Hiển thị các bài đăng có nhãn Dien Bien. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dien Bien. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

Loài cá cóc Tylototriton anguliceps mới cho khoa học


Ca-coc-Tylototriton-anguliceps
Dựa trên các số liệu so sánh sự sai khác về hình thái, di truyền phân tử và cấu trúc xương sọ, các nhà khoa học Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Sinh thái và tài nguyên Sinh vật (Việt Nam),
Đại học Tây Bắc, Đại học Cologne (Đức), và Đại học Kyoto (Nhật Bản) phát hiện, mô tả và công bố loài cá cóc mới trên tạo chí quốc tế chuyên nghành Current Herpetology (Nhật Bản).


Loài mới có phân bố ở Việt Nam (Điện Biên, Sơn La); Thái Lan (Chiang Rai) và có thể phân bố ở Mianma và Lào. Loài mới được có tên khoa học là Tylototriton anguliceps Le, Nguyen, Nishikawa, Nguyen, Pham, Matsui, Bernardes & Nguyen, 2015 (Cá cóc gờ sọ mảnh) do có gờ xương trên sọ hẹp hơn so với các loài cùng giống.

 Tylototriton-anguliceps-1
Cá cóc gờ sọ mảnh - Tylototriton anguliceps (con trưởng thành và nòng nọc)

Tylototriton anguliceps có hình thái tương đối giống các loài cá cóc T.yangi, T.pulchernnima, T.verucosus, T. uyenoi  T.shanjing nhưng khoảng cách di truyền giữa chúng từ 4,1- 5,1 %, ngoài ra có sự khác biệt rất rõ về cấu trúc xương sọ.

Ca-coc-Tylototriton-anguliceps-2
Xương sọ 3 loài cá cóc Tylototriton anguliceps, T. uyenoi  T.shanjing (Hình chụp X-Rey – 3D)

Đặc điểm nhận dạng như sau: Chiều dài cơ thể từ 61-63 mm ở con đực, 65-74 mm ở con cái; gờ rìa hai bên đầu rõ, dốc và mảnh; có gờ xương ở giữa đỉnh đầu; có nốt sần lớn dọc hai bên gờ lưng, da nhám với các nốt sần nhỏ; gờ sống lưng nổi rõ; chân dài và nhỏ; đuôi mỏng; phần đầu, các chi, gờ sống lưng, các mụn lớn ở dọc gờ lưng bên và phần đuôi có màu da cam; mặt bụng màu nâu hoặc đen nâu; các phần còn lại của cơ thể có màu đen thẫm.

Tylototriton-anguliceps-3

Sinh cảnh tự nhiên loài cá cóc gờ sọ mảnh - Tylototriton anguliceps

Nguồn tin: Nguyễn Thiện Tạo - Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

File pdf:  http://www.bioone.org/doi/abs/10.5358/hsj.34.38 

Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Một phân giống bọ cạp mới cho khoa học ở Điện Biên

Phân giống bọ cạp mới này có tên khoa học là Vietscorpiops Lourenco & Phạm, được phát hiện bởi TS. Phạm Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và TS. Wilson Lourenco thuộc Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris – Pháp. Mô tả của phân giống và loài được công bố trên Tạp chí Quốc tế uy tín Comptes Rendus Biologies, 338(3): 212-217 (tháng 3 năm 2015).


Bo-cap-Scorpiops-(Vietscorpiops)-dentidactylus

Loài bọ cạp Scorpiops (Vietscorpiops) dentidactylus Lourenco & Phạm, 2015. A. Mặt lưng; B. Mặt bụng 

Phân giống bọ cạp mới này thuộc giống Scorpiops, họ Euscorpiidae, loài mới Scorpiops (Vietscorpiops) dentidactylus Lourenco & Phạm, được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập được ở rừng tự nhiên xã Nậm Vì, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.
Phân giống Vietscorpiops đặc trưng bởi hai mắt bên được cấu tạo bởi thấu kính trong khi các mắt còn lại thấu kính được thay thế bằng một điểm vàng lớn, và một mấu lớn xuất hiện ở mặt trong vuốt của chân kìm.
Đặc điểm loài Scorpiops (Vietscorpiops) dentidactylus Lourenco & Phạm: mặt lưng màu nâu vàng, mặt bụng màu vàng nhạt. Chân kìm màu nâu vàng, các chân bò màu vàng nhạt. Tổng chiều dài 30,6 mm. Giáp đầu ngực: chiều dài 4,6 mm; chiều rộng phía trước 2,8 mm; chiều rộng phía sau 4,4 mm. Phần bụng: chiều dài 9,5 mm. Đuôi đoạn I: chiều dài 1,6 mm, chiều rộng 2,2 mm; đoạn II: chiều dài 2,0 mm, chiều rộng 2,0 mm; đoạn III: chiều dài 2,1 mm, chiều rộng 1,9 mm; đoạn IV: chiều dài 2,4 mm, chiều rộng 1,8 mm; đoạn V: chiều dài 4,1 mm, chiều rộng 1,8 mm, độ sâu 1,5 mm. Chiều dài tuyến độc 4,3 mm.
Trước đó, trong thời gian từ 2010 đến 2014, TS. Phạm Đình Sắc và cộng sự đã tiến hành cuộc khảo sát các loài động vật không xương sống tại động khu vực Đắk Rông (tỉnh Quảng Trị), Phong Nha – Kẻ Bàng (tỉnh Quảng Bình), Ba Bể (tỉnh Bắc Cạn), và Điện Biên (tỉnh Điện Biên). Ông đã phát hiện một giống và năm loài bọ cạp mới cho khoa học là Vietbocap canhi Lourenco & Pham, 2010; Vietbocap thienduongensis Lourenco & Pham, 2012;  Euscorpiops cavernicola Lourenco & Phạm, 2013; và Chaerilus pathom Lourenco & Phạm, 2014; Euscorpiops dakrong Lourenco & Phạm, 2014; được công bố trên các Tạp chí Quốc tế Zookeys (2010) và Comptes Rendus Biologies (2012, 2013, 2014a, 2014b).
Theo TS. Phạm Đình Sắc, các phát hiện mới không chỉ có ý nghĩa trong khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao bởi nọc bọ cạp là nguyên liệu tự nhiên tiềm năng cho ngành dược hiện tại và tương lai.
Mô tả chi tiết phân giống xem thêm tại http://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1631069115000268

Nguồn: Viện Khoa hoc và Công nghệ Việt Nam
http://vast.ac.vn/tin-tuc-su-kien/tin-khoa-hoc/trong-nuoc/2229-cong-bo-mot-phan-giong-bo-cap-moi-cho-khoa-hoc-phat-hien-duoc-o-dien-bien

Thứ Ba, 27 tháng 1, 2015

Hai loài ếch ở Tây Bắc mới cho Việt Nam

Ech-suoi-Babina lini-credit-Le-Trung-Dung
 Các nhà khoa học Việt Nam và Đức đã phát hiện và công bố hai loài ếch nhái mới cho khu hệ lưỡng cư bò sát của Việt Nam trên tạp chí Russian Journal of Herpetology số 21 (tháng 12 năm 2014) dựa trên mẫu vật thu thập ở tỉnh Điện Biên (Khu Bảo tồn thiên nhiên Mường Nhé) và Sơn La (Khu Bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp và Copia), Tây Bắc Việt Nam. Hai loài ếch nhái này có tên khoa học là Babina lini (Chou, 1999) và Hylarana menglaensis Fei, Ye et Xie, 2008. Cả hai loài được ghi nhận sống ở các vực suối chảy chậm và ở độ cao 1000-1600m so với mực nước biển.


1. Ếch suối lin Babina lini (Ảnh trên) trước đây đã được ghi nhận ở nhiều nước như Trung Quốc, Lào và Thái Lan. Mẫu vật của loài tại Việt Nam có kích thước 49,8 – 59,5 mm ở con đực và 55,1 – 60,8 mm ở con cái. Lưng màu nâu sẫm với sọc sáng hẹp ở giữa và hai sọc sáng rộng hơn ở rìa ngoài. Hai bên sườn có nếp gấp lớn, mịn, màu vàng nhạt. Tiếng kêu của loài chỉ được ghi nhận vào buổi tối đêm.

2. Ếch bám đá mường la Hylarana menglaensis là loài đặc hữu của Trung Quốc, trước đây chỉ được ghi nhận tại tỉnh Yunan, phía Đông Nam Trung Quốc. Loài trước đây có thể được ghi nhận nhầm lẫn với loài Ếch suối Hylarana nigrovittata có khu phân bố rộng ở Việt Nam. Cá thể cái của loài có kích thước 44,1 – 49,3 mm lớn hơn cá thể đực 38,9 – 44,9 mm, mặt trên của đầu và thân màu nâu xám với nhiều đốm đen nhỏ, hai bên sườn có các đốm đen lớn hơn. Tiếng kêu của loài được ghi nhận vào cả ngày và đêm.

Ech-bam-da-Hylarana-menglaensis
Ếch bám đá mường la Hylarana menglaensis – Ảnh: Lê Trung Dũng

Các công trình công bố gần đây của nhóm các nhà khoa học cho thấy mối quan hệ gần gũi về khu hệ lưỡng cư giữa các khu vực rừng núi của Tây Bắc Việt Nam, Đông Bắc Lào và Đông Nam Trung Quốc. Cần phải có những nghiên cứu tiếp theo để xác minh thực tế của mối liên hệ này.

Lê Trung Dũng – Đại học sư phạm Hà Nội/Theo http://vncreatures.net/

Russian Journal of Herpetology Vol 21, No 4 (2014)

Babina lini (Chou, 1999) and Hylarana menglaensis Fei, Ye et Xie, 2008, Two Additional Anuran Species for the Herpetofauna of Vietnam

Dzung Trung Le, Anh Van Pham, Son Hung Lan Nguyen, Thomas Ziegler, Truong Quang Nguyen

Abstract
Two ranid species, Babina lini and Hylarana menglaensis, are recorded for the first time from Vietnam on the basis of a new amphibian collection from Dien Bien and Son La provinces. In addition, acoustic analyses of these species are also provided based on the advertisement calls recorded in Muong Nhe Nature Reserve of Dien Bien Province.

Keywords
Babina lini, Hylarana menglaensis, new records, advertisement calls, Dien Bien Province, Son La Province

Final version: http://rjh.folium.ru/index.php/rjh/article/view/911

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Hoa đá Việt - Loài thực vật mới cho thế giới

hoa-da-Sinocrassula-vietnamensis_credit-LeonidA
Hoa đá Sinocrassula là một chi thực vật nhỏ gồm 7 loài  đã biết thuộc họ Lá bỏng Crassulaceae, phân bố chủ yếu ở vùng Trung-Hymalaya bao gồm Bhutan, Nepal, đông bắc Ấn, Pakistan và Trung Quốc. Trong đó thì đã có 6 loài bản địa của Vân Nam và Tứ Xuyên. 


Gần đây nhất, một loài Hoa đá mới cho khoa học đã được phát hiện từ Việt Nam bởi các nhà khoa học Việt Nam và Nga. Đây là kết quả của đợt khảo sát thực vật ở Mường Chà và Tủa Chùa tỉnh Điện Biên năm 2010-2011. 

Loài thực vật mới có tên Hoa đá việt nam - Sinocrassula vietnamensis Aver. et V. Byalt

Đây là loài cây bụi mọc trên đất, hoặc đá, thân ngắn, hầu như không có nhánh. Lá mọc vòng kiểu xếp lợp, dầy (kiểu mọng nước), dài chừng 4cm. Chùm hoa xuất phát từ đỉnh thân, mang 80–120 hoa. Hoa nhỏ dưới 1cm, màu trắng lẫn xanh vàng nhạt. Ra hoa vào tháng 9-10, quả tháng 11-12. Chúng có thể trở thành loài cây cảnh khá đẹp!

hoa-da-Sinocrassula-vietnamensis_credit-Efimov
Hoa đá việt nam - Sinocrassula vietnamensis. Ảnh P. Efimov

Chúng được phát hiện trên các tảng đá thuộc khu vực rừng cây lá rộng thường xanh nguyên sinh và thứ sinh trên đá vôi. Loài này rất có thể là đặc hữu của Việt Nam, vì chưa phát hiện được ở nơi nào khác ngoài khu vực kể trên. 

Về mặt hình thái thì loài mới khác hoàn toàn với các loài đã biết. Công bố này vừa được đăng tải hồi cuối năm 2014 trên tạp chí Taiwania, 59(4): 348‒ 352, 2014.

Phạm Văn Thế

Sinocrassula vietnamenis (Crassulaceae), New Species and New Generic Record in the Flora of Vietnam

Leonid V. Averyanov (1, av_leonid@mail.ru; av_leonid@yahoo.com), Vyacheslav V. Byalt (1), The Van Pham (2, phamvthe@gmail.com), Nguyen Tien Vinh (3), Phan Ke Loc (4) and Nguyen Quang Hieu (3)
1- Komarov Botanical Institute, Russian Academy of Science, St. Petersburg. Prof. Popov Str. 2, Russia, 197376. 2- Institute of Ecology and Biological Resources, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam. 3- Center for Plant Conservation, No 25/32, lane 191, Lac Long Quan, Nghia Do, Cau Giay District, Ha Noi, Vietnam. 4- Hanoi University of Science, 334 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam.

ABSTRACT: New species, – Sinocrassula vietnamensis (Crassulaceae) discovered in the Northern Vietnam is described and illustrated. Standard citations of type specimens, description, name etymology, data on ecology, phenology and distribution, as well as short taxonomic remarks for the new species are provided. The species differs from its closest ally S. diversifolia in large well developed rosettes, hairy leaves, white flowers and long styles. The discovery of this species in Vietnam remarkably extends the geographical range of the genus southwards.

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Ghi nhận thêm hai loài lưỡng cư cho Việt Nam

Leptolalax-eos-credit-PhamVanAnh
Hai loài lưỡng cư là Cóc núi eos Leptolalax eos và Chàng đá Hylarana cubitalis ghi nhận mới cho Việt Nam được các nhà khoa học của Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tây Bắc và Vườn thú Cologne – Đức công bố trên tạp chí Russian Journal of Herpetology (Tập 21, số 3, 2014).

Loài Leptolalax eos có chiều dài thân 32,7–34,8 mm ở con đực và 40,1–45,5 mm; mặt trên đầu và lưng nổi các nốt sần nhỏ; màng nhĩ không rõ ràng; phần trên mống mắt màu cam, phần dưới màu vàng; lưng màu nâu – xám với hình tam giác màu nâu nhạt trên đầu; bụng màu trắng hoặc màu kem. Loài này được Ohler mô tả năm 2011 với mẫu chuẩn thu ở Bắc Lào.

Leptolalax-eos
Cóc mắt eos Leptolalax eos – Ảnh: Phạm Văn Anh

Loài Hylarana cubitalis có chiều dài thân 51,8–58,8 ở con đực và 60,4 mm ở con cái; chai sinh dục ở con đực phát triển ở gốc ngón tay và bên trong cánh tay; da ở lưng và mặt trên đầu nhẵn, nếp da lưng sườn rõ; phần trên màu nâu vàng; môi trên trắng; màng nhĩ màu nâu; sườn màu xám với các đốm đen; bụng trắng. Loài này trước kia phân bố ở Trung Quốc, Lào, Myanmar và Cambodia.

Hylarana-cubitalis
Chàng đá Hylarana cubitalis – Ảnh: Phạm Văn Anh 

Trong quá trình khảo sát thực địa các nhà nghiên cứu đã phát hiện hai loài này có ở hai tỉnh Sơn La và Điện Biên thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, một khu vực cách Vườn Quốc gia Hoàng Liên (một trung tâm của đa dạng sinh học Việt Nam) không xa.
Phạm Văn Anh – Trường Đại học Tây Bắc; http://www.vncreatures.net/

Về bài công bố ghi nhận mới cho Việt Nam: Russian Journal of Herpetology, Vol 21, No 3 (2014)

First Records of Leptolalax eos Ohler, Wollenberg, Grosjean, Hendrix, Vences, Ziegler et Dubois, 2011 andHylarana cubitalis (Smith, 1917) (Anura: Megophryidae, Ranidae) from Vietnam

Anh Van Pham, Dzung Trung Le, Son Lan Hung Nguyen, Thomas Ziegler, Truong Quang Nguyen

Abstract: Two species of anurans are recorded for the first time from Vietnam: the megophryid Leptolalax eos from Dien Bien and Son La provinces and the ranid Hylarana cubitalis from Son La Province. These discoveries bring the total species number of amphibians to222 in Vietnam.

For more detail, please go http://rjh.folium.ru/index.php/rjh/article/view/862