Thứ Sáu, 6 tháng 2, 2015

Loài Ong mới Anterhynchium punctatum cho khoa học từ Việt Nam


Tiến sỹ Nguyễn Thị Phương Liên thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phát hiện một loài ong mới cho khoa học thuộc giống Anterhynchium, họ Ong vàng (Vespidae), bộ Cánh màng (Hymenoptera). Loài mới được công bố trên Tạp chí Khoa học Zootaxa, số 3915 tập 1, ngày 2/2/2015.
Ong-Wasp-Anterhynchium-(Anterhynchium)-punctatum

Loài ong lưng chấm Anterhynchium (Anterhynchium) punctatum được mô tả từ mẫu vật thu được ở Mai Châu (Hòa Bình), Tô Hiệu (Sơn La), Mê Linh (Vĩnh Phúc), Sơn Động (Bắc Giang), Cúc Phương (Ninh Bình) và Yon Don (Đắc Lắc). Loài mới khác với các loài đã biết của phân giống Anterhynchium ở đặc điểm mặt lưng của tấm bụng 1 và 2 có chấm dày và thô, mép trong của răng thứ hai hàm trên lõm vào.

Ngoài ra, Tiến sỹ Phương Liên cũng bổ sung 2 phân loài mới, A. flavolineatum flavolineatum và A. flavomarginatum flavomarginatumcho khu hệ Ong vàng ở Việt Nam.
Giống Anterhynchiumphân bố tương đối rộng ở châu Âu – Á với 39 loài đã được mô tả. Trong đó, chỉ có 10 loài được ghi nhận ở khu vực từ Ấn Độ đến Đông Nam Á.
Các loài ong bắt mồi thuộc họ Ong vàng có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái. Chúng vừa là thức ăn của một số nhóm động vật, vừa là thiên địch của một số nhóm khác. Đồng thời, chúng cũng đảm nhận việc thụ phấn cho các loài thực vật.
Phát hiện mới của Tiến sỹ Phương Liên đóng góp vào việc làm rõ tính đa dạng sinh học, đặc biệt của các loài ong vàng họ Vespidae ở Việt Nam.

Biên tập: Đức Anh
Nguồn: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3915.1.7

Taxonomic notes on the species of the genus Anterhynchium de Saussure, 1863 (Hymenoptera: Vespidae: Eumeninae) from Vietnam, with description of a new species

LIEN THI PHUONG NGUYEN

Abstract

A taxonomic study on the solitary wasps in the vespid genus Anterhynchium de Saussure, 1863, from Vietnam is presented. One species previously identified as A. (Anterhynchium) abdominale abdominale (Illiger, 1802) is described as new, namely A. punctatum Nguyen, sp. nov. Antechynchium(Dirhynchiumflavolineatum flavolineatum (Smith, 1857) and A. (Dirhynchiumflavomarginatum flavomarginatum (Smith, 1852) are newly recorded from Vietnam. New synonymy is proposed for A. flavolineatum flavolineatum (Smith, 1857) =A. flavolineatum malaisei van der Vecht, 1963, syn. nov. A. coracinum van der Vecht sensu Girish Kumar (2013) is a misidentification of A. f. flavomarginatum (Smith), and the record of this species from Pakistan and India belongs to A. f. flavolineatum. A key to species of the genus from Vietnam is provided.



Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Loài nhện mới Belisana denticulate cho khoa học

Phát hiện một loài nhện mới cho khoa học ở Việt Nam

Nhen-spider-Belisana-denticulate-1
Loài nhện Belisana denticulata Phạm, 2015. C.–Mặt lưng; D. Mặt bụng; E. Mặt bên. (Ảnh: Phạm Đình Sắc 2015)
Một loài nhên mới vừa được Tiến sỹ Phạm Đình Sắc, thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vât phát hiện và công bố trên tạp chí ZooKeys số 480, ngày 2 tháng 2 năm 2015). Loài nhện Belisana denticulate mới được tìm thấy ở tầng tán của thảm thực vật rừng Tam Đảo, và được phân biệt bởi đặc điểm: khoảng cách giữa mấu ngoại biên và mấu bên trên chân kìm cách xa nhau, sự có mặt của mảnh xương cứng hình yên ngựa trên mấu xúc biện, và sự xuất hiện của một khối màng bao phủ trên mấu xúc biện.


Giống Belisana, thuộc họ Pholcidae, bộ Nhện (Araneae), lớp Hình nhện (Arachnida) phân bố chủ yếu phía Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam, với khoảng 111 loài đã biết. Ở Việt Nam, đã ghi nhận được 15 loài nhện thuộc giống này. Tuy nhiên, với những tiềm ẩn giàu có về đa dạng sinh học, chắc chắn số loài nhện thuộc giống Belisana gặp ở Việt Nam sẽ còn cao hơn, với nhiều loài mới còn chưa được phát hiện.

Nhen-spider-Belisana-denticulate-2

Loài nhện Belisana denticulata Phạm, 2015. A. Hành trên xúc biện; B. Chân kìm ( b = Hành, ba = Mấu trên hành, da = Mấu ngoại biên, e = Mấu sinh dục, pa = Mấu bên. (Ảnh: Phạm Đình Sắc 2015)

Biên tập: Đức Anh
Nguồn: http://zookeys.pensoft.net/articles.php?id=4623

ZooKeys 480: 41-47 (02 Feb 2015)
doi: 10.3897/zookeys.480.9046
ZooKeys 480: 41–47 (2015)

One new species of the genus Belisana Thorell, 1898 (AraneaePholcidae) from northern Vietnam

expand article infoDinh-Sac Pham
One new species Belisana denticulata sp. n. () is reported from northern Vietnam based on material collected by fogging the forest canopy. This species resembles B. scharffi Huber, 2005, but can be distinguished by relatively long distance between proximal parts of proximo-lateral apophysis and distal apophysis on male chelicerae, by presence of a nearly saddle-shaped prolateral sclerite on procursus, and by different shape of retrolateral membranous flap on procursus. Type specimens are deposited in the Vietnam Academy of Science and Technology in Hanoi.



Thứ Ba, 3 tháng 2, 2015

Gần 25% các loài sinh vật biển có nguy cơ tuyệt chủng

Sinh-vat-bien
NGUY CƠ ĐỐI VỚI BIỂN: RỦI RO TUYỆT CHỦNG 20-25% SỐ LOÀI SINH VẬT BIỂN ĐÃ BIẾT

Khai thác quá mức, ô nhiễm, biến đổi khí hậu và phá hủy các hệ sinh thái (như rặng san hô) đang đẩy biển của chúng ta vào các rắc rối. Nhưng các nhà khoa học lo ngại rằng các rủi ro đó không được xem xét một cách nghiêm túc như đối với các loài động thực vật trên cạn.

Ca-voi
Cá Voi: Nguồn: © chetvergov / Fotolia

Bằng việc sử dụng các dữ liệu bảo tồn toàn diện nhất cho cả sinh vật biển và sinh vật ở cạn, nghiên cứu của Tiến sỹ Thomas Webb, từ Bộ môn Khoa học Động thực vật của Trường Đại học Sheffield đã cho thấy khoảng 20-25% số loài sinh vật đã biết sống ở biển và các đại dương đang bị đe dọa tuyệt chủng. Số lượng này cũng tương tự xảy ra với các loài động vật thực trên cạn.

Tiến sỹ Webb cho biết “Cho đến nay, đã có giả thuyết cho rằng mặc dù có nhiều áp lực lên môi trường biển, như ô nhiễm và khai thác quá mức, các loài sinh vật biển hầu như không bị đe dọa bị tuyệt chủng. Tuy nhiên theo chúng tôi thì trên phương diện tổng thể có rất ít các loài sinh vật biển được quan tâm bảo tồn. Mặc dù vậy chúng ta có thể hiểu số ít các loài sinh vật biển đó đã được đánh giá tình trạng bảo tồn rất đúng quy trình.”

Việc đánh giá này được áp dụng đúng theo tiêu chuẩn và sắp xếp các loài sinh vật biển có nguy cơ đe dọa vào danh lục đỏ quốc tế IUCN, một quy trình tiêu tốn thời gian chỉ có thể kiểm tra được 1/3 số loài sinh vật biển; và 2/3 số loài còn lại không hề được đánh giá. 

Tiến sỹ Webb bổ sung “Khi chúng ta đã có số liệu đáng tin cậy nhất và biết rõ nhất về những loài động thực vật bị đe doạ tuyệt chủng thì không thể có sự thiên vị là loài đó sống ở biển hay trên cạn. Thay vào đó, những nhóm loài gồm 1 trong số 4-5 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng cao nhất thì nên được quan tâm cho dù nhóm loài đó có phải là sinh vật biển hay không”. "Vì vậy chúng ta nên tập trung nhiều vào sinh vật biển."

Nghiên cứu này với sự tài trợ của Cộng đồng Hoàng Gia, là một phần của chương trình về nghiên cứu thách thức các quyết định truyền thống giữa sinh thái biển và sinh thái dòng chảy. Cần lưu ý là các hệ thống của biển hoàn toàn khác về cơ bản với các hệ thống trên cạn, và điều đó đòi hỏi các cách tiếp cận nghiên cứu khác biệt và thâm chí cấn có một cơ quan nghiên cứu chúng. 

Tiến sỹ Webb nói thêm “Không thể nói không có sự khác biệt quan trọng, nhưng các giả thuyết cần phải được kiểm tra để có thể đưa ra những quyết định tốt nhất cho việc quản lý môi trường biển”

Nghiên cứu của TS. Webb đã chỉ ra một con số đáng lưu ý cho việc đánh bắt, bảo tồn và phát triển bền vững các nguồn lợi hải sản cho các quốc gia và trên thế giới.

Biên tập: Đức Anh

Nguồn: http://www.sciencedaily.com/releases/2015/01/150129125544.htm

Tài liệu gốc: 1. Thomas J. Webb, Beth L. Mindel. Global Patterns of Extinction Risk in Marine and Non-marine Systems. Current Biology, 2015; DOI: 10.1016/j.cub.2014.12.023