Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Các dải san hô bị phá huỷ nghiêm trọng do Trung Quốc xây đảo nhân tạo

Các nhà khoa học quốc tế lên tiếng về tình trạng san hô bị phá hủy khi Trung Quốc tiến hành bồi đắp, xây dựng cấp tốc tại những đảo san hô ở khu vực quần đảo Trường Sa.
San-Ho-Trung-Quoc-pha-huy

Quan ngại của giới chuyên gia quốc tế
Quan ngại ngày càng tăng trong giới khoa học về tình trạng hủy hoại một hệ san hô quan trọng trong khu vực Đông Nam Á ở khu vực nơi mà Trung Quốc hiện đang nhanh chóng cho tiến hành cải tạo xây dựng những đảo nhân tạo.
Những nhà khoa học sau khi xem xét các ảnh chụp từ vệ tinh ở khu vực quần đảo Trường Sa được công bố gần đây cho hãng thông tấn Reuters biết hoạt động đổ cát xây dựng tại bảy bãi cạn ở Trường Sa mà Trung Quốc thực hiện gần đây làm hư hại hệ san hô quanh những địa điểm tiền đồn như thế. Và khu vực bị ảnh hưởng có thể rộng hơn người ta tưởng lúc ban đầu.
Nhà sinh vật học biển nổi tiếng thuộc Đại học Miami Hoa Kỳ, ông John McManus, cùng hợp tác với các nhà khoa học Philippines trong công tác nghiên cứu Biển Đông, trong tháng sáu này phát biểu với các nhà khoa học khác rằng hoạt động cải tạo của Trung Quốc để xây dựng nên những đảo nhân tạo tại các bãi cạn đạt kỷ lục trong lịch sử con người về tốc độ nhanh nhất làm mất vĩnh viễn một vùng san hô.
"Cơ quan Liên bang Hoa Kỳ đặc trách Hải dương vả Khí quyển, ông John McManus viết rõ rằng hoạt động nạo vét cát để đắp đảo và thông tuyến cho tàu thuyền vào những đảo mới xây đã phủy hoại một vùng rộng lớn các rạn san hô quanh nơi xây dựng"
Trên diễn đàn mạng điều hành bởi Cơ quan Liên bang Hoa Kỳ đặc trách Hải dương vả Khí quyển, ông John McManus viết rõ rằng hoạt động nạo vét cát để đắp đảo và thông tuyến cho tàu thuyền vào những đảo mới xây đã phủy hoại một vùng rộng lớn các rạn san hô quanh nơi xây dựng.
Theo đánh giá của giới khoa học thì các rạn san hô tại khu vực Trường Sa tương đối nhỏ so với các hệ san hô lớn khác trên Trái Đất; tuy nhiên hệ san hô ở Trường Sa được đánh giá có đa dạng sinh học và có thể giúp khôi phục cho những rạn san hô bờ biển đang bị đe dọa với những ấu trùng san hô và cá của chúng đưa đến.
Các rạn san hô tại khu vực Trường Sa còn là nơi cư ngụ của một số sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng gồm loài sò trai khổng lồ, cá nược cũng như một số chủng loại rùa biển.
Một chuyên gia về khoa học biển và pháp lý thuộc Trường Ngiên cứu Quốc tế S Rajaratman ở Singapore, bà Youna Lyons, cho biết những rạn san hô mà bao nhiêu thế kỷ qua không ai đụng đến thì nay không còn nữa. Vào tuần qua bà này nói với hãng thông tấn Reuters rằng bà thấy có bằng chứng những hoạt động nạo vét như dạng Trung Quốc đang thực hiện diễn ra ngoài những khu cải tạo là bảy bãi đá được công khai.
Bà này cũng có đánh giá là qui mô và bản chất hoạt động nạo vét những vùng san hô tại khu vực Biển Đông như gần đây là chưa hề có trong lịch sử con người.
Philippines vào ngày 22 tháng 6 lại công khai lên tiếng cáo buộc Trung Quốc gây hại cho hệ sinh thái biển khi tiến hành hoạt động cải tạo xây dựng đảo nhân tạo ở khu vực Trường Sa. Manila nêu cụ thể con số thiệt hại về kinh tế đối với các quốc gia quanh Biển Đông phải gánh chịu hằng năm là chừng 280 triệu đô la.
Đánh giá của chuyên gia Việt Nam
Nguyên viện trưởng Viện Hải Dương học Nha Trang, giáo sư Nguyễn Tác An, cho biết đánh giá về hệ sinh thái san hô tại Trường Sa như sau:
“ Điều này Việt Nam nghiên cứu tương đối kỹ nhất là trong chương trình hợp tác quốc tế. Mình khẳng định quần đảo Trường Sa là quần đảo san hô. Gốc của nó là những ám tiêu san hô; do đó nền tảng hình thành các đảo là những ám tiêu san hô.
Như anh biết quần đảo Trường Sa bây giờ trở thành nơi có vị trí địa chiến lược, địa chính trị, địa kinh tế; nhất là nó án ngữ trên tuyến đường giao thông quốc tế. Do đó vấn đề san hô cực kỳ quan trọng. Hiện nay theo luật biển nghiêm cấm các quốc gia cải tạo, khai thác, thay đổi cấu trúc của các ám tiêu san hô. Một số quốc gia hiện nay làm chuyện đó nên vấn đề trở nên quan trọng.

Hình ảnh hoạt động xây đảo của Trung Quốc được may bay Mỹ nghi lại
Hình ảnh hoạt động xây đảo của Trung Quốc được may bay Mỹ nghi lại

Ngoài ra 50% lượng cá tại Biển Đông liên quan đến các ám tiên san hô với diện tích trên 200 ngàn cây số vuông, nên nó rất quan trọng.
Ngoài ra những ám tiên san hô hình thành nên những chỏm đảo có độ cao khoảng 1-2 mét khỏi mặt nước trở thành mặt bằng cho ngư dân sinh sống, cư trú và cho những hoạt động kinh tế
"Các rạn san hô tại khu vực Trường Sa còn là nơi cư ngụ của một số sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng gồm loài sò trai khổng lồ, cá nược cũng như một số chủng loại rùa biển"
Quan trọng nhất là đa dạng sinh học của san hô ở vùng Biển Đông. Nó ở vùng nhiệt đới nên có giá trị trong việc điều tiết thời tiết. 2.15
Một chuyên gia về thực vật biển của Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại, cũng cho biết:
“Trước đây có những đề tài cấp Nhà nước nghiên cứu về đa dạng sinh học: tất cả các ngành về sinh vật từ san hô cho đến cá, cho đến cỏ biển… thì người ta cũng đánh giá đó là vùng biển rất đa dạng, giàu có; đa dạng về sinh học.
“ Chắc chắn vùng Trường Sa của Việt Nam là vùng đa dạng sinh học về san hô thuộc loại lớn của thế giới rồi. Cả Hoàng Sa và Trường Sa đa dạng sinh học đều lớn, trong đó có nhiều loài thủy sản và nếu phá hoại chúng thì ảnh hưởng đến toàn bộ môi sih cùa vùng đó.”
“ Hiện nay nguyên nhân suy giảm thì đâu cũng diễn ra hết; nhưng vùng hoạt động của con người nhiều quá thì nó ảnh hưởng. Từ đánh bắt cho đến những hoạt động bồi đắp …đều ảnh hưởng ghê lắm”
Phản ứng của Trung Quốc
Trung Quốc khi được hỏi về những đánh giá gây hại môi trường mà giới khoa học nêu ra khi Bắc Kinh cho tiến hành cải tạo, bồi đắp xây dựng đảo nhân tạo, thì Cục Hải Dương Nhà nước Trung Quốc cho rằng tác động đối với sinh thái rạn san hô chỉ khu biệt, tạm thời, có thể kiểm soát được và có thể phục hồi. Ngoài ra cơ quan này không trả lời thêm gì khác khi bị chất vấn.
Một quan chức thuộc Vụ Biên giới- Hải dương của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng không nước nào quan tâm đến việc bảo vệ sinh thái của đảo, rạn san hô và khu vực biển liên quan bằng Trung Quốc. Người này còn nói rằng Trung Quốc tôn trọng những cam kết của Công ước Liên hiệp quốc về Đa dạng Sinh học và Buôn bán Các loài Nguy cấp.
Tuyên bố lâu nay của Trung Quốc hoàn toàn ngược lại với những quan ngại và cảnh báo của giới khoa học.
Về việc có thể giúp phục hồi những khu vực san hô bị phá hủy, giáo sư Nguyễn Tác An khẳng định:
“ San hô ở Trường Sa hình thành cả trăm triệu năm thì làm sao có thể khôi phục được. Thứ hai nữa sự phát triển của san hô rất chậm. Thứ ba với động lực ở trong biển khi phá khu vực này sẽ gây ảnh hưởng đến một khu vực lớn chứ không phải trong lĩnh vực nhỏ.
Các nhà khoa học quốc tế đã nói nếu gây hại đến các ám tiêu san hô thì không thể nào phục hồi được và dẫn đến các hậu quả về sinh thái học mà không cách gì phục hồi lại được.
Tiến sĩ thực vật biển Nguyễn Hữu Đại có trình  bày:
“Tôi cho rằng người ta nói phần nào cũng đúng vì khu nào người ta nạo vét thì khu đó nước đục và san hô bị ảnh hưởng; còn nếu ở xa quá thì khó ảnh hưởng đến. Nhưng để phục hồi không phải dễ vì san hô hằng nghìn năm. Khi bị vẫn đục thì những polyp của nó, nơi để sinh sống bị biến đổi, san hô chết thì để phục hồi biết bao lâu, trăm năm, ngàn năm. Đâu có dễ, làm cho vẩn đục lên rồi thì phục hồi rất khó. Nhưng tôi cho rằng chỉ khu vực chung quanh đó thôi chứ khó có thể ảnh hưởng đến vùng biển rộng lớn như vậy. Những khu vực nào bị tác động bởi con người thì bị tác động thôi, chứ những khu vực xa thì khó bị ảnh hưởng bởi những việc đó.”
“ Chắc chắn những khu vực nào mà con người đến tác động thì san hô sẽ bị thoái hóa nhanh và phục hồi rất lâu, người ta nói phục hồi nhanh là không đúng, việc phục hồi ( san hô) rất chậm. Vì để phát triển thành một rạn phải rất lâu dài bởi san hô phát triển rất chậm.
“ Để phục hồi thì người ta đem cả một cành san hô di giống đi trồng chỗ khác, ít khi đem ấu trùng vì ấu trùng nở ra hằng loạt rất khó. Di giống là lấy những cành san hô rồi đem đi trồng ở những nơi khác; chứ đem ấu trùng thì khó lắm.”
"Nhưng san hô ở xa ngoài biển nên người ta chưa thấy tác hại của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học cho biết lượng cá ngoài biển giảm đến 85% rồi mà nguyên nhân là các ám tiêu san hô, nơi cư trú, dưỡng sinh của cá bị hủy hoại"
Giáo sư Nguyễn Tác An
Hành động cần có
Một nhà sinh vật học biển khác là ông Terry Hughes thuộc Đại học James Cook ở Queensland, người vào năm 2012 có một nghiên cứu chung với các nhà khoa học Trung Quốc ra một nghiên cứu thừa nhận diện tích san hô bị suy giảm đáng kể tại khu vực Trường Sa. Lúc bấy giờ nghiên cứu nêu lý do là vì tình trạng đánh bắt hải sản quá mức cũng như do biến đổi khí hậu gây nên.
Ông này cũng thừa nhận hoạt động cải tạo, bồi đắp xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc có thể thấy gây ra những hủy hoại ghê gớm; nhưng còn một số rạn san hô vẫn chưa bị động đến, và còn trong tình trạng khá tốt.
Nhà sinh vật học biển John McManus kêu gọi các bên có tuyên bố chủ quyền tại khu vực quần đảo Trường Sa hãy gác lại tranh chấp và  hình thành nên một khu ‘công viên hòa bình’ nhằm bảo vệ những gì còn sót lại.
Giáo sư Nguyễn Tác An cũng cho biết về vấn đề hợp tác để bảo vệ san hô tại khu vực Biển Đông:
“ Hiện nay giới khoa học họ cũng đề nghị thành lập cái gọi là bảo tồn san hô xuyên quốc gia; tức nhiều nước cùng tham gia và bảo vệ san hô như là tài sản không chỉ của vùng Đông Nam Á mà của cả thế giới nữa. Từ năm 92 người ta đã đưa ra đề xuất thành lập Vườn Bảo tồn San hô Xuyên quốc gia. Đó là cách bảo vệ tốt nhất, và yêu cầu các quốc gia phải có thiện chí.
Điều đáng sợ nhất đối với san hô hiện nay là do biến đổi khí hậu, thời tiết nóng lên, dòng chảy thay đổi, lượng thức ăn giảm đi ( san hô là một loài động vật). Đó là bất khả kháng đối với con người; nay lại có thêm tác động của nhân tai thì không kém gì biến đổi khí hậu cả. Nhưng san hô ở xa ngoài biển nên người ta chưa thấy tác hại của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học cho biết lượng cá ngoài biển giảm đến 85% rồi mà nguyên nhân là các ám tiêu san hô, nơi cư trú, dưỡng sinh của cá bị hủy hoại”.
Theo giáo sư Nguyễn Tác An để có thể hợp tác thành công cần phải tin tưởng nhau; tuy nhiên trong thực tế vẫn chưa có được điều này. Còn theo nhà sinh vật họ biển John McManus thì nhiều người lại đang nhân danh phát triển để phá hủy môi trường.

Theo: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ScienceAndEnvironment/scien-alarm-ov-cn-islan-build-06302015055751.html

Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015

Phát hiện khu phân bố mới cho loài Sồi ba cạnh quý hiếm ở Kon Tum

Trong chuyến điều tra thực vật tại tỉnh Kon Tum, các chuyên gia thuộc Viện Nghiên cứu Lâm Sinh – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã phát hiện khu phân bố mới cho loài Sồi ba cạnh quý hiếm.
Trigonobalanus-verticillata-1
Quả Sồi ba cạnh, Ảnh Hoàng Thanh Sơn


Sồi ba cạnh được tìm thấy tại đường đi chùa Khánh Lâm ở độ cao 1142 m, trên đường đi thác Pa Sỹ ở đọ cao 1196 m và dọc đường đèo Măng Đen mới ở độ cao 1450 m thuộc xã Măng Đen, huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum. Chiều cao trung bình của các cây được tìm thấy 14 m; đường kính thân các cây từ 30 – 90cm, cây lớn lên tới 120m.

Trigonobalanus-verticillata-2
Cây Sồi ba cạnh khu vực Chùa Khánh Lâm (Ảnh: Hoàng Thanh Sơn)

Sồi ba cạnh có tên khoa học là Trigonobalanus verticillata Forman, thuộc chi Trigonobalanus – chi thực vật có mức độ tiến hóa thấp nhất trong các chi của họ Dẻ (Fagacease).. Loài này thường mọc hỗn giao với các loài Trà hoa cám (Camellia furfuracea), Bù lốt (Grewia bulot), Chay (Artocarpus sp.), Dẻ kon tum (Lithocarpus komtummensis), Dẻ khuynh diệp (Lithocarpus eucalyptifolius), Dẻ se (Lithocarpus harmandii)…

Sồi ba cạnh thuộc họ Dẻ (Fagaceae), tuy nhiên mang nhiều đặc điểm hình thái khác với các loài trong cùng họ Dẻ (Fagaceae) như lá mọc vòng và quả có ba cạnh..

Trigonobalanus-verticillata-3
Cây Sồi ba cạnh ở Khu vực đường đi thác Pa sỹ (Ảnh: Hoàng Thanh Sơn)

Trên thế giới, Sồi ba cạnh mới chỉ phát hiện được ở Indonesia, Malaysia và Việt Nam. Ở Việt Nam, Sồi ba cạnh từng được phát hiện trước đó ở ba khu vực là Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh, tỉnh Gia Lai (2002), Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà, Lâm Đồng (2007), Khu bảo tồn Thiên nhiên Nam Nung, Đắc Nông (2014) và Măng đen là khu vực thứ bốn tìm thấy loài Sồi ba cạnh phân bố.

Trigonobalanus-verticillata-4
Lá và cây tái sinh của Sồi ba cạnh (Ảnh: Hoàng Thanh Sơn)

Việc phát hiện quần thể Sồi ba cạnh càng thể hiện tính đa dạng của các hệ thực vật của xã Măng đen, và cũng thể hiện Tây nguyên là khu vực thuận lơi cho sự tồn tại và phát triển của loài Sồi ba cạnh.

Hoàng Thanh Sơn

Viện Nghiên cứu Lâm sinh – Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2015

Phát hiện một loài mới họ Mộc hương (Aristolochiaceae) ở Việt Nam

Phong-ky-nam-bo-Aristolochia-cochinchinensis-2
Một nhóm các nhà nghiên cứu thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Sinh thái học miền Nam, Viện Hàn lâm Khoa học & Công nghệ Việt Nam, và Viện Thực vật, ĐH Tổng hợp Dresden, CHLB Đức, đã phát hiện và mô tả một loài thực vật mới thuộc họ Mộc hương (Aristolochiaceae) ở miền Nam Việt Nam. Loài thực vật mới có tên khoa học là Phòng kỷ Nam Bộ, Aristolochia cochinchinensis Do.

Trên thế giới, chi AristolochiaL. (Aristolochiaceae) gồm khoảng 500 loài phân bố chủ yếu vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới,  là 1 trong những thức ăn ưa thích của sâu non thuộc họ Bướm phượng (Papilionidae, Lepidoptera). Những nghiên cứu gần đây đã ghi nhận chi này trong 3 phân chi: AristolochiaPararistolochia, và Siphisia.  Ở Việt Nam, chi này được biết khoảng 25 loài thuộc 2 phân chi Aristolochia và Siphisia. Những đặc điểm hình thái đặc trưng đặt loài mới trong phân chi Aristolochia.

Phong-ky-nam-bo-Aristolochia-cochinchinensis
Đặc điểm hình thái của Phòng kỷ nam bộ Aristolochia cochinchinensis
Loài mới có đặc điểm hình thái tương tự với các loài Aristolochia longeracemosa, A. poomae, A. pothieri  A. yalaensis, tuy nhiên loài mới được phân biệt với các loài kể trên bởi những đặc trưng hình thái như: cuống lá dài 6–8 cm, với vết sẹo lớn hình trụ ở gốc cuống, cụm hoa dạng xim, 2–4 xim ở mỗi đốt, mỗi cụm hoa gồm 5–9 hoa; bao hoa với môi hình thuôn hẹp, dài 1.2–1.5 cm, rộng 0.2 cm, phần đầu vặn xoắn; hoa không có cán giữa bầu và bao hoa.
Loài mới được đăng trên tạp chí chuyên ngành Annales Botanici Fennici số 52, năm 2015. Thông tin chi tiết tham khảo tại http://www.annbot.net/PDF/anb52-free/268-273-35995-free.pdf
Đỗ Văn Trường (E-mail: dovantruong_bttn@yahoo.com)

Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Cây xanh là các máy điều hoà không khí tự nhiên: Infographic

cay-xanh-dieu-hoa-khong-khi
Những ngày gần đây, Hà Nội trải qua đợt nắng nóng kỷ lục. Trong những lúc như vậy, được ngồi hóng mát dưới bóng cây xanh chắc hẳn là mơ ước của rất nhiều người. 
Thật vậy, cây xanh có rất nhiều tác dụng, và một trong những tác dụng đó là điều hoà làm mát không khí một cách tự nhiên.

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật, để đảm bảo cho lá cây quang hợp, tổng hợp chất dinh dưỡng từ không khí và ánh sáng một cách bình thường thì tất yếu lá phải thoát hơi nước. Quá trình sinh học này tạo ra thế nước giúp cho cây lấy được nước từ đất cung cấp cho sự tồn tại của lá (lực hút và lực đẩy) và hoạt động qua khí khổng. Do có sự thoát hơi nước này mà nó đã cải tạo vi khí hậu, làm giảm nhiệt độ môi trường xung quanh lá. 



Theo báo cáo của các nhà khoa học Briscoe, Kearney và cộng sự công bố trên Biology Letters (6/2014) thì lá cây Keo đen Acacia mearnsii có thể làm giảm nhiệt độ xung quanh nó 5 độ C, càng nhiều lá thì nhiệt sẽ giảm nhiều và khu vực rộng hơn. Một bãi đậu xe dưới tán nhiều cây xanh có thể làm giảm nhiệt độ không khí lên đến 25 độ C so với khu vực gần đường nhựa.


Việc chặt cây có thể tạo ra thảm hoạ môi trường kép:

Báo cáo của TS. Dominick Spracklen trong tạp chí Philosophical Transactions A của Hiệp hội Hoàng gia Anh, khẳng định rằng việc chặt cây sẽ làm cho tình hình biến đổi khí hậu càng trở nên tồi tệ hơn, nhiệt độ sẽ tăng nhanh hơn so với trước kia. Do đó, ông khuyến nghị việc trồng thêm cây chắc chắn góp phần cải tạo làm cho từng phạm vi tiểu khí hậu tốt đẹp hơn.

Thông tin được cung cấp trong Inphographic dưới đây thể hiện vai trò Điều hoà không khí quan trọng của cây xanh (click vào hình để xem cỡ lớn hoặc click chuột phải và mở hình ảnh trong tab mới)

cay-xanh-dieu-hoa-khong-khi-infographic


Biên tập: Phạm Văn Thế

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Sáu loài Thu hải đường (Begoniaceae) mới cho khoa học từ vùng núi đá vôi Bắc Việt Nam

Begonia-caobangensis-Credit-TrinhNgocBon
Các nhà thực vật Việt Nam và Đài Loan vừa hợp tác công bố 6 loài Thu hải đường  mới cho khoa học được phát hiện từ vùng núi đá vôi phía Bắc Việt Nam ở các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn và Thanh Hoá. Chúng bao gồm Begonia caobangensis [sect. Platycentrum], B. circularis, B. melanobullata, B. langsonensis, B. locii and B. montaniformis [sect. Coelocentrum]

Chi Begonia (Thu hải đường) trên thế giới có khoảng 1400 loài. Ở việt nam có khoảng 70, toàn bộ đều là cây thân thảo, phân bổ chủ yếu ở rừng thường xanh nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Mới đây các nhà khoa học Trung Hoa và Việt Nam đã công bố thêm 6 loài thu hải đường mới cho Miền Bắc nước ta. 

Begonia-new-from-Viet-nam
Bản ảnh màu và đen trắng: 1-2: Begonia caobangensis; 3-4: Begonia circularis; 5-6: Begonia langsonensis; 7-8: Begonia locii; 9-10: Begonia melanobullata; 11-12: Begonia montaniformis. Thiết kế bởi C. W. Lin.

1. Loài Begonia caobangensis C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo, hoa đơn tính cùng gốc, lâu năm. Thân rễ bò, dày 1-2 cm, lóng dài 0,2-0,5 cm,. Lá hình elip hay hình thoi, lá non có màu đỏ cả hai mặt, lá già có màu đỏ mặt dưới và xanh ở mặt trên, nhẵn, dài 8-21cm, rộng 4-8cm, gân phụ lá 6-8 đỉnh có mũi nhọn. Lá kèm sớm rụng, màu đỏ, hình trứng, dài 2-2,5 cm, rộng 0,7-1 cm Cụm hoa ở đỉnh hoặc ở nách lá cuối, phân nhánh 3-4 lần; cuống 8-12 cm dài, có lông hoặc không. 

Phân bố ở Hồ Thang Hen – Trà Lĩnh – Cao Bằng, ngoài ra còn bắt gặp ở Na Hang – Tuyên Quang. 

2. Loài Begonia circularis C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc. Thân rễ mập, bò, dày 1,2-2 cm. Lá kèm sớm rụng, màu đỏ, hình trứng đến hình tam giác. Cuống lá màu đỏ để màu đỏ-xanh, dài 5-9,5 (-14) cm, có lông màu hồng. Lá có hình dạng thay đổi. Phiến lá hình lưỡi không đối xứng, hình trứng rộng đến elip rộng, dài 13,5-21 cm, rộng 9,5-17 cm, đáy hình tim, có đuôi ở đỉnh, mép lượn sóng hay có răng,bề mặt hơi có lằn, phiến là màu xanh xậm, có vòng xanh nõn chuối vòng quanh, có 6-8 gân từ đáy lá, 2-3 cặp gân ở trên. Cụm hoa ở nách lá, phân nhánh 3-5 lần, cuống dài 9 – 16cm; lá bắc màu đỏ, hình thuôn đến hình trứng, dài 8mm, rộng 2,5-4mm; Hoa đực có cuống dài 1-2cm, cánh hoa 4, dài 14-19mm, rộng 13-16mm, màu đỏ, nhị nhiều, bao phấn màu vàng; hoa cái có cuống dài 7-10mm, cánh hoa 3, màu hồng nhạt, 2 cánh ngoài hình trứng rộng dài 7-17mm, rộng 8-13mm, bầu nàu đỏ, có 3 vòi nhụy màu vàng cam, dài 6-10mm; quả có 3 cạnh hình elips, dài 10-17mm, màu đỏ tươi. 

Phân bố ở Thạch An – Cao Bằng. 

3. Loài Begonia melanobullata C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc, cây lâu năm. Thân rễ leo cao đến 50cm, đường kính 1-2,5cm, lóng dài 1-2cm. Lá kèm màu vàng đến xanh nhạt, hình trứng – hình tam giác, dài 1,4-2,5cm, rộng 1-1,8cm, có lông ở gân. Cuống lá màu đỏ đến xanh, dài 8-21cm, có lông trắng khi non. Lá hình lưỡi lệch, hình trứng rộng đến hình elip, dài 13-21cm, rộng 9-15cm, đáy hình tim, có đuôi ở đỉnh, có lông khi non, gân từ đáy 7-9, gân thứ cấp 2-4 đôi. Cụm hoa mọc từ thân, phân nhánh 4-6 lần; cuống dài 15-38cm, có lông. Lá bắc màu xanh nhạt, hình trứng, dài 1cm, màu đỏ. Hoa đực có cuống dài 1,5 cm, cánh hoa 4; 2 cánh ngoài hình trứng dài 6-9mm rộng 7-9mm, màu đỏ, lông thưa; 2 cánh trong hình elip, dài 5-7mm, rộng 3-4mm, bao phấn màu xanh hơi vàng. Hoa cái có cuống dài 1,5cm, 3 cánh hoa; hai cánh ngoài màu hồng nhạt, dài 7-8mm, rộng 7-8mm; cánh trong màu hồng nhạt, hình elip, dài 4-6mm, rộng 2-3mm. Có bai vòi nhụy, dài 8-10mm, màu đỏ. Quả có 2 cánh, dài 12-19mm, màu xanh lục hoặc đỏ khi tươi, cánh rộng 2-4mm. 

Phân bố ở Thạch An – Cao Bằng 

4. Loài Begonia langsonensis C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc. Thân rễ bò, đến 10cm. Lá kèm sớm rụng, màu đỏ xanh nhạt, hình trứng tam giác, dài 7-10mm, rộng 1-1,1mm, có mũi ở đỉnh dài 3mm. Cuống lá màu nâu nhạt, dài 13-15cm. Lá hình lưỡi không đối xứng hay hình trứng xiên, dài 11-23cm, rộng 6-14cm, đáy hình tim, đỉnh có đuôi, có răng cưa nhỏ ở mép lá, màu xanh ngọc, gân từ đáy 6-8, gân bên 2-4 đôi. Cụm hoa ở nách, phân nhánh 4-6 lần, cuống dài 12-26cm, lá bắc màu xanh nhạt đến màu hồng nhạt, hình trứng. Hoa đực có cuống dài 2,2cm, 4 cánh hoa, 2 cánh hoa ngoài có kích thước 10-15x11-14mm, màu hồng nhẵn; 2 cánh hoa trong màu hồng nhạt, hình mác, dài 6-9mm, rộng 2,5-3,5cm; nhị 25-40, màu vàng; Hoa cái có cuống dài 1,8-2,6cm, cánh hoa 3, 2 cánh ngoài màu hồng hoặc hồng nhạt, dài 11-15mm, rộng 13-18mm, cánh tróng màu hồng nhạt. dài 7-11mm, rộng 3-4mm. buồng trứng màu xánh lá cây đến màu hồng nhạt, dài 12-15mm, 3 nuốm nhụy màu vàng. Quả có 3 cánh, dài 13-16mm, màu xanh lục. 

Phân bố ở Tân Lai – Hữu Liên – Hữu Lũng – Lạng Sơn. 

5. Loài Begonia locii C.-I Peng, C. W. Lin & H. Q. Nguyen 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc. Thân rễ bò, đến 30cm. Lóng dài 5-13mm, có lông. La kèm sớm rụng, màu đỏ, hình trứng đến hình tam giác, dài 6-14mm, rộng 5-9mm, có lộc dọc theo gân, đỉnh có mũi dài 2,5mm. Cuống lá màu xanh nâu, có lông, dài 20 (11)-25 (33) cm. Lá hình trứng xiên, không đối xứng, dài 11-22cm, rộng 6,5-12,5cm, thùy đáy hình trái tim, đỉnh nhon, có lông màu đỏ tười mặt dưới, mặt trên canh lá cây, có các đốm trắng bạc dọc theo gân cấp hai. Cụm hoa từ nách lá, chia nhánh 3-4 lần, cuống dài 13-35cm, có lông dày, lá bắc màu xanh đến vàng xanh. Hoa đực cuống dài 1cm, 4 cánh hoa, 2 canhsn goài hình trứng rộng, dài 9-12mm, rộng 8-11mm, màu hồng nhạt hay trắng, nhẵn, 2 cánh trong hình elip, màu trắng, dài 7-11mm, rộng 3-4,5mm. Hoa cái cuống dài 1 cm, 3 cánh hoa, 2 cánh ngoài màu hồng nhạt đến trắng, hình trứng rộng, dài 8-11mm rộng 8-12mm, màu trắng. Quả có 3 nuốm nhụy còn tồn tại, màu xanh, có lông. 

Phân bố ở Tân Lai – Hữu Liên – Hữu Lũng – Lạng Sơn. 

6. Loài Begonia montaniformis C.-I Peng, C. W. Lin & H. Q. Nguyen 

Cây thảo, cây có hoa đực và hoa cái cùng ở chung một thân, lâu năm. Thân rễ mập, bò, dài 30 cm, lóng dài 0,5-1,7 cm, Có lông. Lá kèm màu xanh nhạt đến màu hồng nhạt, hình trứng-hình tam giác, dài 0,7-1,4 cm, rộng 0,6-1,3 cm, có lông dọc theo gân chính, đỉnh có mũi dài 0,2 cm. Cuống lá màu đỏ đến màu xanh tía, dài 7-20 cm, có lông trắng dày. Lá hình trứng rộng dài 11,5-19 cm, rộng 8-13,5 cm, đáy hình tim, màu tím ô liu hay màu đen xanh nâu, gân từ đáy 7-9 cái, màu xanh nhạt, trên bề mặt có những hình nón nhô cao khỏi mặt lá vào 4-8 (10)mm, Màu đỏ vùng rỗng ở mặt dưới, có lông màu nâu nhạt mặt dưới, gân thứ cấp 2-4 cặp. Cụm hoa ở nách lá, phân nhánh 3-8 lần, cuống dài 11-28cm. có lông; lá bắc sớm rụng, hình thuyền, dài 1 cm, rộng 0,5cm, có lông thưa. Hoa đực dài 1-2cm, 4 cánh hoa, 2 cánh ngoài hình trứng đến, dài 7-12mm, rộng 6-10cm, màu vàng xanh, 2 cánh trong màu xanh, hình elip, dài 6-8mm, rộng 3-5mm. Hoa cái có cuống dài 1,4-2cm, cánh hoa 3, 2 cánh ngoài hình trứng, màu vàng đỏ xanh, đến vàng xanh, dài 8-12mm, rộng 9-13mm, cánh bên trong màu vàng xanh, hình elip, dài 8mm, rộng 2,5-4,5mm. 

Phân bố ở Eo Điếu – Cổ Lũng – Bá Thước – Thanh Hóa

Công bố này được đăng tải trên tạp chí Botanical Studies 2015, 56:9, ngày 2 tháng 5, 2015.

Biên tập: Trịnh Ngọc Bon

Botanical Studies 2015, 56:9 doi:10.1186/s40529-015-0089-3
Published: 2 May 2015 

Six new species of Begonia (Begoniaceae) from limestone areas in Northern Vietnam

Ching-I Peng, Che-Wei Lin, Hsun-An Yang, Yoshiko Kono and Hieu Quang Nguyen

Abstract

Background: Species of Begonia are richly represented in limestone karst areas across the Sino-Vietnamese border. More than one hundred species were known, many of which were documented recently. 
Results: In continuation of our systematic studies of Asian Begonia, we report six species of Begonia that are unknown to science, namely B. caobangensis [sect. Platycentrum], B. circularis, B. melanobullata, B. langsonensis, B.locii and B. montaniformis [sect. Coelocentrum] from Northern Vietnam. Diagnostic features that separate them from morphologically allied species are provided. Somatic chromosome numbers were determined, which supports their placement in the respective sections. Foliar SEM microphotographs were taken and described. 
Conclusion. A careful study of the literature, herbarium specimens and living plants, both in the wild and in cultivation in the experimental greenhouse, supports the recognition of the six new species, which are described and illustrated.

The complete article is available as a provisional PDF. The fully formatted PDF and HTML versions are in production. 

http://www.as-botanicalstudies.com/content/56/1/9/abstract

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

Hai loài tỏi rừng mới cho khoa học từ VQG Tam Đảo

Hai loài tỏi rừng mới cho khoa học được phát hiện tại Vườn Quốc Gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, Việt Nam đó là: Aspidistra clausa và Aspidistra triradiata (họ Thiên môn đông - Asparagaceae)

Toi-rung-Aspidistra-clausa

Tỏi rừng Aspidistra clausa có loài gần gũi là A. crassifila nhưng khác ở các đặc điểm: có lá hẹp hơn (2,8-4,5cm x 6-12cm), bao hoa hình ống so với hình chuông, phần phụ dài hơn, chỉ nhị và phần nối tiếp màu trắng với các đốm tím so với tím hoàn toàn, đầu nhuỵ hình nón so với hình nấm.

Mặt khác loài tỏi rừng mới Aspidistra clausa này cũng có hoa giống với loài A. patentiloba, nhưng khác ở đặc điểm hình dạng đầu nhuỵ và ở nhiều đặc điểm hình thái khác nên chúng không được cho là loài gần gũi.

Từ nguyên: tính ngữ "clausa" có nghĩa là "closed", nó giải thích rằng cấu trúc của hoa có các nhị bị ẩn lấp bởi cánh hoa. Trong loài gần gũi nó là A. crassifila thì nhị hoa hiện rõ.

Toi-rung-Aspisdistra-triradiata

Tỏi rừng Aspidistra triradiata có loài gần gũi là A. hainanensis nhưng chúng có nhiều đặc điểm khác biệt, ví dụ có bao hoa dạng bình, 4 sống thuyền có mụn, bề mặt dưới của cánh hoa và ống có mụn, và màu kì lạ của các đường toả tròn của bao hoa và nhuỵ. 

Từ nguyên: tên loài được đặt nhằm chỉ màu hoa văn của nhuỵ, gồm 3 đường toả tròn màu tím sáng.

Cả hai loài Tỏi rừng mới này mới chỉ thấy phân bố ở VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Công bố khoa học của 2 loài này được đăng tải trên tạp chí Phytotaxa 207 (3): 265-272.

Biên tập: Phạm Văn Thế

Phytotaxa 207 (3): 265-272
DOI: http://dx.doi.org/10.11646/phytotaxa.207.3.4

Two new species of Aspidistra (Asparagaceae, Nolinoideae) from northern Vietnam: A. clausa and A. triradiata

Nikolay Aleksandrovich Vislobokov

Abstract
Aspidistra clausa and Aspidistra triradiata are described and illustrated as new species from northern Vietnam (Vinh Phuc province, Tam Dao National Park). Aspidistra clausa is similar to A. crassifila, but has narrower leaves (lamina 2.8–4.5 cm vs. 6–12 cm), perigone tube wide tubular vs. campanulate, appendages longer, stigma conical vs. mushroom-shaped. Aspidistra triradiata is similar to A. hainanensis, but flowers larger (1.8–2.4 cm long, Ø 1.8–2.8 cm vs. 1–1.2 cm long, Ø 1.3–1.5 cm), perigone urceolate, lobes with 4 verrucose keels, stigma with three purple radial lines.

Keywords

DNA barcoding, Tam Dao, taxonomy, Monocots, Vietnam

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2015

Hội nghị Thực vật chí Việt Nam, Lào, Capuchia lần 3: Botanical Research in Tropical Asia - 2015

Botanical-Research-in-Tropical-Asia-1
Botanical Research in Tropical Asia 7-11/12/2015

This congress follows the two last symposia on the “Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, held in Phnom Penh (2008) and in Hanoi (2010), and widens its horizons to include all of Tropical Asia.


The first Symposium was co-organized from 8th to 14th December 2008, by the Royal University of Phnom Penh (RUPP) and the Muséum national d'histoire naturelle, Paris (MNHN). There were 350 participants from 20 countries with 57 oral presentations and 60 posters on the topics of taxonomy, ethnobotany, ecology, medicinal plants and phytochemistry. Workshops of botanical illustration (line drawings) were held by Alain Jouy (MNHN); forty participants took part, happy and honoured to get a final degree diploma.

Flore-du-Cambodge-du-Laos-et-du-Vietnam

This first symposium ended with a message of perseverance, recorded by Professor Jules E. Vidal, to the entire community of researchers and scientists in the region.

The second Symposium was held in Hanoi from 6th to 11th December 2010, co-organized by the Muséum national d’histoire naturelle, the Institute of Ecology and Biological Resources (IEBR), and the Vietnam Academy of Science and Technology (VAST). This Symposium was attended by 200 participants from more than 10 countries in the world especially from Asia, with 66 oral presentations and 56 posters on the same topics. The workshops of botanical illustration were held by Agathe Haevermans (MNHN), who added watercolour to the line drawings.

Botanical-Research-in-Tropical-Asia-Laos

The final recommendation committed participants to sharing knowledge for the benefit of the biodiversity of this region.

Since these Symposia, collaboration between a great number of researchers has led to numerous publications, so the third Symposium is fervently awaited for sharing new knowledge, pointing the tools for better conservation and sustainable plant biodiversity in the region, and promoting the rational use of plant resources.

Botanical-Research-in-Tropical-Asia-Laos-2


ORGANISATION

- Muséum national d’histoire naturelle (MNHN), Institut de Systématique, Evolution, Biodiversité (UMR7205 ISYEB), Paris
- National University of Laos (NUOL), Faculty of Science, Vientiane
- Institut de Recherche pour le Développement (IRD), Pharmacochimie et pharmacologie pour le développement (UMR 152 PHARMA-DEV), Toulouse

With financial support from: 
+ Muséum national d’histoire naturelle (MNHN)
+ National University of Laos (NUOL)

PLACE OF THE CONFERENCE

Lao Plaza Hotel
63 Samsenethai Road, PO Box 6708
Vientiane, Lao PDR

REGISTRATIONS:

- This congress will take place in Vientiane, Laos, from 6th to 11th December 2015.
- First call:   https://drive.google.com/file/d/0BxNf6nVbpBsiek82a0xycTFRRTg/view?usp=sharing
- Website: http://botatropasia.sciencesconf.org/
Registrations are accepted until July, 30 2015
- For the first circular: click on "Circular in English".
- To register: click on "Registration".

- Some pictures are on the site: click on "Gallery"

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Loài Giác đế mới cho khoa học từ Hòn Bà: Goniothalamus flagellistylus

PHÁT HIỆN MỘT LOÀI THỰC VẬT MỚI CHO KHOA HỌC TỪ VIỆT NAM: GIÁC ĐẾ HÒN BÀ
Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-1

Trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Trung tâm Bảo tồn sinh thái châu Á thuộc Đại học Kyushu, Nhật Bản về nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam. Các nhà thực vật vừa phát hiện một loài thực vật mới thuộc họ Annonaceae (họ Na) tại KBTTN Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa và được đặt tên là Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang (Giác đế hòn bà).


Loài Giác đế hòn bà Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang có đặc điểm là Cây gỗ nhỏ, cao khoảng 11 m; cành non có lông. Lá hình bầu dục thuôn, rất to, kích thước 31–45 x 8,2–11,5 cm, gốc lá nhọn hay tù, bìa nguyên, đầu có mũi nhọn, không lông ở cả hai mặt; gân bên 16–20 cặp. 
Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-2
Chùm quả mọc từ thân loài Giác đế hòn bà Goniothalamus flagellistylus . Ảnh Phùng Mỹ Trung

Hoa đơn độc, mọc ở thân chính hay cành già; cuống hoa dài 19–25 mm. Đài có màu hơi xanh xanh, không lông ở mặt ngoài và có lông nâu rải rác mặt trong, tồn tại bền bỉ. Tràng hình xoan thuôn hay xoan hẹp ở phía ngoài và hình thoi ở phía trong, có lông. Nhị nhiều, dạng thuôn dẹt, kích thước 3,8–4,8 x 0,6 mm. Bầu nhụy 1,4–1,7 x 0.3 mm, phủ bởi một lớp lông hơi vàng. 

Quả nhiều, dạng bầu dục, có màu nâu đỏ, kích thước 1,6–1,7 x 1 cm. Hạt 1, có màu nâu vàng, kích thước 1,5 x 0,8–1,0 cm. 

Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-3
Loài mới Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang – Giác đế hòn bà (ảnh chụp bởi TS. Shuichiro Tagane)

Loài Giác đế hòn bà được phát hiện ở độ cao từ 100–400 m trong kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng, hơi dốc ven suối, mọc cùng với các loài ưu thế khác như Ixonanthes reticulata Jack, Gironniera subaequalis Planch., Archidendron chevalieri (Kosterm.) I.C.Nielsen, Barringtonia augusta Kurz, Barringtonia macrostachya (Jack) Kurz, Camellia krempfii (Gagn.) Sealy, Streblus indicus (Bureau) Corner, Xerospermum noronhianum Blume và Pandanus fibrosus Gagnep. 
Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-4
Chùm quả, cành lá mang hoa loài Giác đế hòn bà Goniothalamus flagellistylus . Ảnh Phùng Mỹ Trung

Loài mới này được đăng trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, số 50, trang 1–8, ngày 23/05/2015. 


Biên tập: Đặng Văn Sơn – Viện Sinh học nhiệt đới
Contact: DANG VAN SON
Curator of the Herbarium (VNM)
Institute of Tropical Biology (ITB)
Vietnam Academy of Sciences and Technology (VAST)
Add: 85.Tran Quoc Toan Str, Dist 3
Ho Chi Minh City, Viet Nam
Tel: + 084 08 39327085
Mob: + 084 0907981259
Fax: + 084 08 39327085
Mail: dvsonitb@yahoo.com.vn or dvsonitb@gmail.com



PhytoKeys 50: 1-8 (13 May 2015)
doi: 10.3897/phytokeys.50.4427

Goniothalamus flagellistylus Tagane & V. S. Dang (Annonaceae), a new species from Mt. Hon Ba, Vietnam

Shuichiro Tagane, Son Van Dang, Tetsukazu Yahara, Hironori Toyama, Hop Tran

Abstract
A new species, Goniothalamus flagellistylus Tagane & V. S. Dang, sp. nov. from Hon Ba Nature Reserve in Khanh Hoa Province, South Vietnam is described and illustrated. This species is most similar to Goniothalamus tortilipetalus M.R.Hend., but distinct in having 308–336 stamens (vs. ca. 170–260) and ca.120 carpels (vs. ca. 50–100) per flower, and Stigma and pseudostyles ca.8.5 mm (vs. 4–4.5 mm) long.

Keywords: Annonaceae, Goniothalamus, Hon Ba Nature Reserve, Vietnam

Link: http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=4427

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Loài Ong cự mới cho khoa học từ Việt Nam: Phalgea maculata

Coleocentrus_excitator2_lindsey
Minh hoạ Ong cự trong phân họ Acaenitinae. Ảnh Wikipedia
Các nhà khoa học Việt Nam và Hà Lan vừa công bố 1 loài côn trùng mới cho thế giới được phát hiện từ Việt Nam. Thêm vào đó, 1 loài côn trùng khác cùng họ cũng lần đầu tiên được ghi nhận ở nước ta, trước đây chỉ thấy phân bố ở Trung Quốc.

Acaenitinae là một phân họ có trên 250 loài thuộc họ Ong cự Ichneumonidae. Mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu về sinh học của Acaenitinae nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng phân họ này bao gồm các loài ngoại ký sinh của các loài sâu sống trong gỗ. 

Ong-cu-Ichneumonidae_Wiki
Minh hoạ Ong cự họ Ichneumonidae. Ong cự thường có thân nhỏ, mảnh và dài, râu dài. Ảnh Wikipedia

Phalgea là một giống ong nhỏ chỉ gồm hai loài được ghi nhận trước đây ở Ma-lai-xia và Trung Quốc. 

Dựa trên các mẫu vật thu được gần đây, cả hai loài thuộc giống ong này đã được phát hiện ở Việt Nam, chúng bao gồm Phalgea maculata và P. melaptera

Trong đó loài Ong cự Phalgea maculata Pham & Achterberg là loài mới cho khoa học. 

Về mặt hình thái, P. maculata tương đối giống với loài P. melaptera Wang ở Trung Quốc. 

Tuy nhiên loài mới ở Việt Nam có thể phân biệt với loài ở Trung Quốc bởi sự xuất hiện của một đốm vàng trên ô marginal của cánh trước, đồng thời hai đốm trong trên gân 2m-cu của cánh trước hoàn toàn phân tách với nhau. 

Đây là những đại diện đầu tiên của phân họ Acaenitinae được ghi nhận ở Việt Nam. Công bố này được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3947 (1): 146–150.

Biên tập: TS. Phạm Thị Nhị (ptnhi2@yahoo.com)- Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, VAST


A review of the genus Phalgea Cameron (Hymenoptera: Ichneumonidae: Acaenitinae) with description of a new species from Vietnam

NHI THI PHAM, CEES VAN ACHTERBERG
Abstract: 
In this paper, the genus Phalgea is reviewed. A new species, Phalgea maculata sp. nov., is described and illustrated from Vietnam. In addition, P.melaptera Wang 1989 is recorded as new for the country. It is the first time the subfamily Acaenitinae is reported from Vietnam.

Keywords: 
Phalgea, new species, new record, parasitoid, Vietnam

Links: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3947.1.11
http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03947p150f.pdf

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Chi và loài Lan mới cho Việt Nam: Cephalanthera exigua [2014]

Cephalanthera-exigua_credit_ Nuraliev

Vào năm 2014, các nhà thực vật Nga (Maxim S. Nuraliev, Peter G. Efimov, Leonid V. Averyanov, Andrey N. Kuznetsov & Svetlana P. Kuznetsova) đã tìm ra một chi và loài lan mới cho Việt Nam: Cephalanthera exigua.

Chi và loài mới này được phát hiện tại ven suối trong khu rừng ở Bảo Lâm, Lâm Đồng. Trước đây chúng được tìm thấy phân bố tại Lào và Thái Lan. Bài báo được công bố trên tạp chí Wulfenia 21 (2014): 95–102.

Chi lan Cephalanthera bao gồm 15 loài lan hoại sinh trên thế giới. Và đây là lần đầu tiên chúng được ghi nhận cho hệ Lan cũng như hệ Thực vật Việt Nam.

Mô tả: Cephalanthera exigua có thân đứng, mảnh, cao 5 –10 cm, phần thân dưới phủ 3 –5 vảy mo dài 0,5 –1 cm, phân thân trên mang 1–3 lá bắc hoa nhỏ cách nhau. Lá bắc hoa dạng trứng hẹp, nhọn hoặc mũi nhọn ngắn, dài 0,5 –1 cm, dài ngang bằng bầu. 

Hoa mang 1–2(3) bông màu trắng, mở không rộng lắm, dạng chuông, chiều ngang chừng 1,5 cm. Đài hoa gần tương tự như nhau, dạng trứng hẹp, nhọn hoặc mũi nhọn ngắn, dài 11–12 mm, rộng 4 –5 mm; các lá đài bên hơi rộng hơn, phần gốc không đối xừng. Cánh hoa trứng hẹp, hơi nhỏ ngắn hơn, tù.

Môi hoa dài 10 –11 mm, mặt trong có các nhú, chia rõ thành 2 phần là phần họng và phần miệng. Phần họng dạng chén, với các thuỳ cong hình liềm tù dài 6 –7 mm. Phần miệng hình tim, dài và rộng 7– 8 mm, chia 3 thuỳ, các thuỳ bên bán nguyệt, có khía nông; thuỳ giữa trứng tam giác, cong ngược xuống phía dưới, có các nhú thô, ghồ ghề, nhỏ hơn thuỳ bên khoảng 2 lần. 

Môi với 3 sống thuyền chạy từ gốc đến gần hết đỉnh. Cột mảnh, hẹp, cao 5 –7 mm, mang bao phấn đứng thuôn dài 3 mm. 

Sinh thái: Loài lan này phân bố ở các sườn núi dưới tán rừng nguyên sinh cây lá rộng thường xanh có lẫn đá silicat, độ cao 1000 m so với mực nước biển ở khu vực Bảo Lâm, Lâm Đồng.

Mùa hoa: Tháng 4-5 

Tình trạng bảo tồnCephalanthera exiguain được đề nghị ở tình trạng Rất Nguy cấp CR (Critically Endangered) theo tiêu chuẩn IUCN 2014.

Biên tập: Phạm Văn Thế

Cephalanthera exigua (Orchidaceae), a new species and genus in the flora of Vietnam

Maxim S. Nuraliev, Peter G. Efimov, Leonid V. Averyanov, Andrey N. Kuznetsov & Svetlana P. Kuznetsova

Summary: The discovery of Cephalanthera exigua (Orchidaceae), a rare mycoheterotrophic species, is reported from southern Vietnam, Lam Dong province,representing a new specific and generic record for the flora of Vietnam. It also significantly expands the knowledge about the distribution area of this species. Problems of phylogeny, taxonomy and species identity within the Asian group of achlorophyllous species of the genus Cephalantheraare discussed. Morphological description of the Vietnamese plant including first detailed photos of flower structure of Cephalanthera exiguais provided. Thai and Vietnamese plants are compared in terms of flower morphology.

Keywords:  Cephalanthera exigua, Orchidaceae, mycoheterotrophic plants, Vietnam, flora, biodiversity, conservation, flower morphology

Link: http://istina.msu.ru/media/publications/article/557/a95/8700462/Nuraliev_et_al._2014_-_Cephalanthera_exigua.pdf

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

Loài thực vật mới phát hiện ở Việt Nam: Capparis gialaiensis

Cap-Capparis-gialaiensis-1
Một loài thực vật mới cho khoa học của họ Capparaceae từ Việt Nam, Cáp gia lai - Capparis gialaiensis Sy,  đã được mô tả và được minh họa bằng hình vẽ và hình ảnh. Về hình thái, nó gần với Capparis longistipitata, nhưng khác ở độ dài của gai, chỉ nhị và vòi nhụy, hình dạng của lá và kích thước của cánh hoa. Thêm vào đó, bài báo công bố loài mới cũng cung cấp những bức ảnh màu, bảng so sánh loài mới với những loài có quan hệ gần gũi, và khóa định loại lưỡng phân. 



Capparis là chi Type của họ Capparaceae, bao gồm khoảng 600 loài, phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, và một số vùng có khí hậu ôn hòa. Cho đến nay, đã có 35 loài, 3 phân loài và 2 thứ đã được ghi nhận ở Việt Nam. 

Gần đây, trong một đợt điều tra thực địa tại tỉnh Gia Lai, các nhà thực vật đã thu được mẫu vật của một loài Cáp đặc biệt. Nó sinh trưởng trên nền đất đỏ Bazan của những ngọn đồi nhỏ trong khu đất trống thuộc khu vực rừng thứ sinh ở xã Sơn Lang, huyện KBang. 

Sau khi kiểm tra tiêu bản chuẩn và so sánh về đặc điểm hình thái với các taxa tương tự, các nhà thực vật Việt Nam và Hàn Quốc đã kết luận rằng loài thực vật thu ở Gia Lai này là một loài chưa từng được mô tả.


Do đó, họ đã quyết định công bố loài mới trên tạp chí Annales Botanici Fennici, số 52, trang 219-223.

Cap-Capparis-gialaiensis-2

Mô tả: Bụi leo, cao tới 10 m, có lông tơ. Gai dài 0,5-1 mm, hơi uốn cong xuống. Cuống lá dài 1,2-1,5 cm, có phủ lông tơ; phiến lá hình elip đến trái xoan, kích thước 5-5,5 X 3-3,5 cm, mặt dưới lá có lông tơ trên gân chính và gân thứ cấp (gân phụ), mặt trên nhẵn, lúc non có màu vàng xanh, chuyển màu xanh sậm khi già, gân chính ở mặt dưới lá nổi rõ, mặt trên lá phẳng, gân phụ 3-5 ở mỗi bên của gân chính. Gốc lá tròn hoặc hơi nhọn, đỉnh lá nhọn, dài khoảng 0,5 cm. Cụm hoa dạng ngù, mọc ở nách lá hoặc ở đầu cành, gồm 9-11 hoa; cuống cụm hoa dài 2-2,5 cm; cuống hoa dài 1,5-1,6 cm, có lông tơ. Nụ hoa hình cầu, đường kính khoảng 2 mm. Lá đài kích thước 6-6,5 X 3-3,5 mm, phía ngoài có lông tơ, phía trong nhẵn; vòng ngoài lá đài xoắn vòng, trái xoan; vòng trong xoắn vòng dạng thìa. Cánh hoa màu trắng, hình thuôn, kích thước 12-13 X 4-5 mm, có lông tơ trên bề mặt và mép. Nhị 21-22; chỉ nhị dài 3,7-4 cm, nhẵn, màu trắng; bao phấn dài khoảng 1 mm. Vòi nhụy dài 3-3,5 cm, nhẵn. Bầu nhụy dạng khối elip, kích thước khoảng 2*1 mm, màu vàng xanh, nhẵn. Quả hình cầu, đường kính 3,5-3,8 cm, đỏ tía đến tím sậm khi chín, bề mặt nhẵn. Hạt 1-4 mỗi quả. Kích thước 1,5-1,7 X 1,2-1,3 cm, màu đen. Mùa hoa vào tháng 5-6, có quả trong khoảng tháng 5-11. 

Khóa lưỡng phân định loại loài Cáp gia lai C. gialaiensis và những loài gần gũi về hình thái: 

1. Vòi nhụy dài 0.6-0.8(-1.2) cm ... .......................................C. cantoniensis
1. Vòi nhụy ngắn nhất là 2 cm
2. Cuống hoa dài 2.5-3.5 cm; lá đài nhẵn; cánh hoa dạng trứng... C. lanceolaris
2. Cuống hoa dài đến 1.5 cm; lá đài có lông tơ; cánh hoa hình thuôn hoặc hình trái xoan
3. Gai dài 3-4 mm; phiến lá hình thuôn đến gần giống dạng trứng; cánh hoa hình trái xoan, dài 4-6 mm; chỉ nhị dài 0.7-2 cm .....................C. longistipitata
3. Gai dài 0.5-1 mm; phiến lá hình elip đến trái xoan; lá đài thuôn, dài 12-13 mm; chỉ nhị 3.7-4 cm ............................................................ C. gialaiensis

Biên tập: Hoài Vân

Liên kết: http://www.annbot.net/
PDF: Capparis gialaiensis (Capparaceae), a new species from Vietnam