Chủ Nhật, 31 tháng 5, 2015

Cây xanh là các máy điều hoà không khí tự nhiên: Infographic

cay-xanh-dieu-hoa-khong-khi
Những ngày gần đây, Hà Nội trải qua đợt nắng nóng kỷ lục. Trong những lúc như vậy, được ngồi hóng mát dưới bóng cây xanh chắc hẳn là mơ ước của rất nhiều người. 
Thật vậy, cây xanh có rất nhiều tác dụng, và một trong những tác dụng đó là điều hoà làm mát không khí một cách tự nhiên.

Trong quá trình sinh trưởng và phát triển của thực vật, để đảm bảo cho lá cây quang hợp, tổng hợp chất dinh dưỡng từ không khí và ánh sáng một cách bình thường thì tất yếu lá phải thoát hơi nước. Quá trình sinh học này tạo ra thế nước giúp cho cây lấy được nước từ đất cung cấp cho sự tồn tại của lá (lực hút và lực đẩy) và hoạt động qua khí khổng. Do có sự thoát hơi nước này mà nó đã cải tạo vi khí hậu, làm giảm nhiệt độ môi trường xung quanh lá. 



Theo báo cáo của các nhà khoa học Briscoe, Kearney và cộng sự công bố trên Biology Letters (6/2014) thì lá cây Keo đen Acacia mearnsii có thể làm giảm nhiệt độ xung quanh nó 5 độ C, càng nhiều lá thì nhiệt sẽ giảm nhiều và khu vực rộng hơn. Một bãi đậu xe dưới tán nhiều cây xanh có thể làm giảm nhiệt độ không khí lên đến 25 độ C so với khu vực gần đường nhựa.


Việc chặt cây có thể tạo ra thảm hoạ môi trường kép:

Báo cáo của TS. Dominick Spracklen trong tạp chí Philosophical Transactions A của Hiệp hội Hoàng gia Anh, khẳng định rằng việc chặt cây sẽ làm cho tình hình biến đổi khí hậu càng trở nên tồi tệ hơn, nhiệt độ sẽ tăng nhanh hơn so với trước kia. Do đó, ông khuyến nghị việc trồng thêm cây chắc chắn góp phần cải tạo làm cho từng phạm vi tiểu khí hậu tốt đẹp hơn.

Thông tin được cung cấp trong Inphographic dưới đây thể hiện vai trò Điều hoà không khí quan trọng của cây xanh (click vào hình để xem cỡ lớn hoặc click chuột phải và mở hình ảnh trong tab mới)

cay-xanh-dieu-hoa-khong-khi-infographic


Biên tập: Phạm Văn Thế

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Sáu loài Thu hải đường (Begoniaceae) mới cho khoa học từ vùng núi đá vôi Bắc Việt Nam

Begonia-caobangensis-Credit-TrinhNgocBon
Các nhà thực vật Việt Nam và Đài Loan vừa hợp tác công bố 6 loài Thu hải đường  mới cho khoa học được phát hiện từ vùng núi đá vôi phía Bắc Việt Nam ở các tỉnh Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn và Thanh Hoá. Chúng bao gồm Begonia caobangensis [sect. Platycentrum], B. circularis, B. melanobullata, B. langsonensis, B. locii and B. montaniformis [sect. Coelocentrum]

Chi Begonia (Thu hải đường) trên thế giới có khoảng 1400 loài. Ở việt nam có khoảng 70, toàn bộ đều là cây thân thảo, phân bổ chủ yếu ở rừng thường xanh nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Mới đây các nhà khoa học Trung Hoa và Việt Nam đã công bố thêm 6 loài thu hải đường mới cho Miền Bắc nước ta. 

Begonia-new-from-Viet-nam
Bản ảnh màu và đen trắng: 1-2: Begonia caobangensis; 3-4: Begonia circularis; 5-6: Begonia langsonensis; 7-8: Begonia locii; 9-10: Begonia melanobullata; 11-12: Begonia montaniformis. Thiết kế bởi C. W. Lin.

1. Loài Begonia caobangensis C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo, hoa đơn tính cùng gốc, lâu năm. Thân rễ bò, dày 1-2 cm, lóng dài 0,2-0,5 cm,. Lá hình elip hay hình thoi, lá non có màu đỏ cả hai mặt, lá già có màu đỏ mặt dưới và xanh ở mặt trên, nhẵn, dài 8-21cm, rộng 4-8cm, gân phụ lá 6-8 đỉnh có mũi nhọn. Lá kèm sớm rụng, màu đỏ, hình trứng, dài 2-2,5 cm, rộng 0,7-1 cm Cụm hoa ở đỉnh hoặc ở nách lá cuối, phân nhánh 3-4 lần; cuống 8-12 cm dài, có lông hoặc không. 

Phân bố ở Hồ Thang Hen – Trà Lĩnh – Cao Bằng, ngoài ra còn bắt gặp ở Na Hang – Tuyên Quang. 

2. Loài Begonia circularis C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc. Thân rễ mập, bò, dày 1,2-2 cm. Lá kèm sớm rụng, màu đỏ, hình trứng đến hình tam giác. Cuống lá màu đỏ để màu đỏ-xanh, dài 5-9,5 (-14) cm, có lông màu hồng. Lá có hình dạng thay đổi. Phiến lá hình lưỡi không đối xứng, hình trứng rộng đến elip rộng, dài 13,5-21 cm, rộng 9,5-17 cm, đáy hình tim, có đuôi ở đỉnh, mép lượn sóng hay có răng,bề mặt hơi có lằn, phiến là màu xanh xậm, có vòng xanh nõn chuối vòng quanh, có 6-8 gân từ đáy lá, 2-3 cặp gân ở trên. Cụm hoa ở nách lá, phân nhánh 3-5 lần, cuống dài 9 – 16cm; lá bắc màu đỏ, hình thuôn đến hình trứng, dài 8mm, rộng 2,5-4mm; Hoa đực có cuống dài 1-2cm, cánh hoa 4, dài 14-19mm, rộng 13-16mm, màu đỏ, nhị nhiều, bao phấn màu vàng; hoa cái có cuống dài 7-10mm, cánh hoa 3, màu hồng nhạt, 2 cánh ngoài hình trứng rộng dài 7-17mm, rộng 8-13mm, bầu nàu đỏ, có 3 vòi nhụy màu vàng cam, dài 6-10mm; quả có 3 cạnh hình elips, dài 10-17mm, màu đỏ tươi. 

Phân bố ở Thạch An – Cao Bằng. 

3. Loài Begonia melanobullata C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc, cây lâu năm. Thân rễ leo cao đến 50cm, đường kính 1-2,5cm, lóng dài 1-2cm. Lá kèm màu vàng đến xanh nhạt, hình trứng – hình tam giác, dài 1,4-2,5cm, rộng 1-1,8cm, có lông ở gân. Cuống lá màu đỏ đến xanh, dài 8-21cm, có lông trắng khi non. Lá hình lưỡi lệch, hình trứng rộng đến hình elip, dài 13-21cm, rộng 9-15cm, đáy hình tim, có đuôi ở đỉnh, có lông khi non, gân từ đáy 7-9, gân thứ cấp 2-4 đôi. Cụm hoa mọc từ thân, phân nhánh 4-6 lần; cuống dài 15-38cm, có lông. Lá bắc màu xanh nhạt, hình trứng, dài 1cm, màu đỏ. Hoa đực có cuống dài 1,5 cm, cánh hoa 4; 2 cánh ngoài hình trứng dài 6-9mm rộng 7-9mm, màu đỏ, lông thưa; 2 cánh trong hình elip, dài 5-7mm, rộng 3-4mm, bao phấn màu xanh hơi vàng. Hoa cái có cuống dài 1,5cm, 3 cánh hoa; hai cánh ngoài màu hồng nhạt, dài 7-8mm, rộng 7-8mm; cánh trong màu hồng nhạt, hình elip, dài 4-6mm, rộng 2-3mm. Có bai vòi nhụy, dài 8-10mm, màu đỏ. Quả có 2 cánh, dài 12-19mm, màu xanh lục hoặc đỏ khi tươi, cánh rộng 2-4mm. 

Phân bố ở Thạch An – Cao Bằng 

4. Loài Begonia langsonensis C.-I Peng & C. W. Lin 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc. Thân rễ bò, đến 10cm. Lá kèm sớm rụng, màu đỏ xanh nhạt, hình trứng tam giác, dài 7-10mm, rộng 1-1,1mm, có mũi ở đỉnh dài 3mm. Cuống lá màu nâu nhạt, dài 13-15cm. Lá hình lưỡi không đối xứng hay hình trứng xiên, dài 11-23cm, rộng 6-14cm, đáy hình tim, đỉnh có đuôi, có răng cưa nhỏ ở mép lá, màu xanh ngọc, gân từ đáy 6-8, gân bên 2-4 đôi. Cụm hoa ở nách, phân nhánh 4-6 lần, cuống dài 12-26cm, lá bắc màu xanh nhạt đến màu hồng nhạt, hình trứng. Hoa đực có cuống dài 2,2cm, 4 cánh hoa, 2 cánh hoa ngoài có kích thước 10-15x11-14mm, màu hồng nhẵn; 2 cánh hoa trong màu hồng nhạt, hình mác, dài 6-9mm, rộng 2,5-3,5cm; nhị 25-40, màu vàng; Hoa cái có cuống dài 1,8-2,6cm, cánh hoa 3, 2 cánh ngoài màu hồng hoặc hồng nhạt, dài 11-15mm, rộng 13-18mm, cánh tróng màu hồng nhạt. dài 7-11mm, rộng 3-4mm. buồng trứng màu xánh lá cây đến màu hồng nhạt, dài 12-15mm, 3 nuốm nhụy màu vàng. Quả có 3 cánh, dài 13-16mm, màu xanh lục. 

Phân bố ở Tân Lai – Hữu Liên – Hữu Lũng – Lạng Sơn. 

5. Loài Begonia locii C.-I Peng, C. W. Lin & H. Q. Nguyen 

Cây thảo lâu năm, hoa đơn tính cùng gốc. Thân rễ bò, đến 30cm. Lóng dài 5-13mm, có lông. La kèm sớm rụng, màu đỏ, hình trứng đến hình tam giác, dài 6-14mm, rộng 5-9mm, có lộc dọc theo gân, đỉnh có mũi dài 2,5mm. Cuống lá màu xanh nâu, có lông, dài 20 (11)-25 (33) cm. Lá hình trứng xiên, không đối xứng, dài 11-22cm, rộng 6,5-12,5cm, thùy đáy hình trái tim, đỉnh nhon, có lông màu đỏ tười mặt dưới, mặt trên canh lá cây, có các đốm trắng bạc dọc theo gân cấp hai. Cụm hoa từ nách lá, chia nhánh 3-4 lần, cuống dài 13-35cm, có lông dày, lá bắc màu xanh đến vàng xanh. Hoa đực cuống dài 1cm, 4 cánh hoa, 2 canhsn goài hình trứng rộng, dài 9-12mm, rộng 8-11mm, màu hồng nhạt hay trắng, nhẵn, 2 cánh trong hình elip, màu trắng, dài 7-11mm, rộng 3-4,5mm. Hoa cái cuống dài 1 cm, 3 cánh hoa, 2 cánh ngoài màu hồng nhạt đến trắng, hình trứng rộng, dài 8-11mm rộng 8-12mm, màu trắng. Quả có 3 nuốm nhụy còn tồn tại, màu xanh, có lông. 

Phân bố ở Tân Lai – Hữu Liên – Hữu Lũng – Lạng Sơn. 

6. Loài Begonia montaniformis C.-I Peng, C. W. Lin & H. Q. Nguyen 

Cây thảo, cây có hoa đực và hoa cái cùng ở chung một thân, lâu năm. Thân rễ mập, bò, dài 30 cm, lóng dài 0,5-1,7 cm, Có lông. Lá kèm màu xanh nhạt đến màu hồng nhạt, hình trứng-hình tam giác, dài 0,7-1,4 cm, rộng 0,6-1,3 cm, có lông dọc theo gân chính, đỉnh có mũi dài 0,2 cm. Cuống lá màu đỏ đến màu xanh tía, dài 7-20 cm, có lông trắng dày. Lá hình trứng rộng dài 11,5-19 cm, rộng 8-13,5 cm, đáy hình tim, màu tím ô liu hay màu đen xanh nâu, gân từ đáy 7-9 cái, màu xanh nhạt, trên bề mặt có những hình nón nhô cao khỏi mặt lá vào 4-8 (10)mm, Màu đỏ vùng rỗng ở mặt dưới, có lông màu nâu nhạt mặt dưới, gân thứ cấp 2-4 cặp. Cụm hoa ở nách lá, phân nhánh 3-8 lần, cuống dài 11-28cm. có lông; lá bắc sớm rụng, hình thuyền, dài 1 cm, rộng 0,5cm, có lông thưa. Hoa đực dài 1-2cm, 4 cánh hoa, 2 cánh ngoài hình trứng đến, dài 7-12mm, rộng 6-10cm, màu vàng xanh, 2 cánh trong màu xanh, hình elip, dài 6-8mm, rộng 3-5mm. Hoa cái có cuống dài 1,4-2cm, cánh hoa 3, 2 cánh ngoài hình trứng, màu vàng đỏ xanh, đến vàng xanh, dài 8-12mm, rộng 9-13mm, cánh bên trong màu vàng xanh, hình elip, dài 8mm, rộng 2,5-4,5mm. 

Phân bố ở Eo Điếu – Cổ Lũng – Bá Thước – Thanh Hóa

Công bố này được đăng tải trên tạp chí Botanical Studies 2015, 56:9, ngày 2 tháng 5, 2015.

Biên tập: Trịnh Ngọc Bon

Botanical Studies 2015, 56:9 doi:10.1186/s40529-015-0089-3
Published: 2 May 2015 

Six new species of Begonia (Begoniaceae) from limestone areas in Northern Vietnam

Ching-I Peng, Che-Wei Lin, Hsun-An Yang, Yoshiko Kono and Hieu Quang Nguyen

Abstract

Background: Species of Begonia are richly represented in limestone karst areas across the Sino-Vietnamese border. More than one hundred species were known, many of which were documented recently. 
Results: In continuation of our systematic studies of Asian Begonia, we report six species of Begonia that are unknown to science, namely B. caobangensis [sect. Platycentrum], B. circularis, B. melanobullata, B. langsonensis, B.locii and B. montaniformis [sect. Coelocentrum] from Northern Vietnam. Diagnostic features that separate them from morphologically allied species are provided. Somatic chromosome numbers were determined, which supports their placement in the respective sections. Foliar SEM microphotographs were taken and described. 
Conclusion. A careful study of the literature, herbarium specimens and living plants, both in the wild and in cultivation in the experimental greenhouse, supports the recognition of the six new species, which are described and illustrated.

The complete article is available as a provisional PDF. The fully formatted PDF and HTML versions are in production. 

http://www.as-botanicalstudies.com/content/56/1/9/abstract

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2015

Hai loài tỏi rừng mới cho khoa học từ VQG Tam Đảo

Hai loài tỏi rừng mới cho khoa học được phát hiện tại Vườn Quốc Gia Tam Đảo, Vĩnh Phúc, Việt Nam đó là: Aspidistra clausa và Aspidistra triradiata (họ Thiên môn đông - Asparagaceae)

Toi-rung-Aspidistra-clausa

Tỏi rừng Aspidistra clausa có loài gần gũi là A. crassifila nhưng khác ở các đặc điểm: có lá hẹp hơn (2,8-4,5cm x 6-12cm), bao hoa hình ống so với hình chuông, phần phụ dài hơn, chỉ nhị và phần nối tiếp màu trắng với các đốm tím so với tím hoàn toàn, đầu nhuỵ hình nón so với hình nấm.

Mặt khác loài tỏi rừng mới Aspidistra clausa này cũng có hoa giống với loài A. patentiloba, nhưng khác ở đặc điểm hình dạng đầu nhuỵ và ở nhiều đặc điểm hình thái khác nên chúng không được cho là loài gần gũi.

Từ nguyên: tính ngữ "clausa" có nghĩa là "closed", nó giải thích rằng cấu trúc của hoa có các nhị bị ẩn lấp bởi cánh hoa. Trong loài gần gũi nó là A. crassifila thì nhị hoa hiện rõ.

Toi-rung-Aspisdistra-triradiata

Tỏi rừng Aspidistra triradiata có loài gần gũi là A. hainanensis nhưng chúng có nhiều đặc điểm khác biệt, ví dụ có bao hoa dạng bình, 4 sống thuyền có mụn, bề mặt dưới của cánh hoa và ống có mụn, và màu kì lạ của các đường toả tròn của bao hoa và nhuỵ. 

Từ nguyên: tên loài được đặt nhằm chỉ màu hoa văn của nhuỵ, gồm 3 đường toả tròn màu tím sáng.

Cả hai loài Tỏi rừng mới này mới chỉ thấy phân bố ở VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Công bố khoa học của 2 loài này được đăng tải trên tạp chí Phytotaxa 207 (3): 265-272.

Biên tập: Phạm Văn Thế

Phytotaxa 207 (3): 265-272
DOI: http://dx.doi.org/10.11646/phytotaxa.207.3.4

Two new species of Aspidistra (Asparagaceae, Nolinoideae) from northern Vietnam: A. clausa and A. triradiata

Nikolay Aleksandrovich Vislobokov

Abstract
Aspidistra clausa and Aspidistra triradiata are described and illustrated as new species from northern Vietnam (Vinh Phuc province, Tam Dao National Park). Aspidistra clausa is similar to A. crassifila, but has narrower leaves (lamina 2.8–4.5 cm vs. 6–12 cm), perigone tube wide tubular vs. campanulate, appendages longer, stigma conical vs. mushroom-shaped. Aspidistra triradiata is similar to A. hainanensis, but flowers larger (1.8–2.4 cm long, Ø 1.8–2.8 cm vs. 1–1.2 cm long, Ø 1.3–1.5 cm), perigone urceolate, lobes with 4 verrucose keels, stigma with three purple radial lines.

Keywords

DNA barcoding, Tam Dao, taxonomy, Monocots, Vietnam

Thứ Năm, 21 tháng 5, 2015

Hội nghị Thực vật chí Việt Nam, Lào, Capuchia lần 3: Botanical Research in Tropical Asia - 2015

Botanical-Research-in-Tropical-Asia-1
Botanical Research in Tropical Asia 7-11/12/2015

This congress follows the two last symposia on the “Flore du Cambodge, du Laos et du Vietnam”, held in Phnom Penh (2008) and in Hanoi (2010), and widens its horizons to include all of Tropical Asia.


The first Symposium was co-organized from 8th to 14th December 2008, by the Royal University of Phnom Penh (RUPP) and the Muséum national d'histoire naturelle, Paris (MNHN). There were 350 participants from 20 countries with 57 oral presentations and 60 posters on the topics of taxonomy, ethnobotany, ecology, medicinal plants and phytochemistry. Workshops of botanical illustration (line drawings) were held by Alain Jouy (MNHN); forty participants took part, happy and honoured to get a final degree diploma.

Flore-du-Cambodge-du-Laos-et-du-Vietnam

This first symposium ended with a message of perseverance, recorded by Professor Jules E. Vidal, to the entire community of researchers and scientists in the region.

The second Symposium was held in Hanoi from 6th to 11th December 2010, co-organized by the Muséum national d’histoire naturelle, the Institute of Ecology and Biological Resources (IEBR), and the Vietnam Academy of Science and Technology (VAST). This Symposium was attended by 200 participants from more than 10 countries in the world especially from Asia, with 66 oral presentations and 56 posters on the same topics. The workshops of botanical illustration were held by Agathe Haevermans (MNHN), who added watercolour to the line drawings.

Botanical-Research-in-Tropical-Asia-Laos

The final recommendation committed participants to sharing knowledge for the benefit of the biodiversity of this region.

Since these Symposia, collaboration between a great number of researchers has led to numerous publications, so the third Symposium is fervently awaited for sharing new knowledge, pointing the tools for better conservation and sustainable plant biodiversity in the region, and promoting the rational use of plant resources.

Botanical-Research-in-Tropical-Asia-Laos-2


ORGANISATION

- Muséum national d’histoire naturelle (MNHN), Institut de Systématique, Evolution, Biodiversité (UMR7205 ISYEB), Paris
- National University of Laos (NUOL), Faculty of Science, Vientiane
- Institut de Recherche pour le Développement (IRD), Pharmacochimie et pharmacologie pour le développement (UMR 152 PHARMA-DEV), Toulouse

With financial support from: 
+ Muséum national d’histoire naturelle (MNHN)
+ National University of Laos (NUOL)

PLACE OF THE CONFERENCE

Lao Plaza Hotel
63 Samsenethai Road, PO Box 6708
Vientiane, Lao PDR

REGISTRATIONS:

- This congress will take place in Vientiane, Laos, from 6th to 11th December 2015.
- First call:   https://drive.google.com/file/d/0BxNf6nVbpBsiek82a0xycTFRRTg/view?usp=sharing
- Website: http://botatropasia.sciencesconf.org/
Registrations are accepted until July, 30 2015
- For the first circular: click on "Circular in English".
- To register: click on "Registration".

- Some pictures are on the site: click on "Gallery"

Thứ Tư, 20 tháng 5, 2015

Loài Giác đế mới cho khoa học từ Hòn Bà: Goniothalamus flagellistylus

PHÁT HIỆN MỘT LOÀI THỰC VẬT MỚI CHO KHOA HỌC TỪ VIỆT NAM: GIÁC ĐẾ HÒN BÀ
Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-1

Trong khuôn khổ chương trình hợp tác giữa Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Trung tâm Bảo tồn sinh thái châu Á thuộc Đại học Kyushu, Nhật Bản về nghiên cứu đa dạng thực vật ở Việt Nam. Các nhà thực vật vừa phát hiện một loài thực vật mới thuộc họ Annonaceae (họ Na) tại KBTTN Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa và được đặt tên là Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang (Giác đế hòn bà).


Loài Giác đế hòn bà Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang có đặc điểm là Cây gỗ nhỏ, cao khoảng 11 m; cành non có lông. Lá hình bầu dục thuôn, rất to, kích thước 31–45 x 8,2–11,5 cm, gốc lá nhọn hay tù, bìa nguyên, đầu có mũi nhọn, không lông ở cả hai mặt; gân bên 16–20 cặp. 
Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-2
Chùm quả mọc từ thân loài Giác đế hòn bà Goniothalamus flagellistylus . Ảnh Phùng Mỹ Trung

Hoa đơn độc, mọc ở thân chính hay cành già; cuống hoa dài 19–25 mm. Đài có màu hơi xanh xanh, không lông ở mặt ngoài và có lông nâu rải rác mặt trong, tồn tại bền bỉ. Tràng hình xoan thuôn hay xoan hẹp ở phía ngoài và hình thoi ở phía trong, có lông. Nhị nhiều, dạng thuôn dẹt, kích thước 3,8–4,8 x 0,6 mm. Bầu nhụy 1,4–1,7 x 0.3 mm, phủ bởi một lớp lông hơi vàng. 

Quả nhiều, dạng bầu dục, có màu nâu đỏ, kích thước 1,6–1,7 x 1 cm. Hạt 1, có màu nâu vàng, kích thước 1,5 x 0,8–1,0 cm. 

Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-3
Loài mới Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang – Giác đế hòn bà (ảnh chụp bởi TS. Shuichiro Tagane)

Loài Giác đế hòn bà được phát hiện ở độ cao từ 100–400 m trong kiểu rừng kín thường xanh cây lá rộng, hơi dốc ven suối, mọc cùng với các loài ưu thế khác như Ixonanthes reticulata Jack, Gironniera subaequalis Planch., Archidendron chevalieri (Kosterm.) I.C.Nielsen, Barringtonia augusta Kurz, Barringtonia macrostachya (Jack) Kurz, Camellia krempfii (Gagn.) Sealy, Streblus indicus (Bureau) Corner, Xerospermum noronhianum Blume và Pandanus fibrosus Gagnep. 
Giac-de-hon-ba-Goniothalamus-flagellistylus-4
Chùm quả, cành lá mang hoa loài Giác đế hòn bà Goniothalamus flagellistylus . Ảnh Phùng Mỹ Trung

Loài mới này được đăng trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, số 50, trang 1–8, ngày 23/05/2015. 


Biên tập: Đặng Văn Sơn – Viện Sinh học nhiệt đới
Contact: DANG VAN SON
Curator of the Herbarium (VNM)
Institute of Tropical Biology (ITB)
Vietnam Academy of Sciences and Technology (VAST)
Add: 85.Tran Quoc Toan Str, Dist 3
Ho Chi Minh City, Viet Nam
Tel: + 084 08 39327085
Mob: + 084 0907981259
Fax: + 084 08 39327085
Mail: dvsonitb@yahoo.com.vn or dvsonitb@gmail.com



PhytoKeys 50: 1-8 (13 May 2015)
doi: 10.3897/phytokeys.50.4427

Goniothalamus flagellistylus Tagane & V. S. Dang (Annonaceae), a new species from Mt. Hon Ba, Vietnam

Shuichiro Tagane, Son Van Dang, Tetsukazu Yahara, Hironori Toyama, Hop Tran

Abstract
A new species, Goniothalamus flagellistylus Tagane & V. S. Dang, sp. nov. from Hon Ba Nature Reserve in Khanh Hoa Province, South Vietnam is described and illustrated. This species is most similar to Goniothalamus tortilipetalus M.R.Hend., but distinct in having 308–336 stamens (vs. ca. 170–260) and ca.120 carpels (vs. ca. 50–100) per flower, and Stigma and pseudostyles ca.8.5 mm (vs. 4–4.5 mm) long.

Keywords: Annonaceae, Goniothalamus, Hon Ba Nature Reserve, Vietnam

Link: http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=4427

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Loài Ong cự mới cho khoa học từ Việt Nam: Phalgea maculata

Coleocentrus_excitator2_lindsey
Minh hoạ Ong cự trong phân họ Acaenitinae. Ảnh Wikipedia
Các nhà khoa học Việt Nam và Hà Lan vừa công bố 1 loài côn trùng mới cho thế giới được phát hiện từ Việt Nam. Thêm vào đó, 1 loài côn trùng khác cùng họ cũng lần đầu tiên được ghi nhận ở nước ta, trước đây chỉ thấy phân bố ở Trung Quốc.

Acaenitinae là một phân họ có trên 250 loài thuộc họ Ong cự Ichneumonidae. Mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu về sinh học của Acaenitinae nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng phân họ này bao gồm các loài ngoại ký sinh của các loài sâu sống trong gỗ. 

Ong-cu-Ichneumonidae_Wiki
Minh hoạ Ong cự họ Ichneumonidae. Ong cự thường có thân nhỏ, mảnh và dài, râu dài. Ảnh Wikipedia

Phalgea là một giống ong nhỏ chỉ gồm hai loài được ghi nhận trước đây ở Ma-lai-xia và Trung Quốc. 

Dựa trên các mẫu vật thu được gần đây, cả hai loài thuộc giống ong này đã được phát hiện ở Việt Nam, chúng bao gồm Phalgea maculata và P. melaptera

Trong đó loài Ong cự Phalgea maculata Pham & Achterberg là loài mới cho khoa học. 

Về mặt hình thái, P. maculata tương đối giống với loài P. melaptera Wang ở Trung Quốc. 

Tuy nhiên loài mới ở Việt Nam có thể phân biệt với loài ở Trung Quốc bởi sự xuất hiện của một đốm vàng trên ô marginal của cánh trước, đồng thời hai đốm trong trên gân 2m-cu của cánh trước hoàn toàn phân tách với nhau. 

Đây là những đại diện đầu tiên của phân họ Acaenitinae được ghi nhận ở Việt Nam. Công bố này được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3947 (1): 146–150.

Biên tập: TS. Phạm Thị Nhị (ptnhi2@yahoo.com)- Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, VAST


A review of the genus Phalgea Cameron (Hymenoptera: Ichneumonidae: Acaenitinae) with description of a new species from Vietnam

NHI THI PHAM, CEES VAN ACHTERBERG
Abstract: 
In this paper, the genus Phalgea is reviewed. A new species, Phalgea maculata sp. nov., is described and illustrated from Vietnam. In addition, P.melaptera Wang 1989 is recorded as new for the country. It is the first time the subfamily Acaenitinae is reported from Vietnam.

Keywords: 
Phalgea, new species, new record, parasitoid, Vietnam

Links: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3947.1.11
http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03947p150f.pdf

Thứ Sáu, 15 tháng 5, 2015

Chi và loài Lan mới cho Việt Nam: Cephalanthera exigua [2014]

Cephalanthera-exigua_credit_ Nuraliev

Vào năm 2014, các nhà thực vật Nga (Maxim S. Nuraliev, Peter G. Efimov, Leonid V. Averyanov, Andrey N. Kuznetsov & Svetlana P. Kuznetsova) đã tìm ra một chi và loài lan mới cho Việt Nam: Cephalanthera exigua.

Chi và loài mới này được phát hiện tại ven suối trong khu rừng ở Bảo Lâm, Lâm Đồng. Trước đây chúng được tìm thấy phân bố tại Lào và Thái Lan. Bài báo được công bố trên tạp chí Wulfenia 21 (2014): 95–102.

Chi lan Cephalanthera bao gồm 15 loài lan hoại sinh trên thế giới. Và đây là lần đầu tiên chúng được ghi nhận cho hệ Lan cũng như hệ Thực vật Việt Nam.

Mô tả: Cephalanthera exigua có thân đứng, mảnh, cao 5 –10 cm, phần thân dưới phủ 3 –5 vảy mo dài 0,5 –1 cm, phân thân trên mang 1–3 lá bắc hoa nhỏ cách nhau. Lá bắc hoa dạng trứng hẹp, nhọn hoặc mũi nhọn ngắn, dài 0,5 –1 cm, dài ngang bằng bầu. 

Hoa mang 1–2(3) bông màu trắng, mở không rộng lắm, dạng chuông, chiều ngang chừng 1,5 cm. Đài hoa gần tương tự như nhau, dạng trứng hẹp, nhọn hoặc mũi nhọn ngắn, dài 11–12 mm, rộng 4 –5 mm; các lá đài bên hơi rộng hơn, phần gốc không đối xừng. Cánh hoa trứng hẹp, hơi nhỏ ngắn hơn, tù.

Môi hoa dài 10 –11 mm, mặt trong có các nhú, chia rõ thành 2 phần là phần họng và phần miệng. Phần họng dạng chén, với các thuỳ cong hình liềm tù dài 6 –7 mm. Phần miệng hình tim, dài và rộng 7– 8 mm, chia 3 thuỳ, các thuỳ bên bán nguyệt, có khía nông; thuỳ giữa trứng tam giác, cong ngược xuống phía dưới, có các nhú thô, ghồ ghề, nhỏ hơn thuỳ bên khoảng 2 lần. 

Môi với 3 sống thuyền chạy từ gốc đến gần hết đỉnh. Cột mảnh, hẹp, cao 5 –7 mm, mang bao phấn đứng thuôn dài 3 mm. 

Sinh thái: Loài lan này phân bố ở các sườn núi dưới tán rừng nguyên sinh cây lá rộng thường xanh có lẫn đá silicat, độ cao 1000 m so với mực nước biển ở khu vực Bảo Lâm, Lâm Đồng.

Mùa hoa: Tháng 4-5 

Tình trạng bảo tồnCephalanthera exiguain được đề nghị ở tình trạng Rất Nguy cấp CR (Critically Endangered) theo tiêu chuẩn IUCN 2014.

Biên tập: Phạm Văn Thế

Cephalanthera exigua (Orchidaceae), a new species and genus in the flora of Vietnam

Maxim S. Nuraliev, Peter G. Efimov, Leonid V. Averyanov, Andrey N. Kuznetsov & Svetlana P. Kuznetsova

Summary: The discovery of Cephalanthera exigua (Orchidaceae), a rare mycoheterotrophic species, is reported from southern Vietnam, Lam Dong province,representing a new specific and generic record for the flora of Vietnam. It also significantly expands the knowledge about the distribution area of this species. Problems of phylogeny, taxonomy and species identity within the Asian group of achlorophyllous species of the genus Cephalantheraare discussed. Morphological description of the Vietnamese plant including first detailed photos of flower structure of Cephalanthera exiguais provided. Thai and Vietnamese plants are compared in terms of flower morphology.

Keywords:  Cephalanthera exigua, Orchidaceae, mycoheterotrophic plants, Vietnam, flora, biodiversity, conservation, flower morphology

Link: http://istina.msu.ru/media/publications/article/557/a95/8700462/Nuraliev_et_al._2014_-_Cephalanthera_exigua.pdf

Thứ Năm, 14 tháng 5, 2015

Loài thực vật mới phát hiện ở Việt Nam: Capparis gialaiensis

Cap-Capparis-gialaiensis-1
Một loài thực vật mới cho khoa học của họ Capparaceae từ Việt Nam, Cáp gia lai - Capparis gialaiensis Sy,  đã được mô tả và được minh họa bằng hình vẽ và hình ảnh. Về hình thái, nó gần với Capparis longistipitata, nhưng khác ở độ dài của gai, chỉ nhị và vòi nhụy, hình dạng của lá và kích thước của cánh hoa. Thêm vào đó, bài báo công bố loài mới cũng cung cấp những bức ảnh màu, bảng so sánh loài mới với những loài có quan hệ gần gũi, và khóa định loại lưỡng phân. 



Capparis là chi Type của họ Capparaceae, bao gồm khoảng 600 loài, phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới, và một số vùng có khí hậu ôn hòa. Cho đến nay, đã có 35 loài, 3 phân loài và 2 thứ đã được ghi nhận ở Việt Nam. 

Gần đây, trong một đợt điều tra thực địa tại tỉnh Gia Lai, các nhà thực vật đã thu được mẫu vật của một loài Cáp đặc biệt. Nó sinh trưởng trên nền đất đỏ Bazan của những ngọn đồi nhỏ trong khu đất trống thuộc khu vực rừng thứ sinh ở xã Sơn Lang, huyện KBang. 

Sau khi kiểm tra tiêu bản chuẩn và so sánh về đặc điểm hình thái với các taxa tương tự, các nhà thực vật Việt Nam và Hàn Quốc đã kết luận rằng loài thực vật thu ở Gia Lai này là một loài chưa từng được mô tả.


Do đó, họ đã quyết định công bố loài mới trên tạp chí Annales Botanici Fennici, số 52, trang 219-223.

Cap-Capparis-gialaiensis-2

Mô tả: Bụi leo, cao tới 10 m, có lông tơ. Gai dài 0,5-1 mm, hơi uốn cong xuống. Cuống lá dài 1,2-1,5 cm, có phủ lông tơ; phiến lá hình elip đến trái xoan, kích thước 5-5,5 X 3-3,5 cm, mặt dưới lá có lông tơ trên gân chính và gân thứ cấp (gân phụ), mặt trên nhẵn, lúc non có màu vàng xanh, chuyển màu xanh sậm khi già, gân chính ở mặt dưới lá nổi rõ, mặt trên lá phẳng, gân phụ 3-5 ở mỗi bên của gân chính. Gốc lá tròn hoặc hơi nhọn, đỉnh lá nhọn, dài khoảng 0,5 cm. Cụm hoa dạng ngù, mọc ở nách lá hoặc ở đầu cành, gồm 9-11 hoa; cuống cụm hoa dài 2-2,5 cm; cuống hoa dài 1,5-1,6 cm, có lông tơ. Nụ hoa hình cầu, đường kính khoảng 2 mm. Lá đài kích thước 6-6,5 X 3-3,5 mm, phía ngoài có lông tơ, phía trong nhẵn; vòng ngoài lá đài xoắn vòng, trái xoan; vòng trong xoắn vòng dạng thìa. Cánh hoa màu trắng, hình thuôn, kích thước 12-13 X 4-5 mm, có lông tơ trên bề mặt và mép. Nhị 21-22; chỉ nhị dài 3,7-4 cm, nhẵn, màu trắng; bao phấn dài khoảng 1 mm. Vòi nhụy dài 3-3,5 cm, nhẵn. Bầu nhụy dạng khối elip, kích thước khoảng 2*1 mm, màu vàng xanh, nhẵn. Quả hình cầu, đường kính 3,5-3,8 cm, đỏ tía đến tím sậm khi chín, bề mặt nhẵn. Hạt 1-4 mỗi quả. Kích thước 1,5-1,7 X 1,2-1,3 cm, màu đen. Mùa hoa vào tháng 5-6, có quả trong khoảng tháng 5-11. 

Khóa lưỡng phân định loại loài Cáp gia lai C. gialaiensis và những loài gần gũi về hình thái: 

1. Vòi nhụy dài 0.6-0.8(-1.2) cm ... .......................................C. cantoniensis
1. Vòi nhụy ngắn nhất là 2 cm
2. Cuống hoa dài 2.5-3.5 cm; lá đài nhẵn; cánh hoa dạng trứng... C. lanceolaris
2. Cuống hoa dài đến 1.5 cm; lá đài có lông tơ; cánh hoa hình thuôn hoặc hình trái xoan
3. Gai dài 3-4 mm; phiến lá hình thuôn đến gần giống dạng trứng; cánh hoa hình trái xoan, dài 4-6 mm; chỉ nhị dài 0.7-2 cm .....................C. longistipitata
3. Gai dài 0.5-1 mm; phiến lá hình elip đến trái xoan; lá đài thuôn, dài 12-13 mm; chỉ nhị 3.7-4 cm ............................................................ C. gialaiensis

Biên tập: Hoài Vân

Liên kết: http://www.annbot.net/
PDF: Capparis gialaiensis (Capparaceae), a new species from Vietnam

Trợ cấp toàn phần cho ứng viên Hệ thống học Thực vật và Địa sinh học Việt Nam sang Mỹ

Missouri-Fellowship-2015

Shirley A. Graham Fellowships in Systematic Botany and Biogeography in USA, 2015

The Missouri Botanical Garden (MBG) awards Shirley A. Graham Fellowships to conduct research in Systematic Botany and Bio-geography. The Fellowships are open to professionals from universities and governmental or nongovernmental institutions and organizations in Mexico, Central America, South America, Madagascar, Vietnam, and Tanzania. The Fellowship will cover the costs of round-trip air travel to St. Louis and lodging in MBG’s visitor apartments and will provide a stipend for food, local transportation, and other incidental expenses in St. Louis for a period of up to two months. The application deadline is 31 July 2015.

Study Subject(s): Fellowship is awarded in systematic botany and bio geography.

Course Level: Fellowship is available to conduct research at the Missouri Botanical Garden.

Scholarship Provider: The Missouri Botanical Garden (MBG)
Scholarship can be taken at: USA

Eligibility: The Fellowships are open to professionals in the field of botany/plant sciences from universities and governmental or nongovernmental institutions and organizations in Mexico, Central America, South America, Madagascar, Vietnam, and Tanzania. To qualify, applicants must have received at least an undergraduate degree. The fields of research are limited to plant systematics, biogeography, ecology, and conservation. During their stay, the Fellows will also participate in other interdisciplinary activities that will enrich their experience and strengthen their professional development.
Scholarship Open for International Students: Applicants from Mexico, Central America (Belize; Costa Rica; El Salvador; Guatemala; Honduras; Nicaragua; Panama), South America (Brazil, Colombia, Argentina, Peru, Venezuela, Chile, Ecuador,  Bolivia, Paraguay, Uruguay, Guyana, Suriname, French Guiana, Falkland Islands(UK) ), Madagascar, Vietnam, and Tanzania are eligible to apply for these research fellowships.
Scholarship Description: The Missouri Botanical Garden (MBG) announces the Shirley A. Graham Fellowships in systematic botany and biogeography. The Fellowships are established to honor and celebrate Dr. Shirley A. Graham’s contributions to science, in particular to the taxonomy and evolution of the plant family Lythraceae. The Shirley A. Graham Fellowships are awarded to scientists from Latin America, Madagascar, Vietnam, and Tanzania who work in the field of botany/plant sciences. The purpose of the Fellowships is to support scientists by providing funding that will allow them to conduct research at the Missouri Botanical Garden. During their stay in St. Louis, the Fellows will have access to the Missouri Botanical Garden’s herbarium and library and to the TROPICOS database. The Fellowship will cover the costs of round-trip air travel to St. Louis and lodging in MBG’s visitor apartments and will provide a stipend for food, local transportation, and other incidental expenses in St. Louis for a period of up to two months. In special instances, and when justified in relation to the Fellow’s research project, a small amount of funding (up to $500.00) may be provided to buy equipment, travel to meetings, and support fieldwork.
Number of award(s): Not Known
Duration of award(s): Fellowship is applicable for two months.
What does it cover? The Fellowship will cover the costs of round-trip air travel to St. Louis and lodging in MBG’s visitor apartments and will provide a stipend for food, local transportation, and other incidental expenses in St. Louis for a period of up to two months. In special instances, and when justified in relation to the Fellow’s research project, a small amount of funding (up to $500.00) may be provided to buy equipment, travel to meetings, and support fieldwork.
Selection Criteria: Not Known
Notification: Scholarship result will be announced on 30 September 2015.
How to Apply: Applications may be submitted in English or Spanish and should preferably be sent by e-mail. Applications sent by regular mail or fax will also be accepted. Incomplete applications or those that exceed the eight-page limit will not be considered. Applications will consist of a maximum of eight pages that will include the following documents:
-Cover page form (one page, double-sided);
-Description of the proposed research project following the format indicated on the next page (maximum length of two pages, 10-point font);
-Up-to-date curriculum vitae following the format and examples indicated on the next page (maximum of two pages, 10-point font);
-A copy of the most advanced university degree awarded;
-A letter of recommendation;
-A letter from the institution with which the applicant is affiliated that supports his/her participation in this program.

Scholarship Application Deadline: The application deadline is 31 July 2015.

Appyl Form: MBG Research Fellowships in USA, 2015 Scholarship Positions 2015 2016 

http://scholarship-positions.com 

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

Ra mắt ứng dụng di động WildScan: nhận dạng các loài động vật hoang dã

WildScan -1
Đây là một ứng dụng di động với các chức năng nhận biết thông minh có thể giải đáp về các loài động vật hoang dã.

Phần mềm được thiết kế với mục đích hỗ trợ cho việc chống lại nạn buôn lậu, động vật hoang dã. Phần mềm WildScan được tích hợp với thư viện gần 300 loài động vật đang bị buôn bán phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. 

Đây là phần mềm miền phí và chạy trên nền tảng hệ điều hành Android. Mọi người quan tâm có thể tải ứng dụng theo địa chỉ cung cấp ở dưới cùng bài viết:

WildScan -2

Description: 

WildScan is a comprehensive species identification and response mobile application designed to combat wildlife trafficking. The application is designed to help front-line enforcement agencies, wildlife conservation officers, and the general public correctly identify, report and handle marine, freshwater and terrestrial animals caught in illegal wildlife trade. WildScan places critical information on endangered species at the fingertips of those who need it most and provides a tool to report wildlife crime. WildScan contains a comprehensive species library with more than 250 endangered animals commonly smuggled into and throughout Southeast Asia, a global hotspot for wildlife trafficking. The application will be available for free on Android devices with multiple platform and language support available in 2015.

https://play.google.com/store/apps/details?id=org.freeland.wildscan
http://www.freeland.org/#!wildscan/chp2

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Một loài tôm nước ngọt mới cho khoa học trong hang động của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng


Hai nhà khoc học Đỗ Văn Tứ và Nguyễn Tống Cường thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phát hiện một loài tôm càng nước ngọt mới. Điều thú vị là loài tôm mới được phát hiện trong một số hang động của Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Phát hiện mới được công bố trên Tạp chí Sinh học, số 36(3) trang 301-308

Loài tôm Phong Nha, Macrobrachium phongnhaense có đặc điểm đặc trưng bởi cơ thể trong suốt, mắt bị tiêu giảm, chân bò thứ hai mịn và thanh mảnh, không có gai trước hậu môn. Loài này sống trong các suối và vùng nước đọng ở trong các hang động, có thể xa cửa hang tới 4-5 km như trong hang Va. Tại đây, hoàn toàn không có ánh sáng và nước trong hang chủ yếu là nước thấm từ các khe đá và nền đá. Nền đáy có thể là đáy bùn hoặc bùn pha lẫn cát.




Hình. Ảnh mẫu vật sống loài tôm Macrobrachium phongnhaense 
(Nguồn: TS. Đỗ Văn Tứ)


Cho tới nay, loài mới chỉ được tìm thấy trong một số hang động (hang Va, hang 35, hang Sơn Đoòng) tại Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Loài tôm mới chỉ được thu được trong 3 hang động tại vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. Theo nhận xét bước đầu của Ts. Đỗ Văn Tứ, số lượng của các loài này trong các hang động không nhiều, ước tính số lượng tối đa dưới 1000 cá thể. Các mối đe dọa hiện tại và trong tương lai đối với loài này là khai thác nước ngầm, du lịch, ô nhiễm môi trường nước. Với khu vực phân bố rất hẹp, số lượng cá thể ít, cùng với các mối đe dọa tiềm tàng, loài này đủ tiêu chuẩn để có thể đưa vào thứ hạng Sẽ nguy cấp theo tiêu chí VU D1 trong Danh lục đỏ của IUCN
  
Đến nay, giống tôm nước ngọt Macrobrachium ở Việt Nam có 22 loài, vùng Đông Phương có 123 loài.

Xử lý tin: Đức Anh
Cung cấp thông tin: TS. Đỗ Văn Tứ

Nguồn tài liệu: Tạp Chí Sinh học, số 36(3): http://vjs.ac.vn/index.php/vjbio/article/view/5969 

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

International Symposium on Conservation and Utilization of Forest Resources for Sustainable Livelihoods


Forest-Symposium-2015

International Symposium on Conservation and Utilization of Forest Resources for Sustainable Livelihoods: Malaysia 26-29/10/2015


FAO and Forest Departments of various countries have since long been involved in providing livelihood opportunities to forest dwellers and rural households through some direct intervention and also through research and development initiatives. But it is strongly felt that there are many grey areas where still a lot is needed to be done. Further, many good things are happening around the globe in the field of Forests resources particularly NWFP management related issues. There are plenty of success stories regarding sustainable livelihood through Forest resource utilization. V Sivaram Research Foundation and Universiti Teknologi MARA (UiTM) will be organizing the Symposium which provides platform and opportunity for researchers, policy makers, managers, professionals from different private sectors in Asia and other regions of the world to exchange and share methodologies, approaches, information on products, market and lessons learnt from Forest resource conservation and development initiatives.
Forests are essential for human survival and well being. They harbour two thirds of all terrestrial animal and plant species. They provide us with food, oxygen, shelter, recreation, and spiritual sustenance, and they are the source for over 5,000 commercially traded products, ranging from pharmaceuticals to timber and clothing. The biodiversity of forests the variety of genes, species, and forest ecosystems underpins these goods and services, and is the basis for long term forest health and stability. Promoting strategies and ways to use forest biodiversity in a sustainable way, and with clear social and economic benefits for the poor, is the purpose of scheduled meeting.


TECHNICAL SESSIONS

  1. Wildlife Management, Environmental Education and Ecotourism
  2. Forest Biomass and Bioenergy
  3. Forest Products as Food and Medicine
  4. Forest Conservation strategies and Afforestation programmes
  5. Causes and consequences of Deforestation
  6. Climate Change on Biodiversity and Ecosystem
  7. Research and Development in Forest Management

ABSTRACT SUBMISSION

All abstracts should be written in English and submitted on or before July 30, 2015through on-line abstract system. The abstract must be in the Microsoft Word format (paper size: A4). The title of the paper should be 16 pt Times New Roman and the Name and Address must be cantered with 14 pt Times New Roman. The main text should be single-spaced, in 12 pt Times New Roman with Key words at the end. The number of words in the abstract should be maximum 400.
All submissions will be reviewed in terms of quality, impact and relevance to the Conference by subject experts. The notification will be directed to the corresponding author by August 15, 2015.


http://forestsymposium.com/