Hiển thị các bài đăng có nhãn Fauna Conservation. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Fauna Conservation. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

Rừng Việt Nam đang có xu hướng đi lên sau nhiều năm phục hồi



Gần 5 thập niên kể từ khi các cuộc tấn công vào rừng phía nam của Việt Nam lên tới đỉnh điểm vào năm 1967, rừng của Việt Nam đã có những bước đi vững chắc để phục hồi.



  •  Năm 1986 Việt Nam bắt đầu quá trình Đổi Mới, một nền kinh tế thị trường có định hướng được chuyển từ việc quản lý rừng từ sự kiểm soát hoàn toàn của Chính phủ tới việc tiếp quản bởi nhiều bên liên quan từ Các tổ chức phi Chính phủ, Các đơn vị kinh doanh,Các cộng đồng địa phương và ban quản lý.
  • Việt Nam là một nước thí điểm về chương trình REDD vào năm 2008 và được sự ủng hộ của Liên hợp Quốc và Quỹ Đối tác Carbon rừng cho các nỗ lực về tái phục hồi rừng và giảm phát thải khí nhà kính.
  • Việc tái phục hồi rừng đóng vai trò như một phần của chiến lược lớn hơn nhằm bảo vệ quốc gia khỏi biến đổi khí hậu vốn đang trở thành một phần của nền tảng phát triển Quốc gia tại Việt Nam

Thế giới đang chuyển dần đến một kỉ nguyên đạt ngưỡng đáng lo ngại với lượng 400 phần triệu khí CO2 trong không khí. Việc tích trữ Cacbon và Phục hồi rừng đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tại Đông Nam Á, 15 năm qua Việt Nam đang đạt được thành công lớn trong việc phục hồi lại môi trường sống tự nhiên đã bị mất và khôi phục những cánh rừng bị nguy hại. Tuy nhiên thậm chí ngay cả khi một quốc gia có độ che phủ rừng tăng dần lên thì vấn đề lớn hơn là phá rừng trên toàn cầu vẫn không suy giảm.

Đã gần 50 năm kể từ khi xảy ra những cuộc tấn công của vào những cánh rừng phía Nam Việt Nam, đạt đỉnh điểm vào năm 1967. Chỉ trong 1 năm, Hoa Kỳ đã rải hơn 5 triệu galon chất diệt cỏ, bao gồm cả chất độc màu da cam lên trên một vùng lãnh thổ rộng hơn 600.000 hecta. Họ đã cố gắng để loại bỏ sự che phủ của những cánh rừng - là nơi cung cấp chỗ ẩn nấp cho quân đội Bắc Việt, cũng như phá hủy các loại cây trồng. Mức độ nguy hại gây ra trong suốt chiến dịch đó thật khó để có thể xác định. Ước tính có những nơi độ che phủ của rừng bị ảnh hưởng từ 14-44% với những thiệt hại nghiêm trọng nhất gây ra đối với những cánh rừng ngập mặn ven biển.

Tại những khu vực có rừng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của chất diệt cỏ trong chiến tranh Việt Nam, những cánh đồng cỏ nhanh chóng mọc lên. Những khu vực này được các nhà nghiên cứu từ đại học Huế của Việt Nam và Đại học Queenland của Australia kết luận rằng sẽ không có khả năng có thể phục hồi trong thời gian ngắn nếu không có sự can thiệp của con người.

Thậm chí tại những khu vực nằm ngoài vùng tàn phá của chiến tranh, sự phục hồi của rừng cũng là một quá trình rất bấp bênh và gặp nhiều trở ngại. Độ che phủ của rừng đã suy giảm rất nhanh trong suốt thời gian nửa sau của thế kỉ 20, từ 43% trong đầu những năm 1940 đến 17% cuối những năm 1970, theo Rodolphe De Koninck, nhà Địa lý học và tác giả của cuốn : “Nạn phá rừng tại Việt Nam” viết năm 1999.

Một loài Lan đầm lầy (Bromheadia finlaysoniana) ở một vùng trảng cỏ ở Quảng Nam. Photo by Pham VT
Sự phá huỷ đã gây ra sự suy thoái rừng, do đất nước muốn xây dựng lại từ khai thác gỗ, canh tác nương rẫy và lấn chiếm đất đai. Đến năm 1999, các nhà phân tích nước ngoài ước tính độ che phủ rừng ở Việt Nam chỉ còn 10%, mặc dù các nhà nghiên cứu tại Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam ước tính khoảng 30%.

Những sáng kiến mới


Mặc dù chỉ mang tính ước lượng nhưng tương lai của những cánh rừng tại Việt Nam khi đó đã trông thấy rất ảm đảm vào giữa những năm 1980 và Chính phủ đã bắt đầu chú ý đến điều đó.

Vào năm 1986, cả nước bắt đầu chuyển hướng tới một nền kinh tế thị trường có định hướng, được biết đến như Quá trình Đổi Mới. Trong khuôn khổ của quá trình này, việc quản lý rừng cũng được chuyển từ việc kiểm soát hoàn toàn của Chính phủ sang các hình thức tiếp cận nhiều thành phần bao gồm các tổ chức Phi Chính phủ, các doanh nghiệp, cộng đồng địa phương và các Ban quản lý.

Rừng tại Việt Nam ngay lập tức được phân thành 3 loại: Rừng đặc dụng (bao gồm các Vườn quốc gia, các Khu bảo tồn thiên nhiên và Các khu vực di tích lịch sử), Rừng phòng hộ (rừng tại các lưu vực sông, Rừng ngập mặn ven biển) và Rừng sản xuất (rừng phục vụ sản xuất công nghiệp). Sự phân loại này vẫn được duy trì cho đến bây giờ.

Theo ông Tô Xuân Phúc – một nhà phân tích đến từ Việt Nam làm việc cho tổ chức phi lợi nhuận Forest Trend tại Hoa Kỳ thì một trong những phần quan trọng của quá trình này là chính sách giao quyền kiểm soát rừng.

“Theo chính sách này thì 1.4 triệu hộ gia đình sẽ được giao quyền kiểm soát 3.4 triệu hecta đất rừng” Ông Phúc giải thích trong cuộc phỏng vấn với Mongabay. "Mỗi hộ gia đình như vậy sẽ sở hữu từ 1 đến 3 hecta đất rừng từ sự phân bổ này của Chính phủ”

Điều này mang đến sự khích lệ cho các cá nhân quan tâm tới đất đai của họ và những tác động sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả hai phía con người và cây trồng.

Ngoài việc tiến hành chuyển giao quyền quản lý, Chính phủ Việt Nam cũng bắt đầu thông qua một loạt các điều luật quan tâm đến chất lượng rừng và hỗ trợ việc tái trồng rừng tại thời điểm chuyển giao của thế kỷ này. Chính phủ cũng đã bắt đầu việc mở rộng mối quan hệ với các đối tác quốc tế nhằm mục đích bảo vệ môi trường.

Chương trình của Liên hợp quốc về giảm phát thải khí nhà kính từ việc phá rừng và suy thoái rừng ở các quốc gia đang phát triển (gọi tắt là REDD+) là một nỗ lực quốc tế được dành riêng để ngăn chặn nạn phá rừng và biến đối khí hậu đã xem Việt Nam như một trong những cộng tác viên đầu tiên của họ. Việt Nam đã trở thành một đất nước thí điểm chương trình REDD vào năm 2008. Ngay sau đó, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ quốc tế từ liên hợp quốc và Quỹ đối tác về Carbon rừng thuộc Ngân hàng Thế giới để thực hiện những nỗ lực nhằm tái phục hồi rừng và giảm phát thải khí nhà kính.

Một loài lan tuyệt đẹp trong một khu rừng ở Quảng Bình. Photo by Pham VT
Bốn năm sau đó, năm 2012 tại COP 18 Việt Nam đã dành được rất nhiều sự hỗ trợ quốc tế, tham gia kí vào tuyến bố chúng với Na Uy nhằm nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính do phá rừng và tăng cường loại bỏ Cacbon thông qua việc tái trồng rừng.

“[Chính phủ Việt Nam] đã nhận ra những ảnh hưởng mà họ gặp phải và hiểu rằng những vấn đề kéo theo sau những ảnh hưởng đó” Điều phối viên Lecdecq từ chương trình Greater Mekong forest của WWF nói. “Họ cũng đang tiếp tục nỗ lực xây dựng năng lực của ngành Lâm nghiệp nhằm hỗ trợ cho ngành công nghiệp gỗ của đất nước mình”

Những nỗ lực quốc tế và địa phương nhằm bảo vệ các cánh rừng hiện có và trồng lại trên những vùng mất rừng đã giúp Việt Nam định hướng tốt hơn cho tương lai, tuy nhiên đất nước vẫn còn rất nhiều thách thức để đi lên phía trước.

Những câu chuyện thành công


Tính đến năm 2011 tổ chức Forest Trend đã nhận thấy rằng độ che phủ rừng ở Việt Nam đã gần bằng so mới mức trước chiến tranh bao gồm tất cả cả 3 loại rừng chiếm 40.2 % tổng diện tích đất. Cùng với đó, Tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc liên tục liệt Việt Nam vào những nước có diện tích rừng mở rộng hàng năm trong khoảng thời gian từ 1990-2005.

Tại những khu vực từng chịu ảnh hưởng một phần của chất diệt cỏ trong chiến tranh Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một số thành công trong việc gây trồng một số loài ngoại lai như Bạch đàn, Keo hay các Thông để tăng độ phì nhiêu của đất và tạo bóng râm cho phép các loài cây bản địa có thể phát triển. Phần lớn diện tích đất được cấp cho các hộ gia đình trong suốt quá trình phân cấp quản lý đất rừng trong những năm 1980 nay đã được sử dụng để trồng Keo.

“Độ che phủ rừng đang ngày càng được gia tăng và các cánh rừng trồng sở hữu bởi các hộ gia đình là mấu chốt của việc tái phục hồi” ông Phúc. Đại diện Forest Trend cho biết thêm.

Sự phát triển nhanh chóng của các loài ngoại lai cũng đã mang lại nhiếu nguồn thu cho các chủ sở hữu đất rừng. Tuy nhiên việc trồng duy nhất 1 loài sẽ không mang lại được sự Đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn nước so với việc trồng các loài cây bản địa - Nhiều nghiên cứu đang nâng mức độ quan trọng của những áp lực mà môi trường phải gánh chịu khi mà biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng tăng.

Loài Bách tán đài loan kín ở Lào Cai. Photo by Pham VT.
Việc xem quá trình trồng rừng như là một chiến lược để bảo vệ Đất nước khỏi những tác động của biến đổi khí hậu đang trở thành một phần nền tảng phát triển của Việt Nam với những giá trị quí giá đặt vào việc trồng các loài cây ngập mặn nhằm chống lại nước biển dâng lên và sự gia tăng cường độ của các cơn bão nhiệt đới.

Một trong những dự án về rừng ngập mặn rất thành công là dự án tại Khu dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm ở phía Đông Nam của thành phố Hồ Chí Minh. Đây là nơi được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 2000, đã gần như khôi phục chất lượng hoàn toàn ở các khu vực bị huỷ hoại trước đó. Thành tựu này đã được UNESCO ca ngợi trên Website của họ. Phần lớn những thành công này có được là do những nỗ lực đóng góp vào việc trồng lại các loài cây ngập mặn của các nhà nghiên cứu đến từ Đồng bằng sông Cửu Long và những cơ hội đến từ dịch vụ du lịch sinh thái đã kết nối khách du lịch và những người dân bản địa quay lại nơi đây.

Nhìn thấy thành công của dự án tại Cần Giờ, ngày càng có nhiều sự quan tâm từ chính quyền trung ương tại Hà Nội nhằm tăng dần sự nhận thức của người dân về vấn đề biến đổi khí hậu và những nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu bao gồm cả việc trồng lại rừng từ các thành phố đến các vùng nông thôn.

Ông Phúc rất đồng ý về việc Chính phủ Việt Nam đang nhấn mạnh tầm quan trọng của Biến đổi khí hậu tuy nhiên không phải đợi đến khi có hậu quả mới hành động.

“Đối với những chương trình bảo vệ Rừng đầu nguồn, Chính phủ Việt Nam đang dành khá nhiều tiền bạc vào vấn đề này. Tuy nhiên quy mô của các dự án vẫn còn nhỏ” ông Phúc nói thêm.

“Vẫn còn rất nhiều hành động được đề ra với yêu cầu cao tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa thực sự thấy nhiều hành động được thực hiện cụ thể”

Mặc dù có nhiều dự án đang được thực hiện và nhận thức của người dân cũng đang được nâng lên nhưng nhu cầu về các sản phẩm từ gỗ tại Việt Nam vẫn giữ ở mức cao.

Những thách thức đối với việc phục hồi rừng


Mặc dù việc bảo vệ môi trường là quan trọng và đang được ưu tiên cho các khu rừng. Việt Nam cũng không thể nào để ngành công nghiệp gỗ của họ chết yểu. Thay vào đó Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm các biệp pháp quản lý tốt nhất nhằm cho phép việc khai thác gỗ bền vững trong các khu rừng sản xuất và tiếp tục gia tăng việc làm và kích thích kinh tế. Hầu hết những cánh rừng lâu năm còn lại ở Việt Nam hiện đang được bảo vệ tuy nhiên nhu cầu về gỗ đang đặt các cánh rừng già tại Campuchia và những nơi khác vào nguy cơ bị đe dọa.

Theo báo cáo của Vietnam News trong năm nay thì chỉ trong giai đoạn 2010-2015, độ che phủ của rừng đã giảm gần 6% hay mất hơn 300.000 ha rừng. Việc mất đi độ che phủ là do sự khó khăn trong việc ngăn chặn nạn khai thác gỗ trái phép và việc khai thác tài nguyên không có định hướng. Hai vấn đề này được ghi nhận tại Hội thảo quản lý rừng quốc gia được tổ chức ở Việt Nam vào tháng 9 năm 2016.

Ông Phúc tin rằng các chủ rừng nhỏ đang mở ra con đường phía trước cho việc phục hồi rừng. Hiện nay tại Việt Nam các công ty nhà nước đang kiểm soát phần lớn đất rừng. Theo ông Phúc thì khoảng 146 công ty nhà nước đang quản lý khoảng 2 triệu hecta rừng trong khi đó khoảng 3.4 triệu hecta rừng đang nằm trong tay của các chủ rừng nhỏ.

Theo ông Phúc thì “có rất nhiều vấn đề nghiêm trọng xảy ra với các công ty này bởi vì rất nhiều trong số đó đang sử dụng nguồn đất rừng một cách không hiệu quả”. “Chúng tôi vẫn đang vận động để xóa bỏ các công ty này và chuyển đổi đất rừng cho các cộng đồng địa phương.”

Hội thảo về việc Phân chia rừng đồng đều mới được đưa ra là một kế hoạch đề xuất bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của Việt Nam nhằm giảm mất rừng ở Khu vực Tây Nguyên. Chi phí cho việc thực hiện kế hoạch này được ước tính tiêu tốn khoảng 886 triệu dollar cho giữa năm 2016 và 2025 và hơn một nửa ngân sách đến từ các tổ chức nước ngoài.

Bên cạnh Ngân sách Nhà nước, Tổ chức Forest Trend cũng nhận thấy rằng những chi phí địa phương cho việc xây dựng và chứng nhận cho các kế hoạch Quản lý và sản xuất rừng bền vững thường không được cho phép, và chính vì thế nên nhiều công ty kinh doanh gỗ không có khả năng để chứng nhận cũng như không quan tâm đến việc bắt đầu quá trình này như thế nào.

Vào năm 2012, tổ chức WWF ước tính rằng giá bán gỗ cần tăng ít nhất 12% để bù cho các chi phí liên quan đến một chứng chỉ rừng bền vững trên một diện tích 2000 hecta. Như trong năm 2014, chỉ có 136.706 hecta rừng tại Việt Nam được chứng nhận là có chứng chỉ quản rừng bền vững.

Tuy nhiên về quan điểm Chứng chỉ rừng thì chuyên gia Ledecq đến từ WWF có một cái nhìn rất tích cực.

“Việt Nam hiên đang có khoảng 674 công ty có chứng nhận về chuỗi giám hộ và họ đang đề xuất Chính phủ phát triển một chứng chỉ rừng quốc gia”, theo Ledecq. “ Họ hiểu được rằng họ đang rất cần sự phát triển bền vững để đảm bảo nguồn cung và tiếp cận thị trường trong dài hạn,”

Một vấn đề khác là chất lượng của các cánh rừng đang phát triển trong vài thập kỉ gần đây. Ông Phúc đồng ý rằng mặc dù độ che phủ rừng thực sự đã tăng nhưng chất lượng của các cánh rừng này thì khá nghèo.

“Tôi cho rằng chất lượng của các cánh rừng trồng đang đi xuống” Ông phúc cho biết. "Điều đó có ý nghĩa rằng những cánh rừng nguyên sinh đang vẫn bị chuyển đổi sang mục đích trồng các loài cây công nghiệp”

Tuy nhiên, Ông Phúc lo ngại rằng việc tăng giá Cao Su và Sắn trong tương lai sẽ có thể đảo ngược những thành công đã đạt được của những dự án phục hồi rừng trong những năm gần đây.

Một khung cảnh rừng Trường Sơn, Việt Nam. Photo by Pham VT.
“Một vài năm trước đây chúng tôi đã trông thấy tận mắt rất nhiều diện tích rừng bị chuyển đổi sang trồng Sắn bới các chủ rừng nhỏ, những người rất nghèo thậm chí bao gồm các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên” Ông Phúc cho biết. "Chính phủ Việt Nam không thể quản lý hết các trường hợp cụ thể trong quy mô nhỏ ở tất cả các khu rừng trồng và những nơi vùng sâu vùng xa thì vấn đề chuyển đổi đất này rất dễ dàng được lặp lại”.

“Nếu giá cả tăng trở lại thì tôi tin rằng sẽ chẳng còn cách nào để kiểm soát vấn đề này” Ông Phúc nhấn mạnh tính chất quốc tế của việc quản lý rừng.

“Điều đó có nghĩa là các cánh rừng tự nhiên sẽ giống như tại Tây Nguyên, không thể được bảo vệ”

Phạm vi ngoài biên giới


Trong khi Việt Nam đang đạt được những thành công rất lớn trong việc khôi phục lại những cánh rừng vốn có của họ thì Quốc gia này hiện vẫn đang nhập khẩu một lượng rất lớn gỗ từ nước Campuchia láng giềng, nơi mà việc khai thác gỗ hầu hết là bất hợp pháp và không bền vững.

Campuchia đã có rất nhiều hành động vũ lực liên lục nhằm vào các Nhà hoạt động chống khai thác gỗ trái phép bao gồm cả các nhà báo và các đại diện trong và ngoài nước. Xu hướng phá rừng vẽ nên một bức tranh ảm đạm cho tương lai nếu không có gì thay đổi tình trạng này.

Một bài báo được phát hành bởi The Diplomat vào tháng 9 năm 2016 nhận thấy Campuchia là nhà xuất khẩu gỗ lớn nhất cho Việt Nam và cũng xác định được rằng Trung Quốc đóng vai trò như một người chơi chính nắm quyền kiểm soát rừng trong khu vực.

Trong khi Việt Nam phải trải qua một chặng đường dài hơn 50 năm qua trong việc tái phục hồi các cánh rừng của họ thì vấn đề phá rừng vẫn không thể chấm dứt. Thay vào đó thì nhu cầu toàn cầu cho các sản phẩm về gỗ vẫn còn tồn tại và dĩ nhiên nhu cầu đó thúc đẩy việc xuất khẩu gỗ.


Theo Mongabay 11 tháng 12 năm 2016 / Tác giả Michael Tatarski & Shanti Johnson
Dịch bởi Đào Công Anh
Nguồn: https://news.mongabay.com/2016/12/vietnams-forests-on-the-upswing-after-years-of-recovery/

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

Thực hiện sản xuất hàng hoá “Không phá rừng” và thương mại thực tế


Mối đe dọa chính đến các cánh rừng nhiệt đới hiện nay không phải việc khai thác gỗ mà là từ việc phá rừng trên quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về hàng nông sản. Nhận thức được điều này, các chính phủ và doanh nghiệp trên toàn thế giới ngày càng cam kết chấm dứt nạn phá rừng từ các chuỗi cung ứng hàng hoá như vậy.


Nhưng nhiều quốc gia sản xuất hàng hóa có đặc điểm là năng lực quản lý rừng và sử dụng đất đai kém, và thường thì việc phá rừng vì mục đích nông nghiệp là bất hợp pháp. Việc không thể giải quyết các thách thức về quản lý rừng và sử dụng đất có thể làm cho các sáng kiến “không phá rừng” (zero-deforestation) ở các khu vực công cộng và tư nhân trở nên vô ích. 

Một mô hình giải quyết những thách thức này đã tồn tại. Từ năm 2003, Liên minh Châu Âu (EU) đã và đang thực hiện Kế hoạch Hành động về Luật Lâm nghiệp, Quản trị và Thương mại (FLEGT) để giải quyết việc khai thác gỗ bất hợp pháp. Trong khuôn khổ Kế hoạch Hành động, EU và các quốc gia xuất khẩu gỗ đàm phán và thực hiện các thỏa thuận thương mại được gọi là Hiệp định Đối tác Tự nguyện (VPAs) để cải thiện việc quản lý rừng cũng như thúc đẩy thương mại các sản phẩm gỗ hợp pháp đã được kiểm chứng.

Các tác giả trong một bài báo mới từ các cơ sở của FLEGT và REDD ở EU đã biện luận rằng cần phải đưa ra các bài học kinh nghiệm từ VPAs để có thể hỗ trợ các nỗ lực để xác định môi trường thuận lợi cho các bên liên quan mật thiết để làm cho sản xuất “không phá rừng” và thương mại thực tế liên quan.


Trên thực tế, kinh nghiệm cho thấy bằng cách kết nối các cải cách thương mại và tiếp cận thị trường, VPAs sẽ cung cấp nhiều động lực mạnh mẽ cho các nhà sản xuất hàng hóa để đáp ứng các nhu cầu đặt ra.

VPAs không giống như các giao dịch thương mại thông thường trong đó nội dung của chúng được thống nhất thông qua quá trình có sự tham gia của các phía đại diện của chính phủ, khu vực kinh tế tư nhân, xã hội dân sự và các nhóm liên quan khác. Kinh nghiệm cho thấy chất lượng tham gia trong các lĩnh vực như xác định tính hợp pháp và cơ chế kiểm tra thử nghiệm là một đóng góp quan trọng cho việc đàm phán và thực hiện thành công VPA. Đối thoại và hợp tác giữa các bên liên quan ở khu vực nhà nước và tư nhân ở các quốc gia sản xuất hàng hóa có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, nhất trí và thực hiện có hiệu quả cam kết không phá rừng.

Các kinh nghiệm từ VPA cho thấy sự cần thiết xác định mục tiêu "Không phá rừng" ở cấp quốc gia hay các cấp có thẩm quyền khác cũng như làm rõ khung pháp lý và thể chế để các bên liên quan có thể hiểu được các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ.

Một yếu tố cần làm rõ là thông tin - về dòng chảy hàng hóa, việc tuân thủ pháp luật, chế độ quản lý .v.v. Hầu hết các chuỗi cung cấp sản phẩm còn thiếu các thông tin này. Đây cũng là một lỗ hổng có thể dẫn đến tham nhũng, tội phạm và xung đột giữa các cộng đồng và công ty.

VPA đề cập đến sự cần thiết phải minh bạch hơn thông qua việc cam kết các quốc gia đối tác công bố thông tin mà các bên liên quan cho là quan trọng. Việc thực hiện những cam kết này đã tăng cường trách nhiệm giải trình của nhà nước và tư nhân, một trong số đó là việc chia sẻ lợi ích với các cộng đồng sống dựa vào rừng và có khả năng giám sát rừng độc lập.

Các tác giả trong bài báo đó lưu ý không nên đánh giá thấp tính thực tế của việc giải quyết nạn phá rừng thông qua các chuỗi cung cấp sản phẩm. Họ cho rằng "Điều này đòi hỏi sự nhất trí xây dựng, hỗ trợ về mặt chính trị, phối hợp nhiều mặt và xây dựng năng lực". "Hơn nữa việc này đòi hỏi các chính phủ, doanh nghiệp, cộng đồng và xã hội dân sự tương tác và hỗ trợ lẫn nhau bằng những cách thức hoàn toàn mới".

Họ nói VPAs đưa ra những bài học quan trọng để thu hút các bên liên quan và cải thiện sự tham gia, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và lập luận pháp lý.

Các quốc gia có thẩm quyền giải quyết vấn đề này và vượt qua những rào cản về quản lý rừng và sử dụng đất sẽ dẫn đầu về đảm bảo các nguồn đầu tư tư nhân cho mục đích chống phá rừng và cân bằng giữa sự phát triển và bền vững.

Dịch bởi Đào Công Anh
Source: http://www.euflegt.efi.int/publications/making-zero-deforestation-commodity-production-and-trade-a-reality

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016

Chúng ta biết chính xác loài Tê giác java ở Việt nam tuyệt chủng như thế nào!

Javan rhinos
Vào tháng 4 năm 2010. Xác cá thể Tê giác cuối cùng của Việt Nam đã được tìm thấy tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên. Đây là câu chuyện của người đã điều tra về cái chết đó, được viết nhân ngày Tê Giác Thế Giới 21 tháng 9.



Bài viết của Chris Baraniuk / trên BBC, Ngày 21 tháng 9 năm 2016/ Bài dịch bởi Đào Công Anh - ĐH Lâm Nghiệp

Trong những cánh rừng mưa nhiệt đới dày đặc ở phía Tây Nam Việt Nam, đã có một cá thể Tê giác từng đi lang thang. Cá thể cái này là thành viên cuối cùng của Phụ họ tê giác tại Việt nam và nơi đây là ngôi nhà của nó.

Cát Lộc - một khu vực phía bắc của VQG Cát tiên là một phần của thế giới từng gánh chịu sự tàn phá của Chất độc màu da cam trong chiến tranh ở Việt Nam. Ngày nay, nơi đây được biết đến nhiều hơn nữa như là một trung tâm bảo tồn về động vật hoang dã, nhưng cũng là nơi mà một trong những nỗ lực bảo tồn đó đã thất bại.

Cá thể Tê giác cuối cùng đã trải qua những ngày rong ruổi trên khắp hàng ngàn hecta rừng, một phạm vi thật rộng lớn so với một loài ăn cỏ như nó. Nhưng sau cùng cá thể cái này cũng trở lại nơi đây. Nơi đã từng có rất nhiều con suối và những dòng sông mà nó có thể đằm mình với rất nhiều thức ăn - như song mây, 1 loài dây deo thân gỗ có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi.
Nhưng rồi một ngày, một tên thợ săn đã nhìn chằm chằm vào nó qua ống ngắm của khẩu súng bán tự động và bóp cò. 
Chúng ta không biết được rằng liệu nó có nhìn thấy gã sát thủ và cũng không thể nào biết được đã bao nhiêu lần nó rơi vào tầm ngắm. Nhưng khi tiếng súng của gã thợ săn xé toạc khu rừng thì sự tuyệt chủng của loài Tê giác java (Tê giác một sừng) tại Việt nam đã được xác định, mặc dù nó không diễn ra ngay tức khắc. Cá thể Tê giác mặc dù bị thương vẫn cố gắng lẩn trốn. Một lúc sau, nó đã biến mất vào cánh rừng dày, nhờ sự che chắn của rừng già.

Cat Tien NP
Hồ Cá sấu, VQG Cát Tiên (Credit: Anders Blomqvist/Alamy)
Vận mệnh của loài Tê giác java tại Việt nam (một phụ họ có tên là Rhinoceros sondaicus annamiticus) đã được theo dõi rất chặt chẽ cùng thời gian đó bởi Sarah Brook. Brook đã và đang làm việc với vai trò là một nhà bảo tồn của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới WWF. Cô ấy đã giành hết thời gian trong ngày của mình cố gắng vượt qua những địa hình khó khăn của Cát Lộc - những ngọn đồi dốc đứng và những cánh rừng ngút ngàn với môt chú chó chuyên đánh hơi theo mùi phân của loài Tê giác.

Trong gần 6 tháng kể từ khi Brook tiến hành thu thập mẫu phân Tê Giác, trên những tuyến đường mòn trong khu vực, để xác nhận chính xác rằng chỉ còn đúng duy nhất một cá thể Tê giác ở khu vực này. Cô ấy đã làm việc rất nghiêm túc với các cán bộ kiểm lâm của Vườn Quốc Gia và đặt các bẫy ảnh.

Nhưng thời gian đó đã là quá muộn, các bẫy ảnh chẳng bao giờ chụp được một con Tê giác nào nữa, bản thân Brook chưa từng một lần được chứng kiến chúng còn sống. Rừng Cát lộc thật rộng lớn, và/nhưng ngược lại cá thể Tê giác này lại cô độc trong đó.

Javan rhino
Một bức ảnh chụp Tê giác java ở Vườn thú London vào thế kỷ 19 (Credit: T. Dixon/ZSL)
Không lâu sau, đầu năm 2010, những tin tức đau buồn đã ập đến.

Một người Kiểm lâm đã đưa cho Brook một tấm ảnh chụp một bộ xương của Tê giác được chụp vào tháng 4. Một bức ảnh của hộp sọ, bị tách ra khỏi phần còn lại của xương con vật, rõ ràng rằng cái sừng đã bị lấy đi. Sự thực nó đã bị lấy đi một cách thô bạo bởi bọn săn trộm.

Vườn Quốc Gia đã ban hành một tuyên bố cho rằng cái chết của tê giác là kết quả của tự nhiên, nhưng Brook không cho là vậy. Cô ấy đã kiểm tra những chiếc xương một vài tuần sau đó. Vào tháng 5, cô ấy đã phát hiện ra rằng có một viên đạn găm vào chân trước bên trái.

“Chúng tôi đã muốn tìm ra thực sự chuyện gì đã xảy ra và tìm ra sự thật”, Cô ấy nhớ lại, “Vào lúc đó chúng tôi đã nghi ngờ về cái chết của cá thể tê giác cuối cùng này rồi”

Brook đã bắt tay ngay vào việc điều tra của mình và bắt đầu cố gắng tìm ra đúng người để giúp đỡ.

Vết tích do đạn gây ra ở xương chân Tê giác (Credit: Ed Newcomer)

Cô ấy gửi 1 email cho Ulrike Streicher, một bác sĩ thú y về đông vật hoang dã, người đã có rất nhiều năm làm việc tại Việt Nam. Bà ấy cũng biết về VQG Cát tiên và cũng là người đã tư vấn cho WWF trước đó.

Brook cũng đã liên hệ với Ed Newcomer, một chuyên gia đặc biệt đến từ Dịch vụ chăc sóc động vật hoang dã và Cá của Mỹ. Ông ấy đang làm việc ở Thái Lan tại thời điểm đó, nhưng đã nắm bắt cơ hội để tham gia vào cuộc điều tra về Tê Giác này.

John Cooper, một chuyên gia pháp y về động vật hoang dã đến từ Vương quốc Anh và Douglas Mc Carty, người đang làm cho các nhóm chống buôn bán động vật hoang dã của Freeland cũng gia nhập.

Vào tháng 9, 
một nhóm các chuyên gia đầu ngành đến từ khắp nơi trên Thế giới đã tìm kiếm và lắp ghép các mẫu tại Vườn Quốc Gia, 
trong một căn phòng đầy ắp những đồ tạo tác sinh học. Có rất nhiều khung trưng bày và các hộp với rất nhiều thứ từ khuôn đúc của chân Tê giác tới bản đồ của khu vực, Newcomer nhớ lại. Họ không có một khu vực chuyên biệt về thú y để làm việc nhưng đó là việc cần phải làm.

Nhiệm vụ đầu tiên là xem lại bộ xương Tê Giác đã được khôi phục.

Bộ xương Tê giác được sắp xếp lại (Credit: Ed Newcomer)

Theo như lời những người Kiểm lâm đã giao bộ xương cho nhóm Nghiên cứu, Cooper nhận xét rằng bộ xương trông như đã bị tẩy trắng.

“Họ nói rằng, ‘Ồ chúng tôi đã tẩy trắng chúng’, và tôi đã bảo ‘OK, có vẻ rất có tiềm năng để lấy mẫu”, và nói với Streicher ‘Những người duy nhất ở Việt nam biết cách xử lý về động vật hoang dã là những người làm việc trong các bảo tàng - và lời khuyên của họ về tẩy trắng xương”

Nếu không có khả năng lấy mẫu phân tích từ những chiếc xương, thì chắc chắn công việc tìm ra nguyên nhân gây ra cái chết cho Tê giác trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Tất cả mọi người đều đồng ý là 
cần đến nơi mà bộ xương Tê giác được tìm thấy. 
Điều đó có nghĩa là họ sẽ phải trải qua 7km đi bộ vào rừng sâu và 7km để quay trở về

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện chuyến đi băng qua địa hình vào một ngày nóng và rất ẩm ướt. Một người dẫn đường, đi theo từng bước, phạt một con đường qua các cành cây và dây leo. "Nó rất là vất vả”, Newcomer nhớ lại

Bộ xương Tê giác được sắp xếp lại (Credit: Ed Newcomer)

Cuối cùng họ cũng đến được khe núi nơi tìm thấy Tê Giác xuất hiện trước đó. Trước mắt họ là một vách núi rất dốc, rừng dày nghiêng về phía bắc và thoải hơn về phía nam. Phía dưới là một con suối nhỏ chảy quanh từ Đông sang Tây.

“Vẫn còn dấu vết của Tê giác trong đám bụi bẩn” Newcomer nói. “Và phía bên trên nơi tìm thấy xác Tê giác là những cây tre (nứa) rất lớn - chúng có đường kính lên tới 10-15 cm - và chúng đã bị đẩy nghiêng hoàn toàn sang 1 bên giống như đã có một chiếc xe ủi đã đẩy chúng qua 1 bên vậy”

Newcomer đã tìm thấy một cây tre đã bị gãy dập thành hình chư U. Mọi người trong nhóm ngay lập tức tưởng tượng đến vết Tê giác đã nằm lên đó, có thể là sau khi bị rơi xuống và vướng lại.

“Nếu bụng của nó đã đè lên những cây tre thì nó có thể sẽ bị ngạt thở mà chết”, Newcomer nói

Dần dần một hình ảnh của cái chết đã bắt đầu lộ ra. Cá thể Tê giác này đã dịch chuyển xung quanh trước khi nó chết, nó đã vật lộn và cọ xát với thảm thực vật xung quanh.

Họ kiểm tra chỗ đó để tìm thấy bất kì chiếc xương nào nhưng rất tiếc không tìm được gì. Newcomer đã thực hiện một sơ đồ phác thảo nhanh cho khu vực, ghi chú lại những đặc điểm chính của vị trí như các dấu vết hay những nới mà bộ xương đã được tìm thấy so với con suối nhỏ.

Một cảnh của tội ác (Credit: Ed Newcomer)

Và khi rời khỏi hiện trường, Newcomer - người đi sau cùng - đã quay lại để chụp lại 1 tấm ảnh. Anh ấy biết chắc rằng sẽ không bao giờ quay lại đây lần nữa. Rất có thể đây là nơi cá thể Tê giác java ở Việt nam cuối cùng đã chết. Anh ấy đợi một vài giây, nhìn vào đám tre bị nghiền nát và con suối nhỏ bên dưới.
"Đó là ngày di chuyển không thể tưởng tượng được", anh ta nhớ lại "Giống như kiểu bạn bị đập bằng một viên gạch"
Nhóm nghiên cứu băng qua khu rừng quay trở lại. Trong buổi chiều đó trời đổ mưa và một số đoạn phải băng qua suối. Cuối cùng họ cũng ngấm mưa và kiệt sức

Trong suốt những ngày sau đó, nhiệm vụ tiếp theo là phải lắp ghép bộ xương tê giác trên sàn nhà sao cho càng chính xác càng tốt. Quan sát kĩ vào những chiếc xương có thể tiết lộ nhiều điều về sức khỏe của con vật trước khi chết.

Cooper vaf Streicher đã là chuyên gia trong rất nhiều lĩnh vực. Trong số những đặc điểm khác nhau, họ chú ý rằng đã có một sự thay đổi về khớp trong chân trước bên trái của con vật rất có thể là nguyên nhân gây ra sự đau đớn hay dẫn đễn cái chết. Cũng đã có một sự mòn đi trên móng chân này mà họ cho rằng nó đã hoạt động không bình thường.

Cooper đã viết về sự kiểm định này trong một cuốn sách gần đây, “Điều tra pháp y về động vật hoang dã” (Wildlife Forensic Investigation). “Nó rất có khả năng....là chấn thương do viên đạn gây ra, nặng nhất là gây ra cái chết, đau đớn,viêm khớp trái chân trước, rất dễ mắc phải ở các loài tê giác gây ra nhiều nguy hiểm, là yếu tố gây tử vong.”

Sau đó, Streicher đã lấy mẫu xương quan trọng này để chụp cắt lớp. Nó chỉ ra rằng có một lỗ hổng phía bên dưới và trên chỗ viên đạn găm vào, rất có thể nguyên nhân đến từ quá trình viêm xương. Trong 1 báo cáo của WWF, các nhà điều tra đã ghi nhận rằng quá trình này đã xãy ra ít nhất là trong 2 tháng, thậm chí lên tới 5 tháng.

Rừng mưa ở VQG Cát Tiên (Credit: Oscar Dominguez/Alamy)
Đây là một đầu mối quan trọng. Tê giác sẽ không chết sau chỉ vài ngày hay vài tuần sau khi bị bắn. Nó có thể là cả tháng trời. Và nó không chỉ bị thương trong một thời gian ngắn, mà sẽ bị tổn thương bằng cách bị gây trở ngại khi di chuyển và cuối cùng, dường như sẽ là nguyên nhân dẫn đến cái chết.

“Những loài động vật như tê giác hay Voi sẽ chẳng thể làm gì nếu không có chân”- Streicher giải thích. “Chúng quá nặng để đi khập khiễng”

Newcomer cũng lưu ý rằng, theo như điểm vào của đạn và quỹ đạo rõ ràng của nó, có khả năng viên đạn đã được bắn từ tên săn trộm ở vị trí phía dưới thấp hơn chỗ của đứng con Tê giác - có lẽ là trên một sườn đồi và rất có thể viên đạn đã nhắm tới tim con vật”

Có thể đã có nhiều hơn một viên đạn được bắn ra, tuy nhiên bất kì viên nào chỉ găm vào lớp mô mềm của con vật đã không thể tìm thấy bởi Nhóm điều tra. Tất cả những gì họ có chỉ là bộ xương.

Một câu hỏi chưa được lý giải là liệu có phải kẻ săn trộm sau khi bắn được con vật bị thương qua hàng tháng trời là người đã lấy đi chiếc sừng - hay một kẻ lang thang nào đó đã may mắn đi ngang qua và thừa hưởng thành quả. 

Đằng nào đi nữa, 
cho dù sừng tê giác có thể bán được hàng ngàn đô la, chiếc sừng của Tê giác java cũng chả phải lớn lắm
“Nó có thể đặt gọn trong lòng bàn tay - hay để vừa trong túi của bạn”, Newcomer đánh giá về những hoàn cảnh khốn khổ - Một phân loài bị đẩy đến chỗ tuyệt chủng chỉ vì một chiếc sừng nhỏ.

Một vài tháng sau đó, kết quả phân tích DNA cho thấy mẫu phân thu được trước đó của Brook là trùng khớp với bộ xương của con vật đã được giám định

Với rất ít bằng chứng thu thập được để tiến hành điều tra tiếp, điều đó là rất khó để đưa ra kết luận, tuy nhiên có những dấu hiệu chắc chắn để có thể dẫn đến chuỗi sự kiện: Một tay săn trộm đã bắn con Tê giác ít nhất là 1 lần; Viên đạn đã găm vào chân trước phía bên trái của con vật là nguyên nhân gây ra nhiễm trùng, viêm khớp và ngăn cản nó di chuyển; đây cũng có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp khiến con vật rơi ở khu rừng gần con suối nhỏ nơi mà con vật cuối cùng cũng đã chết.

Newcomer đã tuyên bố : “Viên đạn là nguyên nhân giết chết Tê giác”, “nó chỉ mất thời gian dài để khiến con vật chết đi”, 

Brook sau đó đã mô tả những gì xảy ra như một “thất bại của việc bảo tồn” tại Việt Nam.“Tôi đã bị ảnh hưởng bởi điều đó, và thực sự đã rất chán nản ngay sau những gì xảy ra”. Lý do chính của cô khi đến Việt Nam là nhằm điều tra quần thể Tê giác ở đây và bây giờ quần thể đó đã không còn nữa.

Cảnh sát phía Việt Nam đã hỗ trợ cho cuộc điều tra bằng cách đưa ra những phân tích về mẫu đạn thu được. Nó có thể được bắn ra từ 1 loại súng bán tự động, như AK 47.

Nhưng không một ai trong số những người điều tra trả lời với BBC nhận thức về vụ bắt giữ hay về sự kết tội tiếp theo. WWF cho biết rằng họ tin tưởng một cuộc điều tra chính thức vẫn sẽ được mở ra. 
Bất kể ai đã bắn Tê Giác và bất kì ai đã lấy đi chiếc sừng - bất chấp có cùng một người hay không.
Một bản vẽ minh hoạ loài Tê giác java (Credit: Paul D. Stewart/naturepl.com)
Vẫn còn một số ít các các thể Tê giác java tồn tại trên thế giới. Có 1 quần thể nhỏ ước tính có từ 40-60 cá thể ở Indonesia. Tuy nhiên chúng cũng đã được liệt vào mức cực kỳ nguy cấp của IUCN. Nhiều cuộc tuần tra được tổ chức bởi Quỹ Tê giác quốc tế và Quỹ Tê giác của Indonesia để canh phòng nghiêm ngặt quần thể Tê giác này, tuy nhiên những tổ chức này cũng đưa ra cảnh báo rằng phạm vi sinh cảnh sống tự nhiên của tê giác cần được mở rộng để đảm bảo sự sống của chúng tiếp tục tồn tại.

Ngày hôm nay, Ed Newcomer đang làm việc tại Botswana. Ông vẫn rất quan tâm tới số phận của những con Tê giác. Gần đó, tại vườn quốc gia South Africa’s Kruger, có 3 đến 4 cá thể Tê giác bị săn trộm mỗi ngày. Và luôn có một sự mỉa mai cay đắng cho những cái chết này.
“Những con Tê giác đã bị giết để phục vụ nhu cầu tại Việt nam” 
Tuy vậy cũng đã lóe lên một tia hy vọng, Một điều đã xảy ra như Newcomer đã đề cập. Con người đã thành công trong việc chiến đấu với nạn săn bắn trộm so với trước đó. 
Một lệnh cấm buôn bán Ngà voi đã giúp làm chậm, mặc dù chưa ngăn chặn được nạn săn bắn trộm voi lấy ngà.
hãy lấy ví dụ về việc Một lệnh cấm tương tự sẽ được đặt ra đối với sừng Tê giác, mặc dù vẫn còn có nhiều người vẫn đang thách thức với luật pháp địa phương.

Brook hiện đang làm việc cho Hội Bảo tồn Động vật hoang dã (WCS) đã đưa ra lưu ý cho nhiều nhà bảo tồn việt nam rằng sự mất mát của cá thể Tê giác java cuối cùng là một cú sốc lớn đối với họ. Điều đó là quá muộn để cứu vớt loài phụ Tê giác này, tuy nhiên cũng cẫn có những nỗ lực khác nhằm tập trung vào những loài nguy cấp khác tại việt Nam.

Một con Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) (Credit: Reuters/Alamy)







Cô ấy cũng đưa ra ví dụ về loài Sao la - một trong những loaì thú có vú lớn hiếm nhất hành tinh. Nó trông giống như một con linh dương nhỏ, Sao la chỉ mới được phát hiện vào năm 1992 và là loài đặc hữu của Việt Nam và Lào.

“Những nhà bảo tồn Việt nam đã thay đổi cơ bản cách tiếp cận để bảo tồn loài này tại Miền trung Việt nam và đã thiết lập 1 thỏa thuận chung cùng quản lý với các khu bảo tồn mới thành lập - mà chủ yếu để bảo tồn Sao La” Brook giải thích. “Dự án này đang rất thành công về việc loại bỏ số lượng lớn các bẫy thú ra khỏi sinh cảnh sống của Sao la”

Chiếc sừng của cá thể Tê giác java cuối cùng tại Việt nam rất có thể đã bị tuồn vào thị trường chợ đen. Thậm chí nếu tìm ra nó, chúng ta cũng không thể xác nhận về mặt di truyền nó thuộc về cá thể Tê giác cuối cùng đó. Những thủ phạm của vụ săn trộm này sẽ chẳng bao giờ bị bắt.

Không những thế, trong những cánh rừng rậm của Đông nam châu Á, vẫn có rất nhiều sinh vật tuyệt vời đang sinh sống và phát triển mạnh mẽ. 
Sự mất đi loài Tê giác là một bi kịch đối với Cát Tiên, nhưng nhiệm vụ của VQG không vì thế mà dừng lại. 
Với khoảng 720 km2, khỉ, gấu, tê tê và hươu vẫn chưa thoát khỏi tình cảnh khó khăn. Có thể với may mắn nào đó, chúng sẽ tránh khỏi được tầm ngắm của những kẻ săn trộm ngoài kia, ở trong sâu thẳm bao la của rừng già.

http://www.bbc.com/earth/story/20160920-we-know-exactly-how-the-vietnamese-javan-rhino-went-extinct

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

Những loài cá biển quý, hiếm ở miền Trung Việt Nam

Đây là những loài cá quý, hiếm đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, chúng có phân bố ở một số tỉnh Miền Trung, và có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thảm hoạ ô nhiễm môi trường biển. Chúng là những loại có tình trạng bảo tồn từ Rất nguy cấp, đến Bị đe doạ tuyệt chủng trong tương lai gần.

Chúng được pháp luật Việt Nam bảo vệ, nghiêm cấm đánh bắt ngoài tự nhiên, nghiêm cấm sử dụng các hình thức mang tính diệt chủng như sử dụng CHẤT ĐỘC, phá huỷ môi trường sống. 

Ngoài những biện pháp bảo vệ như trên, chúng ta cần tăng cường giáo dục thiên nhiên, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cộng động, để bảo tồn những tài nguyên thiên nhiên biển vô cùng tươi đẹp và giá trị mà cha ông ta đã gìn giữ bao đời nay.

CÁ BỐNG BỚP - BOSTRICHTHYS SINENSIS 

Phân hạng: RẤT NGUY CẤP - CR A1a,c,d E.


cá bống bớp
Theo http://tepbac.com/
Đây là loài cá quý cổ truyền của Việt Nam và đứng đầu danh sách các loài hải sản tươi sống xuất khẩu. Thịt thơm ngon, thành phần dinh dưỡng trong thịt cao nhất so với các loại cá biển khác: lipit 12,1% (gấp khoảng 10 lần cá khác), protit 18,5% (tính theo trọng lượng thịt không có xương).

Ca bong bop
Theo SĐVN 2007
Thức ăn chủ yếu của chúng là động vật giáp xác và cá con. Sống trong các bãi triều, cửa sông, đầm nước lợ, chất đáy là bùn cát hoặc bùn phù sa. Cá trưởng thành luôn sống trong hang, lỗ ở các bãi triều, bờ đê ngập nước, chỉ ra ngoài khi sinh sản hoặc kiếm ăn.

Do cường độ săn bắt như hiện nay và các hiện tượng khoanh bãi triều đắp đầm ao nuôi hải sản phá huỷ nơi cư trú và môi trường ven biển bị ô nhiễm, dự đoán số lượng cá thể ngoài tự nhiên sẽ giảm đi ít nhất 50% trong vòng 10 - 15 năm tới. 

Chúng có ở Tây vịnh Bắc Bộ bao gồm cả Thanh Hoá và Hà Tĩnh

Đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007. Cần nghiêm cấm triệt để việc đánh bắt loài này ngoài tự nhiên. Mặt khác cần hạn chế việc chặt phá sú vẹt, khoanh vùng đắp đầm ao bừa bãi trong các bãi triều cửa sông. Các cơ sở nghiên cứu cần tiếp tục nuôi cho cá đẻ nhân tạo để bổ sung giống vào môi trường tự nhiên.

CÁ NHÁM NHU MỲ - STEGOSTOMA FASCIATUM 

Phân hạng: NGUY CẤP - EN A1d C2a. 

CÁ NHÁM NHU MỲ
Theo http://www.julianrocks.net/
Chúng là loài cá sụn có thân hình lớn, sống đáy, bơi lội chậm chạp nên thường bị mắc vào lưới giã đáy trong vùng biển nông. Dự đoán số lượng quần thể có khoảng 2500 cá thể trưởng thành; do sống phân tán nên mỗi tiểu quần thể có khoảng 250 cá thể. Với cường độ đánh bắt ngày càng tăng như hiện nay (kể cả các biện pháp dùng thuốc nổ và CHẤT ĐỘC) sẽ dẫn đến giảm số lượng là điều không thể tránh khỏi.
CÁ NHÁM NHU MỲ
Theo SĐVN 2007

Thức ăn của loài này là động vật thân mềm và giáp xác. Cá nhám nhu mì sống sát đáy, bơi lội chậm chạp. Phân bố rộng trong các vùng biển ấm, thường vào vùng gần bờ và ven đảo trong mùa sinh sản hoặc kiếm ăn. 

Ở Việt Nam, chúng phân bố có ở Đông Nam vịnh Bắc Bộ (và một số khu vực khác). 
Đây là loài có giá trị cao như thịt làm thực phẩm, gan lấy dầu để sản xuất dầu cá. Dầu gan cá được coi như một poly vitamin.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản


CÁ GIỐNG MÕM TRÒN, CÁ GIỐNG, CÁ ĐUỐI LƯỠI CÀY - RHINA ANCYLOSTOMA

Phân hạng: NGUY CẤP - EN A1a,d C2a.

CÁ ĐUỐI LƯỠI CÀY -
Theo https://wikimedia.org/
Theo SĐVN 2007
Do sống sát đáy và bơi lội chậm chạp nên dễ bị lưới đáy quét được, thường gặp nhưng số lượng không nhiều, dự đoán quần thể trong toàn vùng biển có dưới 2500 cá thể trưởng thành và mỗi tiểu quần thể ít hơn 250 cá thể. Thức ăn là động vật giáp xác và thân mềm. 

Ở Việt Nam chúng phân bố có ở Đông Nam Vịnh Bắc Bộ (và một số khu vực khác)

Là loài có giá trị thực phẩm cao như thịt ăn tươi hoặc đóng hộp, gan lấy dầu sản xuất dầu cá. Là nguồn gen quý hiếm, vật mẫu hấp dẫn du khách trong các bảo tàng biển.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản

CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN - CHANOS CHANOS 

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A2d.

CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN
Theo http://fishesofaustralia.net.au/
CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN
Theo SĐVN 2007
Là loài có giá trị thực phẩm, thịt cá tươi rất thơm ngon, được ưa chuộng ở trong nước và nước ngoài. Là đối tượng nuôi ở các đầm phá ven biển miền Trung từ Quảng Trị đến Bình Thuận. Thức ăn của cá chủ yếu là rong lam kết thành khối nổi trên mặt nước và mùn bã hữu cơ.

Mặc dù Cá măng biển đẻ nhiều nhưng mức độ tử vong cao ở giai đoạn phôi và cá con, do cường độ đánh vớt cá con rất lớn ở các vùng ven biển trong các đầm phá và tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng ở vùng biển gần bờ. Do đó các thành phẩm trong các đầm nuôi rất ít. Dự đoán số lượng trong 10 năm tới giảm ít nhất 20%.

Chúng phân bố dọc ven biển từ Nghệ An đến Bình Thuận. 

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA - TRACHYRHAMPHUS SERRATUS

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A1c,d C1+2a.

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA
Theo http://knowledge.taibif.tw/

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA -
Theo SĐVN 2007
Là loài cá có thân hình nhỏ, số lượng ít, phân tán, sống ở vùng nước nông gần bờ, nơi cư trú có nhiều rong, cỏ và hẹ biển. Phân bố rải rác từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.

Cá chìa vôi mõm răng cưa là dược liệu quý trong đông y. Cá chìa vôi khô dùng điều chế thuốc bổ thận, tráng dương, đau lưng, nhức xương, mỏi mệt và xuất khẩu. Có thể nuôi làm cá cảnh.

Do sự săn bắt ráo riết và sự khai thác hải sản bằng thuốc nổ và CHẤT ĐỘC đã phá huỷ môi trường sinh thái và gây ô nhiễm dẫn đến giảm số lượng và nơi cư trú. Dự đoán quần thể có ít hơn 10.000 cá thể trưởng thành và mức giảm ít nhất 10%.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007. Cấm triệt để việc khai thác hải sản bằng chất nổ và CHẤT ĐỘC.

CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI - EPINEPHELUS TAUVINA 

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A1c,d B2c,e

CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI
Theo http://arkive.org/
CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI
Theo SĐVN 2007
Cá song mỡ là một trong những loài cá đáy có giá trị kinh tế cao, hiện nay đã trở thành đối tượng nuôi quan trọng ở khu vực Đông Nam Á. Ăn tươi, thịt ngon được nhiều người ưa chuộng, giá thị trường khá cao. Chúng phân bố ở các tỉnh ven biển Việt Nam từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.

Do công nghệ sản xuất giống Cá song mỡ rất khó, trong khi nuôi Cá song mỡ ngày càng phát triển mạnh trong mấy năm qua, ngư dân đã dùng nhiều hình thức khai thác không hợp lệ, nguồn lợi Cá song ngày càng khan hiếm, cạn kiệt. Dự đoán số lượng giảm > 20%, hiện còn khoảng > 2500 cá thể trưởng thành.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản. Đề xuất khu vực cấm và hạn chế đánh bắt quanh năm và có thời hạn. Cần giảm cường độ khai thác, đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất con giống bằng biện pháp nhân tạo.

CÁ CỜ MẶT TRĂNG - VELIFER HYPSELOPTERUS 

Phân hạng: THIẾU DẪN LIỆU - DD

CÁ CỜ MẶT TRĂNG -
http://fishesofaustralia.net.au/
Là loài RẤT HIẾM, có ý nghĩa khoa học, không có giá trị thực phẩm. Ở Việt Nam chúng phân bố ở Vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ.

Cần giáo dục trong nhân dân ý thức bảo vệ loài cá hiếm này. Nếu bắt được cần thả ngay khi cá còn sống.

Hình theo SĐVN 2007

Tài liệu tham khảo SĐVN 2007

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

"Rừng lặng", và những nguy hại tiềm ẩn từ thịt động vật hoang dã

Rừng bị tận diệt đến mức tĩnh lặng, không còn tiếng thú, tiếng chim là thực tế đang xảy ra khá nhiều tại Việt Nam.


Meo-rung-1

Các nhà bảo tồn quốc tế nhắc đến khái niệm 'rừng lặng' (silent forest), tức là những khu rừng bị săn bắn, tận diệt đến mức tĩnh lặng, không còn tiếng thú, ít tiếng chim. Hiện tượng này dường như đã xảy ra ở rất nhiều cánh rừng tại Việt Nam, khiến thịt thú rừng trở nên khan hiếm và đắt đỏ hơn trước. Cánh thợ săn đã tận diệt từ khu rừng này, rồi càn quyết qua khu rừng khác để đáp ứng nhu cầu thị trường. Rừng lặng - chính là tương lai không xa của các cánh rừng Việt Nam nếu không có ngay những hành động quyết liệt từ phía cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và người tiêu dùng. 

Dù các cơ quan quản lý đã ban hành hàng loạt quy định về cấm buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã, nhưng thực khách vẫn tìm thấy những quán đặc sản thịt thú rừng khá dễ dàng ở bất cứ địa phương nào trên cả nước. 

Việt Nam vẫn được xem là một điểm nóng, là "trung tâm trung chuyển" động vật hoang dã phục vụ nhu cầu trong nước lẫn xuất lậu sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và các thị trường khác

Nghiên cứu của ba tác giả Milica Sandalj, Anna Treydte và Stefan Ziegler thực hiện năm 2015 với sự hỗ trợ của WWF-Việt Nam cho thấy, ước tính mỗi năm có khoảng 3.500 đến 4.000 tấn thịt rừng đi qua thị trường Việt Nam. Một nửa số này được tiêu thụ trong nước với 80% dưới dạng "đặc sản thịt rừng".

Theo nghiên cứu này, 85% trong tổng số 329 người được hỏi ở Huế từng ăn thịt rừng ít nhất một lần trong đời; 68% người có sử dụng thịt rừng trong vòng 12 tháng kể từ ngày được hỏi. Trong số người không ăn thịt rừng thì có đến 55% là do "không có cơ hội", 15% do "quá đắt" và 14% do "không thích"; chỉ 7% không ăn thịt rừng vì "không rõ nguồn gốc". 

Meo-rung-2
Mèo rừng bị săn bắn buôn bán. Ảnh Phạm Văn Thế

Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng nhóm người có thu nhập và trình độ học vấn cao xu hướng ăn thịt rừng nhiều thường xuyên hơn, một phần do họ có đủ khả năng tài chính, một phần để chứng tỏ đẳng cấp, phần khác do niềm tin vào tác dụng bồi bổ và công hiệu tăng cường sức khoẻ của thịt rừng.

Phần lớn thịt thú rừng tiêu thụ tại Việt Nam có nguồn từ loài động vật bản địa bị săn, bắn, bẫy từ rừng, trong đó có cả rừng thuộc khu bảo tồn, vườn quốc gia, nơi hành vi săn, bắt động vật hoang dã bị cấm và kiểm soát nghiêm ngặt hơn các nơi khác. Một phần khác được nhập lậu từ các nước lân cận. Trên thị trường cũng có các loại thịt thú rừng được nuôi trong các trang trại. Tuy nhiên, thực khách thường không mặn mà với các loại thịt không có tính “hoang dã” như vậy.

Để đáp ứng nhu cầu thịt rừng lớn đến như vậy thì cánh thợ săn phải săn bắn đến cạn kiệt thú. Có những “tụ điểm” thu mua thú rừng và khu nhà hàng đặc sản thịt rừng vốn hoạt động rầm rộ vài năm trước, nay phải đóng cửa hoặc tìm nguồn thịt rừng từ nhiều nguồn khác nhau do cạn kiệt nguồn thịt rừng tại địa phương.

Khi-moc
Khỉ mốc hoang dã bị bắt nuôi nhốt. Ảnh Phạm Văn Thế

Điều đó dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng của một số loài, trong đó có những loài nguy cấp như bò tót, voọc … Ngoài ra, sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể trong một hoặc một số loài lại có thể dẫn đến nguy cơ mất cân bằng trong tự nhiên. Một số loài có hại có thể sẽ phát triển rất mạnh do không có thiên địch. Một số loài khác, đặc biệt là thú ăn thịt, lại đứng trước nguy cơ chết đói do không kiếm được thức ăn.

Quy trình kiểm dịch thịt động vật ở Việt Nam

Không chỉ Việt Nam, mà nhiều nước kém phát triển khác ở châu Phi, Nam Á, cũng ăn thịt thú rừng. Thậm chí, ngay cả quốc gia có nền kinh tế, giáo dục, y tế phát triển như Mỹ, Canada, châu Âu, Nhật Bản... cũng tiêu thụ một số lượng lớn thịt rừng. Tuy nhiên có sự khác biệt lớn trong cách săn bắn và tiêu thụ thịt rừng ở châu Âu so với Việt Nam, bao gồm cả mục đích săn bắn, các loài được phép săn bắn và quan trọng hơn là quy trình kiểm dịch nghiêm ngặt, hạn chế tối đa khả năng lây bệnh cho người và lan ra cộng đồng. 

Thịt rừng ở Việt Nam thường được dân buôn thu gom từ nhiều nguồn. Người ta sử dụng các chất hoá học để chống thối rữa, đông lạnh rồi sau đó mới chuyển đến các nơi tiêu thụ. Nó không còn là đặc sản nữa mà là một loại thực phẩm lạ chưa qua kiểm dịch. Người ăn chắc chắn sẽ không tránh khỏi các loại chất độc hoá học đã ngấm vào từng miếng thịt được ướp đủ thứ gia vị để giấu đi mùi thật.

Nguy hiểm hơn, dù vẫn còn có tranh cãi trong giới khoa học, chúng ta không thể phớt lờ các bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa việc ăn thịt thú rừng, nhất là ăn theo kiểu sống-tái-nội tạng, với nguy cơ nhiễm các loại bệnh chưa từng biết đến, một số bệnh lại có khả năng lây lan rất cao, dẫn đến đại dịch khu vực hoặc thậm chí toàn cầu. Ebola, SARS, H5N1 là ví dụ. 

Vì vậy, việc sử dụng thịt rừng một cách bừa bãi không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người trực tiếp tiêu thụ mà còn có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng.

Cay-van-moc
Cây vằn mốc bị bắt từ rừng và nhốt chờ khách mua.  Ảnh Phạm Văn Thế

Từ thực trạng trên, Việt Nam cần tăng cường thực thi pháp luật để hạn chế, tiến đến kiểm soát được tình trạng săn bắn, vận chuyển, mua bán, tiêu thụ thịt và các sản phẩm từ động vật hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý hiếm là yêu cầu đã được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần.

Mọi người đừng góp phần biến rừng Việt Nam thành 'rừng lặng', hay để nó là nơi phục hồi sự sống. Nếu bạn là người có thói quen sử dụng động vật hoang dã, và nếu bạn chưa sẵn sàng để nghĩ đến những lợi ích thiên nhiên, thì ít nhất bạn hãy nghĩ đến sức khỏe của chính bạn và những người xung quanh.

Trần Lê Trà
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF)


Link: http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/trong-nuoc/rung-viet-nam-truoc-nguy-co-khong-con-tieng-thu-it-tieng-chim-3367707.html