Hiển thị các bài đăng có nhãn Khanh Hoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khanh Hoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2016

Phát hiện một loài mới cho khoa học: Đa tử trà lá nhỏ Polyspora microphylla Luong, Nguyen et Truong

Đa tử trà lá nhỏ (Polyspora microphylla LuongNguyen et Truong) một loài mới thuộc họ Chè (Theaceae) ở Việt Nam



Các nhà khoa học thuộc Khoa Sinh học, Trường Đại học Đà Lạt và Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà vừa phát hiện một loài mới cho khoa học, và cũng bổ sung thêm thành phần loài cho khu hệ thực vật Việt Nam. 
Đa tử trà lá nhỏ - Polyspora microphylla  Luong, Nguyen et Truong, sp. nov. (Hình 1, 2)
Cây gỗ nhỡ; lá non và cành non màu đỏ nâu, không lông. Lá hình bầu dục rất hẹp đến hình giáo ngược, dài 4-7.5 cm, rộng 1.3-2 cm, hai mặt không lông; gân phụ mờ nhạt, gân chính nổi rõ mặt dưới; mép lá có răng tròn đến ½ lá, không gợn sóng; đầu lá tù, lõm ở giữa; gốc lá hình nêm hoặc hình mũi tên;  cuống lá dài 3-5 mm, không lông. Hoa 1 – 3 ở đầu cành, gần như không cuống, đường kính 2.5-3.5 cm; nụ hoa hình cầu, có lông, kích thước 7-8 mm. Lá bắc nhỏ 2-3, hình gần tròn, sớm rụng, cao 3-4 mm, rộng 3-4.5 mm, mặt ngoài có lông. Lá đài 5, hình gần tròn, cao 4-4.5 mm, rộng 4.5-5 mm, mặt ngoài có lông. Cánh hoa 5, hình trứng ngược, màu vàng nhạt, cao 1-2.2 cm, rộng 0.8-1.2 cm, mặt ngoài có lông. Bầu hình trứng, 5 ô, cao 3 mm, rộng 2.5 mm, có lông; vòi nhụy liền, dài 3-4mm, có lông ở gốc. Nhị nhiều, 70-80 nhị; 3 vòng, vòng ngoài dính ở gốc và dính với gốc cánh hoa; chỉ nhị vàng, dài 4-5 mm, không lông. Quả hình bầu dục, cao 1.6- 2 cm, rộng 8-9 mm, trụ giữa dài 1.3-1.5 cm; quả 5 ô, mở 5 mảnh, mỗi ô 3-5 hạt. Hạt hình elip có cánh, rộng 3-3.5 mm, dài 7-8 mm cả cánh.
Mùa hoa tháng 1-3; mùa quả tháng 10-12.
Sinh thái và phân bố: Rừng lá rộng thường xanh, mây mù, độ cao 1400-1500 m, khu vực Hòn giao, Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà (ranh giới tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa). Đa tử trà lá nhỏ thường mọc với các loài Pơmu, Cồng nhám, Đỗ quyên đỏ, Thông tre.
           



Hình 1. Polyspora microphylla  Luong, Nguyen et Truong
A., B. Lá; C. Cành mang nụ hoa; D. Hoa; E. Lá bắc nhỏ; F. Lá đài; G. Cánh hoa; H. Nhị; I. Bầu; K. Quả; L. Quả mở; M. Hạt (người vẽ Lương Văn Dũng).





Hình 2. Polyspora microphylla  Luong, Nguyen et Truong


A. Cành mang nụ hoa; B. Hoa; C. Cành mang quả; D Hạt

Bài gửi bởi Trương Quang Cường - Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà

Thứ Hai, 22 tháng 8, 2016

Trà mi quang cường (Camellia quangcuongii) loài mới cho thế giới

Camellia quangcuongii

Một loài thực vật có hoa thuộc họ Trà (Camelliaceae) vừa được phát hiện tại núi Hòn Giao, tỉnh Khánh Hoà và được mô tả là mới cho khoa học với tên Trà mi quang cường (Camellia quangcuongii L. V. Dung, Son & Nhan)

Mô tả: Đây là loài cây gỗ, đường kính 20 cm, cao 8-9 m. Cành non không lông.


Lá hình thuôn, hai đầu nhọn, kích thước 5-6,5cm x 14-17 cm; mép lá có răng đều, cạn, xẻ dọc mép lá; mặt trên không lông, gân mờ nhạt; mặt dưới có lông thưa, gân chính và gân bên nổi rõ, 6-10 cặp gân bên. Cuống lá không lông, dài 1-1,2 cm.
Camellia quangcuongii -2
Bản vẽ mô tả loài Trà mi Quang Cường (Camellia quangcuongii): A.lá, B. Mặt dưới lá; C. Mặt trên lá; D.Nụ hoa; E. Hoa; F. Lá đài; G, H, I. Cánh hóa; K Đài và bầu; L. Bầu; M. Nhị; N. Quả; O. Hạt. Hình theo Lương Văn Dũng et al.

Hoa 1-2(3) ở nách lá, đường kính 4-5 cm; cuống dài 5-8 mm, không lông, cuống mang 6-7 lá bắc nhỏ, dạng vảy, mầu xám, kích thước 2 x 2 mm, có lông trắng ở mặt lưng. Đài 5, hình bán cầu hoặc gần tròn, không lông cả hai mặt, tồn tại (đồng trưởng), kích thước: rộng 0,3-0,5 cm, cao 0,4-0,5 cm. Cánh hoa 5-7(8), hình gần tròn đến hình bầu dục, màu trắng. Cánh hoa ngoài rộng 1,0 cao 1,5 cm, mặt trong có lông mịn, mặt ngoài có lông ở gốc; cánh hoa giữa rộng 1,2cm cao 2,5 cm, có lông mịn hai mặt; cánh hoa trong rộng 0,8 cao 2,3 cm, có lông hai mặt. Nhị nhiều, chỉ nhị không lông, dài 1,2 cm, vòng ngoài dính với gốc cánh hoa, chiều cao dính 4 mm; bao phấn 2 mm. 

Bầu hình trụ,không lông, cao 3mm, rộng 2mm, 3 ô, vòi nhụy xẻ 3 đến gốc, không lông,dài 5-6 mm. 

Camellia quangcuongii 1
Bản mô tả loài Trà mi Quang Cường (Camellia quangcuongii) dựa trên mẫu sống. Hình theo Lương Văn Dũng et al.

Quả nang, hình trứng, cong về một bên (không đối xứng theo trục dọc), không lông, kích thước 3,5-4 x 5-6 cm, vỏ quả mỏng, dày 1,5-2 mm, quả một hạt. Hạt bầu dục, không lông, kích thước 2,5 x 3,5 cm.

Sinh thái, vật hậu: Cây mọc trong rừng lá rộng thường xanh, độ cao 800 m, phân bố cùng với các cây họ Ngọc Lan, họ Xoài, họ Sim, họ Cà phê, họ Đậu, họ Sến. Mùa hoa tháng 10-12.Mùa quả tháng tháng 5-6. Cây phân bố trong rừng lá rộng thường xanh, độ cao 800 m, khu vực núi Hòn Giao (Ranh giới Lâm Đồng Và Khánh Hòa).

Từ nguyên: Tên của loài được đặt theo tên ông Trương Quang Cường, (VQG Bì Doup - Núi Bà, Đà Lạt


Loài này được nhóm tác giả Lương Văn Dũng (ĐH Đà Lạt), Hoàng Thanh Sơn (Viện Khoa học Lâm nghiệp, HN), Trần Ninh (ĐHQGHN), và  Pham Huu Nhan (VQG Bì Doup - Núi Bà, Đà Lạt) mô tả và công bố trên tạp chí "Journal of Japanese Botany".

Bài và ảnh: Trương Quang Cường, Lương Văn Dũng

Trích dẫn: Luong Van Dung, Hoang Thanh Son, Tran Ninh and Pham Huu Nhan. 2016. Camellia quangcuongii (Theaceae), a New Species from Vietnam.  J. Jpn. Bot. 91: 226–230.
Liên hệ tác giả: Hoàng Thanh Sơn, email: hoangsonfsiv@gmail.com
Đọc tóm tắt: http://www.jjbotany.com/getpdf.php?aid=10672

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Phát hiện loài thực vật mới (Eustigma honbaense) ở Khánh Hoà

Eustigma honbaense 1
Ảnh mẫu tươi Chân thư hòn bà (Eustigma honbaense H.Toyama, Tagane & V.S.Dang) – Ảnh: TS. Hironori Toyama.

Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu giữa Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam và Trung tâm Bảo tồn sinh thái châu Á thuộc Đại học Kyushu, Nhật Bản, các nhà khoa học đã phát hiện và mô tả một loài thực vật mới thuộc họ Kim mai (Hamamelidaceae) tại KBTTN Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa. Loài mới được đặt tên là Chân thư hòn bà (Eustigma honbaense H.Toyama, Tagane & V.S.Dang), theo địa danh “Hòn Bà” , nơi thu được mẫu vật.


Chi Chân thư (Eustigma Gardner & Champ.) là một chi nhỏ thuộc họ Kim mai (Hamamelidaceae) với khoảng 3 loài phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Dương và Trung Quốc. Riêng ở Việt Nam chi này được ghi nhận chỉ có 1 loài là Eustigma balansae Oliv.

Loài Chân thư hòn bà (Eustigma honbaense H.Toyama, Tagane & V.S.Dang) có đặc điểm là Cây gỗ lớn, cao 8–10 m. Lá hình elíp đến thuôn, kích thước 6,5–21,5 x 2,2–8,5 cm; gốc tù đến hình nêm, đầu có mũi nhọn đến tròn; bìa nguyên. Cụm hoa dạng chùm mọc ở ngọn hay nách lá, dài 5–10,3 cm. Quả nang, dạng hình trứng hay hình cầu, dài 12–16 mm, đường kính 9–10 mm; hạt 2, dạng trứng hẹp, kích thước 10 x 4,5 mm.

Chân thư hòn bà mới chỉ tìm thấy ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa, với 3 cá thể mọc dọc theo suối của rừng cây lá rộng thường xanh, ở độ cao khoảng 400 m so với mặt nước biển.

Loài mới này được công bố trong bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, số 65, trang 47–55, ngày 16/06/2016. Thông tin chi tiết có thể xem tại http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=6726

Cũng trong chương trình hợp tác nói trên, các nhà khoa học đã phát hiện được 3 loài khác ở Khu BTTN Hòn Bà là Giác đế hòn bà (Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang), Tai nghé hòn bà (Aporosa tetragona Tagane & V.S.Dang) và Xú hương Yahara (Lasianthus yaharae V.S.Dang, Tagane & H.Tran).

Nguồn tin: Đặng Văn Sơn – Viện Sinh học nhiệt đới

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Các dải san hô bị phá huỷ nghiêm trọng do Trung Quốc xây đảo nhân tạo

Các nhà khoa học quốc tế lên tiếng về tình trạng san hô bị phá hủy khi Trung Quốc tiến hành bồi đắp, xây dựng cấp tốc tại những đảo san hô ở khu vực quần đảo Trường Sa.
San-Ho-Trung-Quoc-pha-huy

Quan ngại của giới chuyên gia quốc tế
Quan ngại ngày càng tăng trong giới khoa học về tình trạng hủy hoại một hệ san hô quan trọng trong khu vực Đông Nam Á ở khu vực nơi mà Trung Quốc hiện đang nhanh chóng cho tiến hành cải tạo xây dựng những đảo nhân tạo.
Những nhà khoa học sau khi xem xét các ảnh chụp từ vệ tinh ở khu vực quần đảo Trường Sa được công bố gần đây cho hãng thông tấn Reuters biết hoạt động đổ cát xây dựng tại bảy bãi cạn ở Trường Sa mà Trung Quốc thực hiện gần đây làm hư hại hệ san hô quanh những địa điểm tiền đồn như thế. Và khu vực bị ảnh hưởng có thể rộng hơn người ta tưởng lúc ban đầu.
Nhà sinh vật học biển nổi tiếng thuộc Đại học Miami Hoa Kỳ, ông John McManus, cùng hợp tác với các nhà khoa học Philippines trong công tác nghiên cứu Biển Đông, trong tháng sáu này phát biểu với các nhà khoa học khác rằng hoạt động cải tạo của Trung Quốc để xây dựng nên những đảo nhân tạo tại các bãi cạn đạt kỷ lục trong lịch sử con người về tốc độ nhanh nhất làm mất vĩnh viễn một vùng san hô.
"Cơ quan Liên bang Hoa Kỳ đặc trách Hải dương vả Khí quyển, ông John McManus viết rõ rằng hoạt động nạo vét cát để đắp đảo và thông tuyến cho tàu thuyền vào những đảo mới xây đã phủy hoại một vùng rộng lớn các rạn san hô quanh nơi xây dựng"
Trên diễn đàn mạng điều hành bởi Cơ quan Liên bang Hoa Kỳ đặc trách Hải dương vả Khí quyển, ông John McManus viết rõ rằng hoạt động nạo vét cát để đắp đảo và thông tuyến cho tàu thuyền vào những đảo mới xây đã phủy hoại một vùng rộng lớn các rạn san hô quanh nơi xây dựng.
Theo đánh giá của giới khoa học thì các rạn san hô tại khu vực Trường Sa tương đối nhỏ so với các hệ san hô lớn khác trên Trái Đất; tuy nhiên hệ san hô ở Trường Sa được đánh giá có đa dạng sinh học và có thể giúp khôi phục cho những rạn san hô bờ biển đang bị đe dọa với những ấu trùng san hô và cá của chúng đưa đến.
Các rạn san hô tại khu vực Trường Sa còn là nơi cư ngụ của một số sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng gồm loài sò trai khổng lồ, cá nược cũng như một số chủng loại rùa biển.
Một chuyên gia về khoa học biển và pháp lý thuộc Trường Ngiên cứu Quốc tế S Rajaratman ở Singapore, bà Youna Lyons, cho biết những rạn san hô mà bao nhiêu thế kỷ qua không ai đụng đến thì nay không còn nữa. Vào tuần qua bà này nói với hãng thông tấn Reuters rằng bà thấy có bằng chứng những hoạt động nạo vét như dạng Trung Quốc đang thực hiện diễn ra ngoài những khu cải tạo là bảy bãi đá được công khai.
Bà này cũng có đánh giá là qui mô và bản chất hoạt động nạo vét những vùng san hô tại khu vực Biển Đông như gần đây là chưa hề có trong lịch sử con người.
Philippines vào ngày 22 tháng 6 lại công khai lên tiếng cáo buộc Trung Quốc gây hại cho hệ sinh thái biển khi tiến hành hoạt động cải tạo xây dựng đảo nhân tạo ở khu vực Trường Sa. Manila nêu cụ thể con số thiệt hại về kinh tế đối với các quốc gia quanh Biển Đông phải gánh chịu hằng năm là chừng 280 triệu đô la.
Đánh giá của chuyên gia Việt Nam
Nguyên viện trưởng Viện Hải Dương học Nha Trang, giáo sư Nguyễn Tác An, cho biết đánh giá về hệ sinh thái san hô tại Trường Sa như sau:
“ Điều này Việt Nam nghiên cứu tương đối kỹ nhất là trong chương trình hợp tác quốc tế. Mình khẳng định quần đảo Trường Sa là quần đảo san hô. Gốc của nó là những ám tiêu san hô; do đó nền tảng hình thành các đảo là những ám tiêu san hô.
Như anh biết quần đảo Trường Sa bây giờ trở thành nơi có vị trí địa chiến lược, địa chính trị, địa kinh tế; nhất là nó án ngữ trên tuyến đường giao thông quốc tế. Do đó vấn đề san hô cực kỳ quan trọng. Hiện nay theo luật biển nghiêm cấm các quốc gia cải tạo, khai thác, thay đổi cấu trúc của các ám tiêu san hô. Một số quốc gia hiện nay làm chuyện đó nên vấn đề trở nên quan trọng.

Hình ảnh hoạt động xây đảo của Trung Quốc được may bay Mỹ nghi lại
Hình ảnh hoạt động xây đảo của Trung Quốc được may bay Mỹ nghi lại

Ngoài ra 50% lượng cá tại Biển Đông liên quan đến các ám tiên san hô với diện tích trên 200 ngàn cây số vuông, nên nó rất quan trọng.
Ngoài ra những ám tiên san hô hình thành nên những chỏm đảo có độ cao khoảng 1-2 mét khỏi mặt nước trở thành mặt bằng cho ngư dân sinh sống, cư trú và cho những hoạt động kinh tế
"Các rạn san hô tại khu vực Trường Sa còn là nơi cư ngụ của một số sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng gồm loài sò trai khổng lồ, cá nược cũng như một số chủng loại rùa biển"
Quan trọng nhất là đa dạng sinh học của san hô ở vùng Biển Đông. Nó ở vùng nhiệt đới nên có giá trị trong việc điều tiết thời tiết. 2.15
Một chuyên gia về thực vật biển của Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại, cũng cho biết:
“Trước đây có những đề tài cấp Nhà nước nghiên cứu về đa dạng sinh học: tất cả các ngành về sinh vật từ san hô cho đến cá, cho đến cỏ biển… thì người ta cũng đánh giá đó là vùng biển rất đa dạng, giàu có; đa dạng về sinh học.
“ Chắc chắn vùng Trường Sa của Việt Nam là vùng đa dạng sinh học về san hô thuộc loại lớn của thế giới rồi. Cả Hoàng Sa và Trường Sa đa dạng sinh học đều lớn, trong đó có nhiều loài thủy sản và nếu phá hoại chúng thì ảnh hưởng đến toàn bộ môi sih cùa vùng đó.”
“ Hiện nay nguyên nhân suy giảm thì đâu cũng diễn ra hết; nhưng vùng hoạt động của con người nhiều quá thì nó ảnh hưởng. Từ đánh bắt cho đến những hoạt động bồi đắp …đều ảnh hưởng ghê lắm”
Phản ứng của Trung Quốc
Trung Quốc khi được hỏi về những đánh giá gây hại môi trường mà giới khoa học nêu ra khi Bắc Kinh cho tiến hành cải tạo, bồi đắp xây dựng đảo nhân tạo, thì Cục Hải Dương Nhà nước Trung Quốc cho rằng tác động đối với sinh thái rạn san hô chỉ khu biệt, tạm thời, có thể kiểm soát được và có thể phục hồi. Ngoài ra cơ quan này không trả lời thêm gì khác khi bị chất vấn.
Một quan chức thuộc Vụ Biên giới- Hải dương của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng không nước nào quan tâm đến việc bảo vệ sinh thái của đảo, rạn san hô và khu vực biển liên quan bằng Trung Quốc. Người này còn nói rằng Trung Quốc tôn trọng những cam kết của Công ước Liên hiệp quốc về Đa dạng Sinh học và Buôn bán Các loài Nguy cấp.
Tuyên bố lâu nay của Trung Quốc hoàn toàn ngược lại với những quan ngại và cảnh báo của giới khoa học.
Về việc có thể giúp phục hồi những khu vực san hô bị phá hủy, giáo sư Nguyễn Tác An khẳng định:
“ San hô ở Trường Sa hình thành cả trăm triệu năm thì làm sao có thể khôi phục được. Thứ hai nữa sự phát triển của san hô rất chậm. Thứ ba với động lực ở trong biển khi phá khu vực này sẽ gây ảnh hưởng đến một khu vực lớn chứ không phải trong lĩnh vực nhỏ.
Các nhà khoa học quốc tế đã nói nếu gây hại đến các ám tiêu san hô thì không thể nào phục hồi được và dẫn đến các hậu quả về sinh thái học mà không cách gì phục hồi lại được.
Tiến sĩ thực vật biển Nguyễn Hữu Đại có trình  bày:
“Tôi cho rằng người ta nói phần nào cũng đúng vì khu nào người ta nạo vét thì khu đó nước đục và san hô bị ảnh hưởng; còn nếu ở xa quá thì khó ảnh hưởng đến. Nhưng để phục hồi không phải dễ vì san hô hằng nghìn năm. Khi bị vẫn đục thì những polyp của nó, nơi để sinh sống bị biến đổi, san hô chết thì để phục hồi biết bao lâu, trăm năm, ngàn năm. Đâu có dễ, làm cho vẩn đục lên rồi thì phục hồi rất khó. Nhưng tôi cho rằng chỉ khu vực chung quanh đó thôi chứ khó có thể ảnh hưởng đến vùng biển rộng lớn như vậy. Những khu vực nào bị tác động bởi con người thì bị tác động thôi, chứ những khu vực xa thì khó bị ảnh hưởng bởi những việc đó.”
“ Chắc chắn những khu vực nào mà con người đến tác động thì san hô sẽ bị thoái hóa nhanh và phục hồi rất lâu, người ta nói phục hồi nhanh là không đúng, việc phục hồi ( san hô) rất chậm. Vì để phát triển thành một rạn phải rất lâu dài bởi san hô phát triển rất chậm.
“ Để phục hồi thì người ta đem cả một cành san hô di giống đi trồng chỗ khác, ít khi đem ấu trùng vì ấu trùng nở ra hằng loạt rất khó. Di giống là lấy những cành san hô rồi đem đi trồng ở những nơi khác; chứ đem ấu trùng thì khó lắm.”
"Nhưng san hô ở xa ngoài biển nên người ta chưa thấy tác hại của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học cho biết lượng cá ngoài biển giảm đến 85% rồi mà nguyên nhân là các ám tiêu san hô, nơi cư trú, dưỡng sinh của cá bị hủy hoại"
Giáo sư Nguyễn Tác An
Hành động cần có
Một nhà sinh vật học biển khác là ông Terry Hughes thuộc Đại học James Cook ở Queensland, người vào năm 2012 có một nghiên cứu chung với các nhà khoa học Trung Quốc ra một nghiên cứu thừa nhận diện tích san hô bị suy giảm đáng kể tại khu vực Trường Sa. Lúc bấy giờ nghiên cứu nêu lý do là vì tình trạng đánh bắt hải sản quá mức cũng như do biến đổi khí hậu gây nên.
Ông này cũng thừa nhận hoạt động cải tạo, bồi đắp xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc có thể thấy gây ra những hủy hoại ghê gớm; nhưng còn một số rạn san hô vẫn chưa bị động đến, và còn trong tình trạng khá tốt.
Nhà sinh vật học biển John McManus kêu gọi các bên có tuyên bố chủ quyền tại khu vực quần đảo Trường Sa hãy gác lại tranh chấp và  hình thành nên một khu ‘công viên hòa bình’ nhằm bảo vệ những gì còn sót lại.
Giáo sư Nguyễn Tác An cũng cho biết về vấn đề hợp tác để bảo vệ san hô tại khu vực Biển Đông:
“ Hiện nay giới khoa học họ cũng đề nghị thành lập cái gọi là bảo tồn san hô xuyên quốc gia; tức nhiều nước cùng tham gia và bảo vệ san hô như là tài sản không chỉ của vùng Đông Nam Á mà của cả thế giới nữa. Từ năm 92 người ta đã đưa ra đề xuất thành lập Vườn Bảo tồn San hô Xuyên quốc gia. Đó là cách bảo vệ tốt nhất, và yêu cầu các quốc gia phải có thiện chí.
Điều đáng sợ nhất đối với san hô hiện nay là do biến đổi khí hậu, thời tiết nóng lên, dòng chảy thay đổi, lượng thức ăn giảm đi ( san hô là một loài động vật). Đó là bất khả kháng đối với con người; nay lại có thêm tác động của nhân tai thì không kém gì biến đổi khí hậu cả. Nhưng san hô ở xa ngoài biển nên người ta chưa thấy tác hại của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học cho biết lượng cá ngoài biển giảm đến 85% rồi mà nguyên nhân là các ám tiêu san hô, nơi cư trú, dưỡng sinh của cá bị hủy hoại”.
Theo giáo sư Nguyễn Tác An để có thể hợp tác thành công cần phải tin tưởng nhau; tuy nhiên trong thực tế vẫn chưa có được điều này. Còn theo nhà sinh vật họ biển John McManus thì nhiều người lại đang nhân danh phát triển để phá hủy môi trường.

Theo: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ScienceAndEnvironment/scien-alarm-ov-cn-islan-build-06302015055751.html

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Loài Giác đế mới cho khoa học từ Hòn Bà: Goniothalamus flagellistylus

PHÁT HIỆN MỘT LOÀI THỰC VẬT MỚI CHO KHOA HỌC TỪ VIỆT NAM: GIÁC ĐẾ HÒN BÀ
Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-1

Trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Trung tâm Bảo tồn sinh thái châu Á thuộc Đại học Kyushu, Nhật Bản về nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam. Các nhà thực vật vừa phát hiện một loài thực vật mới thuộc họ Annonaceae (họ Na) tại KBTTN Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa và được đặt tên là Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang (Giác đế hòn bà).


Loài Giác đế hòn bà Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang có đặc điểm là Cây gỗ nhỏ, cao khoảng 11 m; cành non có lông. Lá hình bầu dục thuôn, rất to, kích thước 31–45 x 8,2–11,5 cm, gốc lá nhọn hay tù, bìa nguyên, đầu có mũi nhọn, không lông ở cả hai mặt; gân bên 16–20 cặp. 
Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-2
Chùm quả mọc từ thân loài Giác đế hòn bà Goniothalamus flagellistylus . Ảnh Phùng Mỹ Trung

Hoa đơn độc, mọc ở thân chính hay cành già; cuống hoa dài 19–25 mm. Đài có màu hơi xanh xanh, không lông ở mặt ngoài và có lông nâu rải rác mặt trong, tồn tại bền bỉ. Tràng hình xoan thuôn hay xoan hẹp ở phía ngoài và hình thoi ở phía trong, có lông. Nhị nhiều, dạng thuôn dẹt, kích thước 3,8–4,8 x 0,6 mm. Bầu nhụy 1,4–1,7 x 0.3 mm, phủ bởi một lớp lông hơi vàng. 

Quả nhiều, dạng bầu dục, có màu nâu đỏ, kích thước 1,6–1,7 x 1 cm. Hạt 1, có màu nâu vàng, kích thước 1,5 x 0,8–1,0 cm. 

Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-3
Loài mới Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang – Giác đế hòn bà (ảnh chụp bởi TS. Shuichiro Tagane)

Loài Giác đế hòn bà được phát hiện ở độ cao từ 100–400 m trong kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng, hơi dốc ven suối, mọc cùng với các loài ưu thế khác như Ixonanthes reticulata Jack, Gironniera subaequalis Planch., Archidendron chevalieri (Kosterm.) I.C.Nielsen, Barringtonia augusta Kurz, Barringtonia macrostachya (Jack) Kurz, Camellia krempfii (Gagn.) Sealy, Streblus indicus (Bureau) Corner, Xerospermum noronhianum Blume và Pandanus fibrosus Gagnep. 
Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-4
Chùm quả, cành lá mang hoa loài Giác đế hòn bà Goniothalamus flagellistylus . Ảnh Phùng Mỹ Trung

Loài mới này được đăng trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, số 50, trang 1–8, ngày 23/05/2015. 


Biên tập: Đặng Văn Sơn – Viện Sinh học nhiệt đới
Contact: DANG VAN SON
Curator of the Herbarium (VNM)
Institute of Tropical Biology (ITB)
Vietnam Academy of Sciences and Technology (VAST)
Add: 85.Tran Quoc Toan Str, Dist 3
Ho Chi Minh City, Viet Nam
Tel: + 084 08 39327085
Mob: + 084 0907981259
Fax: + 084 08 39327085
Mail: dvsonitb@yahoo.com.vn or dvsonitb@gmail.com



PhytoKeys 50: 1-8 (13 May 2015)
doi: 10.3897/phytokeys.50.4427

Goniothalamus flagellistylus Tagane & V. S. Dang (Annonaceae), a new species from Mt. Hon Ba, Vietnam

Shuichiro Tagane, Son Van Dang, Tetsukazu Yahara, Hironori Toyama, Hop Tran

Abstract
A new species, Goniothalamus flagellistylus Tagane & V. S. Dang, sp. nov. from Hon Ba Nature Reserve in Khanh Hoa Province, South Vietnam is described and illustrated. This species is most similar to Goniothalamus tortilipetalus M.R.Hend., but distinct in having 308–336 stamens (vs. ca. 170–260) and ca.120 carpels (vs. ca. 50–100) per flower, and Stigma and pseudostyles ca.8.5 mm (vs. 4–4.5 mm) long.

Keywords: Annonaceae, Goniothalamus, Hon Ba Nature Reserve, Vietnam

Link: http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=4427

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015

Loài Vi tảo mới Mallomonas fimbriata phát hiện ở Cam Ranh

Vi-tao-Mallomonas
Ảnh minh hoạ Mallomonas
Một loài vi tảo mới cho khoa học mang tên Mallomonas fimbriata vừa mới được phát hiện ở các vũng nước thuộc Vịnh Cam Ranh tỉnh Khánh hoà bởi nhà khoa học Evgeniy Sergeevich Gusev và được công bố trên tạp chí Phytotaxa 195(4: 291-296).

Việc mô tả được thực hiện trên việc quan sát hình thái các vảy silica bằng kính hiển vi điện tử quét và truyền. Loài mới này có 3 loại vảy: vảy cơ thể hình bầu dục, những vảy đuôi thô, dài, phía trước tạo thành gai và kéo dài, phát triển rộng ra thành vảy đỉnh. Vảy dày, 3 lớp, cấu tạo mắt lưới bên trong. Vi tảo Mallomonas fimbriata có hình thái khá giống với M. fenestrata, và tạo thành một nhóm đặc biệt với các nét đặc trưng độc đáo của cấu trúc vảy, gần tổ Retrorsae và Quadratae.

Nhóm Biodivn biên tập

A new species of the genus Mallomonas (Synurales, Chrysophyceae), Mallomonas fimbriata, sp. nov.

Evgeniy Sergeevich Gusev

Abstract


Mallomonas fimbriatasp. nov. is described from bog pool, located in Cam Ranh Peninsula, Khanh Hoa Province, Central Vietnam. The description is based on silica-scale morphology studied by means of transmission and scanning electron microscopy. New species has 3 types of scales: oval body scales, caudal ones with robust, long, forward pointing spines and elongated, widened to distal part apical scales. Scales are thick, 3-layered, with inner reticulation. Mallomonas fimbriata and the similar M. fenestrata form a special group with unique features of scales structure close to the sections Retrorsae and Quadratae.

Keywords

Mallomonas, Synurales, Chrysophyceae, Mallomonas fimbriata, sp. nov., new species
http://www.biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.195.4.4

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2015

Loài Ngọc lan mới cho khoa học Magnolia tiepii ở Khánh Hoà


Ngoc-lan-tiep-Magnolia-tiepii-1

Một trong những kết quả đạt được của Đề tài TN3/T14 “Điều tra, sàng lọc nguồn tài nguyên dược liệu thực vật tỉnh Lâm Đồng theo định hướng hoạt tính sinh học nhằm phát triển các loài có giá trị cao”
bắt đầu thực hiện từ tháng 11/2012 đến nay là phát hiện một loài thực vật mới và được đặt tên là Ngọc lan tiếp Magnolia tiepii


Đây là loài mới cho khoa học được mô tả bởi các nhà thực vật Việt Nam thuộc Viện nghiên cứu Khoa học Tây Nguyên, Đại học Đà Lạt, và Vườn thực vật Nam Trung Hoa và công bố trên tạp chí Nordic Journal of Botany.

Ngoc-lan-tiep-Magnolia-tiepii
Bản ảnh loài Ngọc lan tiếp Magnolia tiepii (Hình Nông Văn Duy và Trần Văn Tiến; theo http://taynguyen3.vast.vn/)

Theo TS. Nông Văn Duy và TS. Trần Văn Tiến thì loài Ngọc lan này phân bố ở khu vực rừng núi đất cây lá rộng có độ cao tầm 700-800 m so với mặt biển ở Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hoà. Chúng được đặt tên vinh danh GS. Nông Văn Tiếp vì những đóng góp của ông cho nghiên cứu họ Ngọc lan ở Việt Nam. Tên địa phương gọi loài này là Giổi lá to

Ngọc lan tiếp là loài cây gỗ nhỡ cao đến 20 m và đường kính thân tầm 50 cm. Lá trưởng thành dài đến 70 cm, rộng đến 30 cm. Chúng ra hoa ở đầu cành, có màu trắng - vàng nhạt, xuất hiện từ tháng 9 đến tháng 11 Dương lịch.

Vùng phân bố của loài mới này rất hạn hẹp, ước chừng nhỏ hơn 100 km2, do đó chúng được đề nghị ở tình trạng bảo tồn là Critically Endangered (CR - Nguy cấp) theo tiêu chuẩn của IUCN quốc tế.

Ngoc-lan-lam-dong-Magnolia-lamdongensis
Bản ảnh loài Ngọc lan lâm đồng Magnolia lamdongensis (Hình Nông Văn Duy và Trần Văn Tiến; theo http://taynguyen3.vast.vn/)

Ngoài loài mới Ngọc lan tiếp Magnolia tiepii này ra, nhóm nghiên cứu còn phát hiện thêm một loài mới khác là Ngọc lan lâm đồng Magnolia lamdongensis và được chấp nhận công bố trên tạp chí Adansonia. Những thông tin chi tiết về loài Ngọc lan lâm đồng sẽ được biodivn.com cập nhật trong thời gian sớm nhất. 

Biên tập: Phạm Văn Thế

Magnolia tiepii sp. nov. from Vietnam

Published online: 4 February 2015
Duy Nong Van, Phan Nguyen Huu Toan, Van Tien Tran, Van Dung Luong, Nianhe Xia

A new species of Magnolia sect. Gwillimia DC., Magnoliaceae from Vietnam is described and illustrated. Magnolia tiepii is recognized from southern Vietnam, where it occurs in Khanh Vinh slope, Khanh Vinh District, Khanh Hoa Province. It is distinguished from the closely related M. henryi by having narrowly cuneate leaf blade, short petiole, stipular scar at the base of the leaf blade, short peduncle and ellipsoid fruit.


Doi: 10.1111/njb.00540; http://www.nordicjbotany.org/article/magnolia-tiepii-sp-nov-vietnam