Gần đây, các nhà khoa học của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Trường Đại học Connecticut, Hoa Kỳ và Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ đã nghiên cứu về phân loại học của giống ve sầu Pomponia ở Việt Nam và Cămpuchia. Kết quả nghiên cứu đã công bố 1 loài mới cho khoa học và ghi nhận thêm 1 loài mới cho khu hệ ve sầu của Cămpuchia.

Loài ve sầu mới cho khoa học được đặt tên là Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015. Loài này được phân biệt với các loài khác của nhóm loài Pomponia linearis bởi các đốm vệt màu nâu trên gân r, r-m, và m của cánh trước; bụng con đực hình phễu. Loài này giống với loài Pomponia cinctimanus (Walker, 1850) và loài Pomponia ramifera (Walker, 1850) (cả hai loài đều phân bố ở Sylhet, Bănglađét). Tuy nhiên, loài này phân biệt với hai loài trên bởi các gai của clasper hẹp hơn và dài hơn rõ rệt cũng như các đốm vệt màu nâu trên cánh trước.

Ve-Sau-Pomponia-brevialata
Hình 1: Loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, cơ thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bụng. E, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Mẫu vật nghiên cứu của loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015 được thu tại Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật nghiên cứu được lưu giữ tại Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Với việc công bố thêm loài mới này đã nâng số tổng loài thuộc giống Pomponia lên 36 loài. Trong đó Việt Nam có 5 loài. 

Loài ve sầu ghi nhận mới cho khu hệ ve sầu Cămpuchia là loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009. Loài này được công bố là loài mới cho khoa học từ năm 2009 với mẫu vật thu được ở Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ve-Sau-Pomponia-backanensis
Hình 2: Loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Nguồn tin: Phạm Hồng Thái
Theo Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

Tóm tắt nội dung bài báo được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3925 (4): 562–572 

Cicada genus Pomponia Stål, 1866 (Hemiptera: Cicadidae) from Vietnam and Cambodia, with a new species, a new record, and a key to the species 

HONG-THAI PHAM1,4, YOUNG JUNE LEE 2 & JEROME CONSTANT 3 
1 Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet St, Hanoi, Vietnam. E-mail: phamthai@vnmn.vast.vn 
2 Department of Ecology and Evolutionary Biology, University of Connecticut, 75 North Eagleville Road, Storrs, CT 06269, USA 
3 Royal Belgian Institute of Natural Sciences, Department of Entomology, Vautierstreet 29, B-1000 Brussels, Belgium 
4 Corresponding author 

Abstract 
The genus Pomponia Stål, 1866 from Vietnam and Cambodia is reviewed . Pomponia brevialata Lee & Pham, sp. nov. is described from Vietnam. Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009 is added to the Cambodian cicada fauna. A key to the seven Vietnamese and Cambodian species of the genus Pomponia Stål, 1866 is provided: P. linearis (Walker, 1850), P. backanensis Pham & Yang, 2009, P. brevialata Lee & Pham, sp. nov., P. subtilita Lee, 2009, P. piceata Distant, 1905, P. daklakensis Sanborn, 2009, and P. orientalis (Distant, 1912). Synonymic lists, information on geographical distributions, and material examined for the Vietnamese and Cambodian species of Pomponia are provided. 

Key words: Auchenorrhyncha, Psithyristriini, Pomponia brevialata, Pomponia backanensis, Pomponia linearis, Pomponia subtilita, Pomponia piceata, Pomponia daklakensis, Pomponia orientalis, distribution.
For final version: http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03925p572f.pdf

Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

Loài Ong mới Anterhynchium punctatum cho khoa học từ Việt Nam


Tiến sỹ Nguyễn Thị Phương Liên thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phát hiện một loài ong mới cho khoa học thuộc giống Anterhynchium, họ Ong vàng (Vespidae), bộ Cánh màng (Hymenoptera). Loài mới được công bố trên Tạp chí Khoa học Zootaxa, số 3915 tập 1, ngày 2/2/2015.
Ong-Wasp-Anterhynchium-(Anterhynchium)-punctatum

Loài ong lưng chấm Anterhynchium (Anterhynchium) punctatum được mô tả từ mẫu vật thu được ở Mai Châu (Hòa Bình), Tô Hiệu (Sơn La), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sơn Động (Bắc Giang), Cúc Phương (Ninh Bình) và Yon Don (Đắc Lắc). Loài mới khác với các loài đã biết của phân giống Anterhynchium ở đặc điểm mặt lưng của tấm bụng 1 và 2 có chấm dày và thô, mép trong của răng thứ hai hàm trên lõm vào.

Ngoài ra, Tiến sỹ Phương Liên cũng bổ sung 2 phân loài mới, A. flavolineatum flavolineatum và A. flavomarginatum flavomarginatumcho khu hệ Ong vàng ở Việt Nam.
Giống Anterhynchiumphân bố tương đối rộng ở châu Âu – Á với 39 loài đã được mô tả. Trong đó, chỉ có 10 loài được ghi nhận ở khu vực từ Ấn Độ đến Đông Nam Á.
Các loài ong bắt mồi thuộc họ Ong vàng có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái. Chúng vừa là thức ăn của một số nhóm động vật, vừa là thiên địch của một số nhóm khác. Đồng thời, chúng cũng đảm nhận việc thụ phấn cho các loài thực vật.
Phát hiện mới của Tiến sỹ Phương Liên đóng góp vào việc làm rõ tính đa dạng sinh học, đặc biệt của các loài ong vàng họ Vespidae ở Việt Nam.

Biên tập: Đức Anh
Nguồn: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3915.1.7

Taxonomic notes on the species of the genus Anterhynchium de Saussure, 1863 (Hymenoptera: Vespidae: Eumeninae) from Vietnam, with description of a new species

LIEN THI PHUONG NGUYEN

Abstract

A taxonomic study on the solitary wasps in the vespid genus Anterhynchium de Saussure, 1863, from Vietnam is presented. One species previously identified as A. (Anterhynchium) abdominale abdominale (Illiger, 1802) is described as new, namely A. punctatum Nguyen, sp. nov. Antechynchium(Dirhynchiumflavolineatum flavolineatum (Smith, 1857) and A. (Dirhynchiumflavomarginatum flavomarginatum (Smith, 1852) are newly recorded from Vietnam. New synonymy is proposed for A. flavolineatum flavolineatum (Smith, 1857) =A. flavolineatum malaisei van der Vecht, 1963, syn. nov. A. coracinum van der Vecht sensu Girish Kumar (2013) is a misidentification of A. f. flavomarginatum (Smith), and the record of this species from Pakistan and India belongs to A. f. flavolineatum. A key to species of the genus from Vietnam is provided.



Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Mười chín loài Nhện mới công bố

Nhen-viet-nam
Công bố mười chín loài nhện mới cho khoa học phát hiện được ở phía Bắc Việt Nam

Đây là kết quả hợp tác giữa TS. Phạm Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các nhà khoa học Trung Quốc.

Mười chín loài nhện mới này thuộc họ Pholcidae, được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập ở các tỉnh Bắc Cạn, Phú Thọ, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Ninh Bình và Quảng Bình. Chúng không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao, nhiều loài có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, đặc hữu của Việt Nam. Bên cạnh đó, loài nhện còn được biết đến như là những thiên địch quan trọng góp phần phòng chống tổng hợp sâu hại bảo vệ cây trồng. Mô tả của 19 loài mới được công bố trên Tạp chí Quốc tế chuyên ngành Zootaxa, 3909(1): 82pp (monograph, tháng 1 năm 2015).

1. Loài Nhện Pholcus bifidus 

Nhen-Pholcus-bifidus
Loài Pholcus bifidus được phát hiện ở trong hang Tượng, vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc giống Pholcus bởi sự có mặt của các mấu lồi trên chân kìm của con đực, các gai sinh dục dài và nhọn, hơi cong, hóa kitin cứng; cơ quan sinh dục cái nhô hẳn ra ngoài.

2. Loài Nhện Pholcus caecus 

Nhen-Pholcus-caecus
Loài Pholcus caecus được phát hiện ở trong động Thiên Đường, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài nhện này phân biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi kích thước cơ thể rất nhỏ; nhện không có mắt; xuất hiện đôi sừng cong và sắc nhọn ở mặt trên của giáp đầu ngực.

3. Loài Nhện Pholcus hochiminhi 

Nhen-Pholcus-hochiminhi
Loài Pholcus hochiminhi được phát hiện ở trong động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự loài Pholcus aduncus Yao & Li, 2012, nhưng khác loài Pholcus aduncus ở đặc điểm phần cuối của xúc biện con đực kéo dài, xuất hiện mấu lồi trên xúc biện, hành cong mạnh, mắt chia 2 vùng và nổi hẳn lên tạo hai khối.


4. Loài Nhện Pholcus phami

Nhen-Pholcus-phami
Loài Pholcus phami được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi chân kìm con đực có hai đôi mấu lồi lớn ở mép; trên hành có nhiều gai hình con dao; bộ phận sinh dục cái hóa kitin với một mấu lồi hình chiếc gậy chạy dọc.


5. Loài Nhện Pholcus zhaoi

Nhen-Pholcus-zhaoi
Loài Pholcus zhaoi được phát hiện ở trong hang Sơn Động, vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này giống với loài Pholcus undatus Yao & Li, 2012 nhưng khác loài Pholcus undatus bởi sự có mặt của mấu lồi lớn hình thang; hành có 2 rãnh sâu xẻ dọc.


6. Loài Nhện Belisana babensis

Nhen-Belisana-babensis
Loài Belisana babensis được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự như loài Belisana strinatii Huber, 2005 nhưng khác loài Belisana strinatii bởi có có đốt chuyển trên xúc biện con đực và có gai cong lớn xuất hiện trên hành.


7. Loài Nhện Belisana cheni

Nhen-Belisana-cheni
Loài Belisana cheni được phát hiện ở trong hang Pắc Chấn, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác thuộc giống Belisanna do xuất hiện hai mấu lồi màu đen kéo dài ở mặt dưới của chân kìm; xuất hiện 2 túi nằm 2 bên của bộ phận sinh dục cái.


8. Loài Nhện Belisana clavata

Nhen-Belisana-clavata
Loài Belisana clavata được phát hiện ở núi Tây Côn Lĩnh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Đây là loài sống trong rừng tự nhiên, ở độ cao 1816 mét so với mặt biển. Loài này khác biệt so với các loài khác thuộc giống Belisanna do có các mấu lồi hình chùy hóa kitin cứng trên chân kìm; và xuất hiện 1 gai lớn trên mấu lồi hình chùy.







9. Loài Nhện Belisana curva

Nhen-Belisana-curva
Loài Belisana curva được phát hiện ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là loài sống ở bụi rậm, ở độ cao 440 mét so với mặt biển. Loài này giống với loài Belissana xiangensis Yao & Li, 2013 nhưng khác loài Belissana xiangensis do xuất hiện một tấm chắc lớn hóa kitin trên bề mặt của hành, và một đôi gai cong sắc nhọn trên đầu giáp đầu ngực.


10. Loài Nhện Belisana decora

Nhen-Belisana-decora
Loài Belisana decora được phát hiện ở vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống ở rừng thứ sinh, ở độ cao 284 mét so với mặt biển. Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc giống Belisanna bởi sự có mặt của những chiếc gai cong trên xúc biện con đực và xuất hiện các u lồi hóa kitin cứng trên bộ phận sinh dục cái.

11. Loài Nhện Belisana halongensis 

Nhen-Belisana-halongensis
Loài Belisana halongensis được phát hiện ở động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Belisanna bởi sự có mặt của mấu lồi hình ngón tay trên hành của xúc biện; trên giáp đầu ngực mặt trên có 1 tấm hóa kitin cứng hình ca vát, mặt dưới 1 tấm hình cái bát.

12. Loài Nhện Belisana phungae

Nhen-Belisana-phungae
Loài Belisana phungae phát hiện được ở động Nà Phòng, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Belisanna bởi sự xuất hiện của các tấm la men lớn, dẹt, phẳng trên bề mặt xúc biện con đực; và cửa ngoài của cơ quan sinh dục cái có cấu trúc dạng túi

13. Loài Nhện Belisana pisinna 

Nhen-Belisana-pisinna
Loài Belisana pisinna phát hiện được ở động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này có kích thước cơ thể rất nhỏ; giáp đầu ngực tròn; có các tấm bên tạo hình tam giác trên bề mặt xúc biện; hành không có gai.




14. Loài Nhện Belisana triangula

Nhen-Belisana-triangula
Loài Belisana triangula phát hiện được ở hang La, vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự loài Belisanna phurua Huber, 2005 nhưng khác loài Belisanna phurua bởi khoảng cách giữa các mấu lồi trên xúc biện con đực lớn; hành có hình lưỡi dao; có hai vuốt lớn, cong, mọc đối xứng trên hàm.



15. Loài Nhện Belisana vietnamensis

Nhen-Belisana-vietnamensis
Loài Belisana vietnamensis phát hiện được ở vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Loài này phân bố ở rừng tự nhiên, ở độ cao 386 mét so với mặt biển. Loài này có một cặp mấu lồi nhỏ trên chân kìm con đực, và một đôi túi dẹt trên cửa ngoài của bộ phận sinh dục cái.

16. Loài Nhện Belisana zhengi

Nhen-Belisana-zhengi
Loài Belisana zhengi phát hiện được ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Loài này phân bố ở sinh cảnh bụi rậm, ở độ cao 440 mét so với mặt biển. Loài này không có các mấu lồi trên chân kìm, nhưng có các mấu lồi dài màu đen thẫm xuất hiện trên hành của xúc biện con đực. 





17. Loài Nhện Khorata dangi

Nhen-Khorata-dangi
Loài Khorata dangi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự loài Khorata dongkou Yao & Li, 2010 nhưng khác loài Khorata dongkou do hành phân ra 2 lớp; có các vảy nhỏ trên chân kìm; có 2 gai hình lưỡi câu trên xúc biện con đực.



18. Loài Nhện Khorata huberi

Nhen-Khorata-huberi
Loài Khorata huberi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Khorata bởi sự có mặt của một cặp mấu lồi hình củ ấu ở hàm trên con đực; có 4 mấu lồi ở mặt dưới của bụng con cái.

19. Loài Nhện Khorata protumida

Nhen-Khorata-protumida
Loài Khorata protumida phát hiện được ở hang Bảy Tầng, vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này giống loài Khorata khammouan Huber, 2005 nhưng khác loài Khorata khammouan do có các tấm la mel tạo hình vòm như tổ tò vò ở hàm dưới con đực; có 4 mấu lồi ở hàm trên; cửa ngoài bộ phận sinh dục cái hóa kitin cứng, nổi rõ thành bờ.

Bài và ảnh Phạm Đình Sắc (Photos by Pham Dinh Sac). Theo http://www.vast.ac.vn/

Zootaxa 3909 (1): 001–082

Pholcid spiders (Araneae: Pholcidae) from northern Vietnam, with descriptions of nineteen new species

ZHIYUAN YAO, DINH SAC PHAM, SHUQIANG LI

Abstract 
Five genera and 26 species belonging to two subfamilies Arteminae Simon, 1893 (one genus and one species) and Pholcinae C.L. Koch, 1850 (four genera and 25 species) are reported from northern Vietnam, including 19 new species of three genera: Belisana babensis sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. cheni sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. clavata sp. nov. (male; Ha Giang), B. curva sp. nov. (male; Vinh Phuc), B. decora sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. halongensis sp. nov. (male; Quang Ninh), B. phungae sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. pisinna sp. nov. (male; Quang Ninh), B. triangula sp. nov. (male; Phu Tho), B. vietnamensis sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. zhengi sp. nov. (male; Vinh Phuc), Khorata dangi sp. nov. (male; Bac Kan), K. huberi sp. nov. (male, female; Bac Kan), K. protumida sp. nov. (male, female; Quang Binh), Pholcus bifidus sp. nov. (male, female; Quang Binh), P. caecus sp. nov. (male, female; Quang Binh), P. hochiminhi sp. nov. (male, female; Quang Ninh), P. phami sp. nov. (male, female; Bac Kan), and P. zhaoi sp. nov. (male; Ninh Binh). One genus Khorata Huber, 2005 and five species Belisana schwendingeri Huber, 2005, B. sepaku Huber, 2005, Khorata digitataYao & Li, 2010, Leptopholcus podophthalmus (Simon, 1893), and Pholcus bangfai Huber, 2011 are reported from Vietnam for the first time. Additional new records are given for two species Leptopholcus huongson Huber, 2011 and Physocyclus globosus (Taczanowski, 1874).

Keywords: Taxonomy, morphology, new record, Arteminae, Pholcinae, Southeast Asia

For final version: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3909.1.1
http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03909p082f.pdf

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Hai loài chuồn chuồn mới ghi nhận cho Việt Nam

chuon-chuon-indothemis-carnatica
90 loài Chuồn chuồn thuộc 60 giống, 15 họ đã được ghi nhận tại các Vườn Quốc gia Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Bể và Trạm đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc). Đó là kết quả khảo sát của các nhà khoa học gồm TS. Phạm Hồng Thái thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Mỹ thực hiện ở các địa điểm trên.

Trong đó, có hai loài mới chỉ ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam:

Chuồn chuồn Car-na-tic Indothemis carnatica thuộc họ Libellulidae, được Fabricius mô tả khoa học đầu tiên năm 1798. Đây la một loài khá hiếm được ghi nhận bản địa tại một số vùng ở Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, và Malaysia. Do vùng phân bố bị giới hạn và thường xuyên bị thu hẹp bởi sự mở rộng của con người nên nó được đánh giá là Sắp bị đe dọa (NT) trong Danh lục đỏ thế giới của IUCN. Vì thế, phát hiện thêm vùng phân bố này có ý nghĩa đáng kể. Chúng được phát hiện tại môi trường gần các hồ, đầm lầy ở Vường Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình.

Chuồn chuồn Kat Macromia katae thuộc họ Macromiidae, được Wilson miêu tả khoa học đầu tiên năm 1993. Loài này hiện tại chỉ được biết đến ở bốn địa điểm trong rừng thứ sinh đất thấp ở Trung Quốc (Quảng Đông và Hải Nam) và Hồng Kông, và Lào gần biên giới Việt Nam. Chúng được đánh giá là Sẽ nguy cấp (VU) trong Danh lục đỏ thế giới của IUCN

chuon-chuon-Macromia-katae

Chúng sinh sống tại vùng suối dốc, có dòng chảy nhanh, nơi ấu trùng được tìm thấy bám vào rễ cây. Ngoài ra chúng cũng được tìm thấy ở các vùng nước tĩnh. Ở Việt Nam chúng được phát hiện tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc. 

Công bố này được đăng tải trên tạp chí Check List 2015, 11(1): 1514

Phạm Văn Thế và Nguyễn Đức Anh 

Check List 11(1): 1514, January 2015 

First records of Macromia katae(Macromiidae) and Indothemis carnatica (Libellulidae) from Vietnam (Insecta: Odonata)

Natalia von Ellenrieder (1*), Martin Hauser (1), Stephen D. Gaimari (1) and Thai H. Pham (2)
1. Plant Pest Diagnostics Center, California Department of Food and Agriculture, 3294 Meadowview Road, Sacramento, CA 95832-1448, USA
2. Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet Street, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
* Corresponding author. E-mail: natalia.ellenrieder@gmail.com

Abstract: In the course of two field trips to Northern Viet-nam during March 2012 and June 2014 the dragonflies and damselflies of three National Parks (Cuc Phuong, Tam Dao, and Ba Be) and one Biodiversity Station (Melinh) were sampled. A total of 90 species of odonates in 60 genera and 15 families was recorded, including two new records for Vietnam: Macromia katae (Macromiidae) and Indothemis carnatica (Li-bellulidae). Diagnostic illustrations for these two species are provided, as well as the listing of the species recorded from the surveyed areas.

For more details: doi: http://dx.doi.org/10.15560/11.1.1514
http://biotaxa.org/cl/article/view/11.1.1514