Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

Nhà nghiên cứu lâm sinh: Trịnh Ngọc Bon

Trinh-Ngoc-Bon
THÔNG TIN CÁ NHÂN

Họ và tên: Trịnh Ngọc Bon                                 (Nam)
Năm sinh: 27-08-1985 
Cơ quan: Viện Nghiên cứu Lâm sinh - Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, phường Đức Thắng – quận Bắc Từ Liêm – tp. Hà Nội
E-mail: trinhngocbon85@gmail.com 
Trình độ: Cử nhân 2008
Lĩnh vực quan tâm: Lâm nghiệp, Thực vật

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

Các công trình đã công bố:
1. Đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc Mường Tè – Lai Châu, 2011. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp

2. Tính đa dạng thực vật tại 2 xa Mù Cả và Tà Tổng, huyện Mường Tè, Lai Châu, 2013. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp

3. Đa dạng thực vật quý hiếm tại khu Bảo tồn Thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, 2014. Tạp chí Khoa học Lâm nghiệp

Các đề tài tham gia:
1. Nghiên cứu chọn giống và biện pháp kỹ thuật trồng rừng thâm canh tre trúc để lấy măng và nguyên liệu cho xây dựng, chế biến phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Bộ NN&PTNN. 2006 - 2010

2. Nghiên cứu tính chất cơ vật lý và giải phẫu của một số loài gỗ và tre thông dụng ở Việt Nam làm cơ sở cho chế biến, bảo quản và sử dụng. Bộ NN&PTNN. 2006 - 2010

3. Điều tra đánh giá thực trạng một số loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị ở tỉnh Cao Bằng làm cơ sở đề xuất biện pháp gây trồng phục vụ công tác phát triển rừng kinh tế. Tỉnh Cao Bằng. 2010 - 2011

4. Điều tra đánh giá khu hệ thực vật quý hiếm cần bảo tồn trong hệ sinh thái rừng tự nhiên ở Mường Tè tỉnh Lai Châu. Tỉnh Lai Châu. 2009 - 2011

5. Phát triển Lâm nghiệp để cải thiện đời sống để phát triển vùng Tây Nguyên (dự án Flitch)”. Cấp tỉnh. 2011

6. Nghiên cứu chọn giống và biện pháp kỹ thuật trồng tre lấy măng tại Lai Châu và Điện Biên. Bộ NN&PTNN. 2009-2012

7. Nghiên cứu đặc điểm lâm học của một số hệ sinh thái rừng tự nhiên ở Việt Nam. (giai đoạn 1). Bộ NN&PTNN. 2008 - 2012

8. Nghiên cứu kỹ thuật gây trồng cây Bương mốc lấy măng ở huyện Ba Vì – Hà Nội. Tp. Hà Nội. 2011 - 2013

9. Nghiên cứu đặc điểm lâm học của một số hệ sinh thái rừng tự nhiên ở Việt Nam (giai đoạn 2). Bộ NN&PTNN. 2013 - 2015

10. Nghiên cứu bảo tồn và phát triển loài Tam thất hoang (Panax stipuleanatus Tsai & K.M. Feng) ở các xã vùng cao huyện Mường Tè. Tỉnh Lai Châu. 2014-2016

Nhà nghiên cứu Côn trùng học: TS. Phạm Thị Nhị

Họ và Tên: PHẠM THỊ NHỊ
Học vị: Tiến sỹ

Giới tính: Nữ; sinh năm 1977

Tốt nghiệp: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 1999; Tốt nghiệp Thạc sỹ tại Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật năm 2003; Tốt nghiệp Tiến sỹ Sinh học tại Trường Đại học Tổng hợp Bonn và Bảo tàng Động vật Alexander Koenig (CHLB Đức) năm 2013; 

Công tác tại: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Phòng Hệ Thống học côn trùng.
Email: ptnhi2@yahoo.com

Các công trình đã công bố
1.      Khuất Đăng Long, Phạm Thị Nhị (2001) Một số nhận xét về các quần thể ong ký sinh họ Ichneumonidae trong vườn cây ăn quả tại khu vực Mê Linh, Vĩnh Phúc. Tạp chí Bảo vệ thực vật, 5(179): 28 – 31.
2.      Khuất Đăng Long, Phạm Thị Nhị (2002) Biến động số lượng theo mùa của ong cự Trathala flavor-orbitalis Cam. trong vườn cây ăn quả vùng ngọa thành Hà Nội. Tạp chí Bảo vệ thực vật, 6(186): 25 – 28.
3.      Khuất Đăng Long, Nguyễn Thị Phương Liên & Phạm Thị Nhị (2004). Đánh giá đa dạng sinh học trên điển hình một số nhóm ong cánh màng (Hymenoptera) dựa theo giá trị sử dụng.  Báo cáo khoa học Hội nghị toàn quốc Những vấn đề nghiên cứu cơ bản trong khoa học sự sống. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 814-817.
4.      Phạm Thị Nhị (2004) Các loài thuộc giống ong ký sinh Metopius Panzer, 1806 (Hymenoptera: Ichneumonidae) ở Việt Nam. Tạp chí Sinh học, 26(3A): 70–72.
5.      Khuat, L.D., Nguyen, L.P.T. & Pham, N.T. (2004) A survey of beneficial hymenopteran bees and wasps and their use value in the buffer zone of Cuc Phuong National Park, North Vietnam. Sylvatrop, 14 (1&2): 67–94.
6.      Khuất Đăng Long, Phạm Thị Nhị & Đặng Thị Hoa (2005) Nghiên cứu sự xuất hiện và vai trò của các loài ký sinh ở sâu non và nhộng sâu cuốn lá Lamprosema indicata và sâu khoang Spodoptera litura hại đậu tương vụ hè thu 2004 tại Hoài Đức, Hà Tây Hội nghị Côn trùng học toàn quốc: 126–131.
7.      Khuất Đăng Long, Phạm Thị Nhị & Bạch Văn Huy (2005) Nghiên cứu sự xuất hiện và biến động của sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrisis medinalis và tập hợp ký sinh của nó trên đồng lúa lai trung quốc ở tỉnh Hà Nam. Tạp chí Bảo vệ thực vật, 2: 14-19. 
8.      Phạm Thị Nhị, Khuất Đăng Long (2005) Sự phát sinh và vai trò của tập hợp ký sinh sâu cuốn lá nhỏ Cnaphalocrosis medinalis Guenee và sâu cuốn lá lớn Parnara guttata Bremer et Grey trên lúa chiêm tại Hoài Đức, Hà Tây. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ nhất. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội: 798–803.
9.      Khuất Đăng Long, Đặng Thị Hoa & Phạm Thị Nhị (2006) Kết quả điều tra nhóm côn trùng ký sinh ở pha sâu non đục thân ngô Ostrinia funacalis Guenee vụ hè thu-đông ở vùng Hà Nội và phụ cận. Báo cáo khoa học hội thảo Khoa học công nghệ quản lý nông học vì sự phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 490–494.
10.  Tạ Huy Thịnh, Phạm Thị Nhị (2006) Bước đầu nghiên cứu họ Ruồi ăn sâu (Asilidae, Diptera) ở Việt Nam. Báo cáo khoa học hội thảo Khoa học công nghệ quản lý nông học vì sự phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 529–535.
11.  Phạm Thị Nhị, Lê Xuân Huệ (2007) Thành phần loài thuộc giống ong ký sinh Xanthopimpla de Saussure, 1892 (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae: Pimplini) ở vườn Quốc gia Pù Mát, tỉnh Nghệ An. Tạp chí Sinh học, 29 (1): 20–25.
12.  Tạ Huy Thịnh, Phạm Thị Nhị (2007). Danh sách các loài Ruồi ăn sâu ở miền Trung Việt Nam (Diptera: Asilidae). Tạp chí Sinh học, 29 (2): 44–51.
13.  Khuất Đăng Long, Phạm Thị Nhị (2007) Thống kê các loài ong ký sinh thuộc tổng họ Ichneumonoidea (Hymenoptera) trên sâu hại cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam. Hội nghị khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 2. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 153–162.
14.  Phạm Thị Nhị, Khuất Đăng Long (2007) Các loài ong thuộc phân họ Metopiinae Foester, 1869 (Hymenoptera: Ichneumonidae) ở Việt Nam. Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 2. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 197–208.
15.  Phạm Thị Nhị, Khuất Đăng Long (2008) Bổ sung một loài mới thuộc giống Xanthopimplade Saussure, 1892 (Hymenoptera: Ichneumonidae) cho khu hệ ong cự của Việt Nam. Hội nghị Côn trùng học Quốc gia lần thứ 6. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 234237.
16.  Tạ Huy Thịnh, Hoàng Vũ Trụ, Trần Thiếu Dư, Đặng Đức Khương, Phạm Hồng Thái, Phạm Thị Nhị, Nguyễn Thị Thu Hường, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Thị Phương Liên, Cao Thị Quỳnh Nga, 2008. Tác động của sự thay đổi cảnh quan lên đa dạng côn trùng dọc tuyến đường Hồ Chí Minh đoạn miền Trung. Hội nghị Côn trùng học Quốc gia lần thứ 6. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 338–346.
17.  Phạm Thị Nhị, Đặng Thị Hoa (2009) Ghi nhận thêm một vật chủ mới của loài ong ký sinh Casinaria pedunculata (Szépligeti, 1908) (Hymenoptera: Ichneumonidae) ở Việt NamHội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 3. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 262–263.
18.  Pham, N.T., Broad, G.R. & Lampe, K.-H. (2010) Descriptions of two new species of the genus Augerella Gupta, 1962 (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) and the first record of A. orientalis(Gupta) from Vietnam. Zootaxa 2654: 17–29.
19.  Pham, N.T., Khuat, L.D. & Dang, H.T (2011) New records of Pimplinae (Hymenoptera: Ichneumonidae) from Vietnam. Proceedings of the 7th Vietnam National Conference on Entomology. Agricultural Publishing House, Hanoi: 210–217.
20.  Nguyễn Hữu Thảo, Khuất Đăng Long, Nguyễn Thị Phương Liên & Phạm Thị Nhị (2011) Bước đầu đánh giá sự đa dạng và giá trị bảo tồn một số nhóm ong cánh màng (Hymenoptera) ở vùng đệm vườn Quốc gia Xuân Sơn. Báo cáo Khoa học Hội nghị Côn trùng học Quốc gia lần thứ 7. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 302–309.
21.  Pham, N.T., Broad, G.R & Wägele, J.W. (2011) The genus AcropimplaTownes (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) in Vietnam, with descriptions of three new species. Zootaxa, 2921: 1–12.
22.  Pham, N.T., Broad, G.R., Matsumoto, R. & Wägele, J.W. (2011) Revision of the genus Xanthopimpla Saussure (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) from Vietnam, with descriptions of fourteen new species. Zootaxa, 3056: 1–67.
23.  Pham, N.T., Broad, G.R., Matsumoto, R. & Wägele J.W. (2011) Two new species of the genus Chablisea Gauld et Dubois (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) from Vietnam. Biologia, 66/6: 1134–1139.
24.  Phạm Thị Nhị & Khuất Đăng Long (2011) Đa dạng các loài ong cự thuộc phân họ Pimplinae (Hymenoptera: Ichneumonidae) ở vườn Quốc gia Cát Tiên. Hội nghị Khoa học toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 4. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 784–789.
25.  Pham, N.T., Broad, G. R., Matsumoto, R. & Böhme, W. (2012) First record of the genus Acrodactyla Haliday (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) from Vietnam, with descriptions of six new species. Zootaxa, 3207:  40–53.
26.  Pham, N.T., Broad, G.R., Wägele, W.J. (2012) A review of the genus CamptotypusKriechbaumer (Hymenoptera, Ichneumonidae, Pimplinae) in Vietnam with description of a new species. Deutsche Entomologische Zeitschrift, 59 (1): 129–137.
27.  Pham, N.T., Broad G.R., Matsumoto R. & Wägele W.J. (2012) First record of the genus Brachyzapus Gauld and Dubois (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) from Vietnam, with descriptions of six new species. The Journal of Natural History, 46 (27-28): 1639–1661.
28.  Pham, N.T., Broad, G.R., Zwakhals, K. (2012) First record of the genus DolichomitusSmith (Hymenoptera: Ichneumonidae) from Vietnam, with description of one new species. Zootaxa, 3519: 77–84.
29.  Pham, N.T., Broad, G.R., Dang, H.T. & Böhme, W. (2013) A review of the genus Pimpla Fabricius, 1804 (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) from Vietnam with description of two new species. Organisms Diversity and Evolution, 13: 397–407.
30.  Pham, N.T., Broad, G.R. & Wägele, W.J. (2013) A review of the Theronia genus-group (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) from Vietnam with descriptions of five new species. Journal of Natural History. 47(23–24): 1501–1538.
31.  Pham, N.T., Broad, G.R. & Wägele, W.J. (2013) Review of the genus Flavopimpla (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) from Vietnam with descriptions of two new species. Biologia, 64/4: 720–726.
32.  Pham, N.T., Broad, G.R. & Wägele, W.J. (2013) First record of the genusZaglyptus Förster (Hymenoptera: Ichneumonidae: Pimplinae) from Vietnam, with description of one new species. Zootaxa, 3702(5): 483–492.

33.  Phạm Thị Nhị (2013) Đặc điểm phân bố của ong cự phân họ Pimplinae (Hymenoptera: Ichneumonidae) ở Việt Nam. Hội nghị toàn quốc về Sinh thái và Tài nguyên sinh vật lần thứ 5. NXB Nông nghiệp, Hà Nội: 198–202.

Cộng tác viên: Trần Hoài Vân

Tran-Hoai-Van

- Họ và tên: Trần Hoài Vân
- Trình độ: Cử nhân sư phạm Sinh học; Cử nhân Anh ngữ
- Giới tính: Nữ
- Các trường đã học: ĐH Sư Phạm Hà Nội; Đại học Hà Nội
- Nơi công tác: Trường THPT châu Á - Thái Bình Dương; Công ty Vinabook.
- Lĩnh vực quan tâm: Môi trường, thực vật học, giáo dục
- Liên hệ: Email: waitingforyou0307@gmail.com
- Hiện Hoài Vân đang là Quản trị viên của Fanpage: Những người yêu thích thực vật Việt Nam

Bốn loài Cánh cứng chân chạy mới phát hiện

Amphimenes-guttatus
Tiến sỹ Fedorenko D.N. thuộc Viện các Vấn đề về Sinh thái và Tiến hóa Liên bang Nga đã phát hiện và công bố bốn loài cánh cứng chân chạy mới cho khoa học ở Việt Nam. Các loài mới thuộc hai giống Amphimenes và Taridius, họ Cánh cứng chân chạy (Carabidae), bộ Cánh cứng (Coleptera).


Loài cánh cứng Amphimenes guttatus Fedorenko, 2014 phát hiện ở VQG Cát Bà, Hải Phòng. Loài có chiều dài từ 5,9-7,2 mm, màu sắc khá nổi bật, màu đen trên lưng, các mép bên của tấm cổ và cánh có màu vàng hung (vàng hơi đỏ). Trên mỗi cánh, có hai đốm vàng hung, đốm trước tròn, hơi nghiêng về rãnh lưng, đốt sau hình elip, nằm sát đường lưng. Đầu và tấm cổ có màu xỉn, cánh có màu sáng hơn. Mắt lớn, hình bán cầu điển hình. Râu khá dài. Tấm cổ nằm ngang, có chiều rộng gấp 1,48 lần chiều dài, và rộng gấp 1,56 lần so với đầu; phần rộng nhất của tấm cổ ở ngay tơ bên. Cánh có hình tứ giác, với chiều dài gấp 1,45 lần so với chiều rộng; chỗ rộng nhất ở chính giữa.

Loài cánh cứng Amphimenes planipennis Fedorenko, 2014 phát hiện ở VQG Xuân Sơn, Phú Thọ. Loài có cơ thể hơi mập, màu đen; dài khoảng 5,3-6,2 mm. Đầu thường đen nâu hoặc nâu đen, với phần trán hơi đỏ; các mép bên của tấm cổ, cánh có mầu đỏ sẫm (đỏ đen); chân, râu có màu vàng hung. Đầu và tấm cổ hơi xỉn mầu, cánh có màu sáng hơn. Mắt hơi dẹt. Râu tương đối dài. Tấm cổ có dạng hình chữ nhật hoặc hình trái tim, với chiều rộng gấp 1,37 lần chiều dài, và gấp 1,45 lần chiều rộng của đầu; rộng nhất ở phần tơ bên. Cánh có dạng hình trái xoan lớn, chiều dài gấp 1,36 lần chiều rộng, có chiều rộng gấp 1,66 lần so với tấm cổ.
Amphimenes-micros
Loài cánh cứng Amphimenes micros Fedorenko, 2014 phát hiện ở VQG Chư Yan Sin, Đắk Lắk. Loài có cơ thể thon và nhỏ, dài khoảng 4,7 mm. Đầu và tấm cổ có màu xỉn, cánh có màu sáng hơn. Mắt nhỏ và hơi dẹt. Râu ngắn, và không dài quá tấm cổ. Tấm cổ hình trái tim, có chiều rộng gấp 1,29 lần chiều dài, và gấp 1,47 lần so với đầu; rộng nhất ở phần có tơ bên. Cánh có hình chữ nhật, có chiều dài gấp 1,40 lần chiều rộng, và chiều rộng của cánh gấp 1,54 lần so với tấm cổ.
Taridius-marginipennis


Loài cánh cứng Taridius marginipennis Fedorenko, 2014 phát hiện ở Lâm Đồng. Loài có cơ thể dẹt, dài từ 6,8-7,7 mm, màu đen hoặc đen nâu; chân, các mép bên của tấm cổ có màu vàng hung; tấm cổ có màu hung (đỏ) ở phần đầu và đuôi. Mắt lồi khá rõ. Tấm cổ nằm ngang, hình trái tim; chiều rộng gấp 1,41 lần, và gấp 1,29 lần so với đầu, chỗ rộng nhất ở cách đỉnh 1/3. Cánh có hình trái xoan nằm nghiêng, chiều dài gấp 1,46 lần chiều rộng, và có chiều rộng gấp 1,65 lần so với tấm cổ. 

Hai giống Amphimenes và Taridius mới chỉ ghi nhận được 20 và 19 loài tương ứng, và là các giống còn ít được nghiên cứu. Việc phát hiện các loài này càng làm rõ tính đa dạng sinh học và đặc hữu của khu hệ động vật Việt Nam



 (Nguồn: Fedorenko, 2014: http://kmkjournals.com/upload/PDF/REJ/23/ent23_4_305_315_Fedorenko_for_Inet.pdf)

Thứ Ba, 30 tháng 12, 2014

Các loài Thực vật mới cho khoa học ở Việt Nam 2014

cam-cu-hanh-hoya-hanhiae
Cẩm cù hạnh - Hoya hanhiae, Loài mới phát hiện từ Quảng Trị và Nha Trang. Ảnh Trần Thị Thu Hiền.

A Checklist of new flora species from Vietnam in 2014

Với sự nỗ lực của các nhà khoa học, trong năm 2014 đã công bố được 46 loài thực vật, địa y và nấm mới cho thế giới phát hiện được từ các vùng Bắc - Trung - Nam của Việt Nam. Chúng bao gồm từ những loài nhỏ nhất như Địa y đến các loài cây gỗ lớn như Thông năm lá rủ. Số lượng loài mới đáng kể này đã đóng góp thêm phần không nhỏ vào tính đa dạng của hệ thực vật Việt Nam.

1. Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis (Aristolochiaceae) - Quảng Bình
2. Dáng hương phong Aerides phongii (Orchidaceae) - Ninh Thuận
3. Cẩm cù hạnh Hoya hanhiae (Apocynaceae) - Quảng Trị, Nha Trang
4. Cao hùng lá bắc cong Elatostema arcuatobracteatum (Urticaceae) - Hà Giang
5. Trà long Camellia longii (Theaceae) - Lâm Đồng
6. Trà cu-ri Camellia curryana (Theaceae) - Lâm Đồng
7. Địa y sậm Willeya fusca (Verrucariaceae) - Hoà Bình
8. Địa y nhẵn Willeya laevigata (Verrucariaceae) - Tuyên Quang
9. Địa y lồi Willeya protrudens (Verrucariaceae) - Hoà Bình, Tuyên Quang
10. Thu hải đường thân dài Begonia longa (Begoniaceae) - Hà Giang
11. Tỏi rừng xuân sơn Aspidistra xuansonensis (Asparagaceae) - Phú Thọ
12. Cây vú bò Miliusa astiana (Annonaceae) - Khánh Hoà
13. Song môi ninh bình Miliusa ninhbinhensis (Annonaceae) - Ninh Bình
14. Bồ hòn sơn la Sapindus sonlaensis (Sapindaceae) - Sơn La
15. Sao việt nam Hopea vietnamensis (Dipterocarpaceae) - Quảng Bình
16. Địa y Up re ti Graphis upretii - Đắc Lắc
17. Lan đốm Gastrochilus kadooriei (Orchidaceae) - Hà Giang
18. Thiết mi ô kha Thismia okhaensis (Thismiaceae) - Khánh Hòa
19. Nấm lưới Braunomyces dictyosporus (Ascomycetes) - Đồng Nai
20. Ngọc lan cát tiên Magnolia cattienensis (Magnoliaceae) - Lâm Đồng
21. Thiết mi mũi Thismia mucronata (Thismiaceae) - Lâm Đồng
22. Giang ly cuống dài Billolivia longipetiolata (Gesneriaceae) - Lâm Đồng
23. Giang ly việt nam Billolivia vietnamensis (Gesneriaceae) - Lâm Đồng
24. Giang ly nhỏ Billolivia minutiflora (Gesneriaceae) - Lâm Đồng
25. Giang ly poi-la-nây Billolivia poilanei (Gesneriaceae) - Lâm Đồng
26. Giang ly tím Billolivia violacea (Gesneriaceae) - Lâm Đồng
27. Va li máu Miguelia cruenta (Orchidaceae) - Khánh Hoà
28. Huệ đá hoa đen Peliosanthes nutans (Asparagaceae) - Quảng Nam 
29. Tỏi đá khang Tupistra khangii (Asparagaceae) - Sơn La
30. Trà hòn giao Camellia hongiaoensis (Camelliaceae) - Khánh Hoà
31. Dương xỉ hà giang Polystichum hagiangense (Dryopteridaceae) - Hà Giang
32. Nam tinh châu văn minh Arisaema chauvanminhii (Araceae) - Bình Phước
33. Súm hòn giao Adinandra hongiaoensis (Theaceae) - Lâm Đồng
34. Bùng bục phong nha Mallotus phongnhaensis (Euphorbiaceae) - Quảng Bình
35.  Giang lộc bắc Maclurochloa locbacensis (Poaceae) - Lâm Đồng
36. Ngoại dẫn đối xứng Exacum zygomorpha (Gentianaceae) - Nghệ An
37. Diễn đá Dendrocalamus longivaginatus (Poaceae) - Phú Thọ
38. Trà duy Camellia duyana (Theaceae) - Lâm Đồng
39. Trà râm Camellia ligustrina (Theaceae) - Lâm Đồng
40. Trà bù gia mập Camellia bugiamapensis (Theaceae) - Bình Phước
41. Trà hoa đầu Camellia capitata (Theaceae) - Lâm Đồng
42. Thông 5 lá rủ Pinus cernua (Pinaceae) - Sơn La
43. Dẻ gai sẹo to Castanopsis grandicicatricata (Fagaceae) - Phú Thọ, Nghệ An
44. Dẻ gai nhiều cạnh Castanopsis multiporcata (Fagaceae) - Nghệ An
45. Mung rô cuống lá dài Munronia petiolata (Meliaceae) - Quảng Ninh
46. Phòng kỷ xuân liên Aristolochia xuanlienensis (Aristolochiaceae) - Thanh Hoá

Thêm vào đó, 21 loài Thực vật cũng được ghi nhận bổ sung cho Hệ thực vật Việt Nam:

Cam-cu-ly-Hoya-lyi
Cẩm cù ly - Hoya lyi, Loài bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam phát hiện từ miền Bắc. Ảnh Chu Xuân Cảnh

1. Địa y Arthonia radiata - Đắc Lắc
2. Địa y Brigantiaea tricolor - Đắc Lắc
3. Địa y Coenogonium implexum - Đắc Lắc
4. Địa y Dirina paradoxa - Đắc Lắc
5. Địa y Herpothallon sipmanii - Đắc Lắc
6. Địa y Pertusaria pertusa - Đắc Lắc
7. Địa y Sarcographina cyclospora - Đắc Lắc
8. Dương xỉ Polystichum auriculum (Dryopteridaceae) - Hà Giang
9. Dương xỉ Polystichum dangii (Dryopteridaceae) - Hà Giang
10. Dương xỉ Polystichum excellens (Dryopteridaceae) - Cao Bằng, Hà Giang
11. Dương xỉ Polystichum fimbriatum (Dryopteridaceae) - Cao Bằng
12. Dương xỉ Polystichum liboense (Dryopteridaceae) - Hà Giang
13. Dương xỉ Polystichum minimum (Dryopteridaceae) - Hà Giang
14. Dương xỉ Polystichum mucronifolium (Dryopteridaceae) - Kon Tum, Lâm Đồng
15. Dương xỉ Polystichum nepalense (Dryopteridaceae) - Lai Châu
16. Dương xỉ Polystichum subacutidens (Dryopteridaceae) - Cao Bằng, Hà Giang, Sơn La
17. Dương xỉ Polystichum xichouense (Dryopteridaceae) - Hà Giang
18. Cẩm cù ly Hoya lyi (Apocynaceae) - Thanh Hoá, Điện Biên, Hà Giang
19. Lan đá quý Nephelaphyllum pulchrum (Orchidaceae) - Thanh Hoá
20. Cẩm cù vân nam Hoya yuennanensis (Apocynaceae) - Lâm Đồng
21. Lan len java Eria javanica (Orchidaceae) - Khánh Hoà
Phạm Văn Thế, Cập nhật ngày 31/12/2014

Phân bố và Sinh cảnh của Chuột đá lào

Laonastes-aenigmamus-credit-NguyenXN
Chuột đá Lào Laonastes aenigmamus chính là "hoá thạch sống", là loài sống sót duy nhất của họ Diatomyidae được cho là đã tuyệt chủngChúng được phát hiện và công bố vào năm 2005 tại Lào bởi các nhà khoa học Jenkins, Kilpatrick, Robinson và Timmins. Khi đó chúng chỉ được tìm thấy tại khu vực núi đá vôi nhỏ của tỉnh Khăm Muộn.

Vào năm 2011, nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Nghĩa (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) cùng đồng nghiệp đã phát hiện thêm khu phân bố thứ 2 của loài này tại Vườn Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình, miền Trung Việt Nam.

Chuột đá lào có tên tiếng Anh là Laotian Rock Rat, tiếng Lào là kha-nyou, hay tên địa phương ở Quảng Bình theo người Rục là knê-củng.

Phạm vi khu phân bố loài Chuột đá lào Laonastes aenigmamus ở Việt Nam được xác định rất nhỏ, khoảng 150 km2. Đó là vùng núi đá vôi thấp thuộc năm xã của huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, nơi có độ cao từ 250 đến 400 m trên mặt nước biển. 

Laonastes-aenigmamus-1
Chuột đá lào Laonastes aenigmamus, mặt bụng. Ảnh Nguyễn Xuân Nghĩa

Chuột đá lào sống ở phần thấp của các khối núi đá vôi dốc, có nhiều tảng đá đá và khe hở dưới rừng thường xanh trên núi đá vôi. Chúng sử dụng các khe đá nhỏ để sinh sống, di chuyển và kiếm ăn. 

Môi trường sống tự nhiên nguyên sinh của Chuột đá lào tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng đã bị ảnh hưởng bởi việc khai thác gỗ chọn, tuy nhiên những khu rừng có cấu trúc 3-4 tầng vẫn còn sót lại. 

Chuột đá lào là loài ăn tạp, ăn cả động vật và thực vật. Nhóm nghiên cứu đã phát hiện các bộ phận thực vật như lá, chồi, hoa quả và rễ của 18 loài và một số loài côn trùng như ve, bọ ngựa, châu chấu. 

Laonastes-aenigmamus-2
Chuột đá lào Laonastes aenigmamus, mặt lưng. Ảnh Nguyễn Xuân Nghĩa

Số lượng cá thể của Chuột đá lào tại VQG Phong Nha Kẻ Bàng còn rất ít và bị đe doạ tuyệt chủng nghiêm trọng. Người dân địa phương vẫn thường săn bắt chúng vào ban đêm tại khác khe đá. Hơn nữa khả năng sinh sản của nó rất hạn chế, cộng thêm môi trường sống bị xáo trộn và mất sinh cảnh

Chuột đá lào Laonastes aenigmamus được liệt kê trong danh sách đỏ của IUCN ở mức độ Nguy cấp, và cũng được liệt kê trong Sách đỏ các loài động vật hoang dã và thủy sản của Lào. Tuy nhiên, hiện tại thì chúng chưa được cập nhật trong Sách Đỏ hoặc bất kỳ văn bản pháp luật bảo tồn nào ở Việt Nam.

Dữ liệu về phân bố và sinh cảnh của Chuột đá lào ở Việt Nam vừa mới được công bố trên tạp chí Biodiversity Data Journal 2: e4188, ngày 25 tháng 12 năm 2014.
Theo Nguyễn Xuân Nghĩa

Biodiversity Data Journal 2: e4188 (25 Dec 2014)
doi: 10.3897/BDJ.2.e4188

Distribution and habitat of the Laotian Rock Rat Laonastes aenigmamus Jenkins, Kilpatrick, Robinson & Timmins, 2005 (Rodentia:Diatomyidae) in Vietnam

Dang Xuan Nguyen, Nghia Xuan Nguyen, Duy Dinh Nguyen, Tri Huy Dinh, Dinh Thuc Le, Duong HaiDinh

Abstract: The Laotian Rock Rat Laonastes aenigmamus Jenkins, Kilpatrick, Robinson & Timmins, 2005 was originally discovered in Lao People's Democratic Republic in 2005. This species has been recognized as the sole surviving member of the otherwise extinct rodent family DiatomyidaeLaonastes aenigmamus was initially reported only in limestone forests of Khammouane Province, Central Lao. A second population was recently discovered in Phong Nha Ke Bang National Park (PNKB NP), Quang Binh Province, Central Vietnam in 2011. The confirmed distribution range of L. aenigmamus in Vietnam is very small, approximately 150 km2, covering low karst mountains in five communes of Minh Hoa District, Quang Binh Province, at elevations between 250 and 400 m asl. The Laotian Rock Rat inhabits the lower part of steep karst towers with many rock boulders and crevices under tall limestone evergreen forest. They use small rock crevices for their dens. The natural habitat of this species in PNKB NP has been affected by selected timber harvesting, however, a complex 3-4 layer forest structure is retained. The Laotian Rock Rat is omnivorous, feeding on parts (leaves, buds, fruits and roots) of 18 plant species and also some insects (cicada, mantis, grasshopper). The population of this species in PNKB NP is seriously threatened with extinction due to its very restricted distribution, high hunting pressure, and habitat disturbance. Laonastes aenigmamus is listed in the IUCN Red List as endangered and in the Wildlife and Aquatic Red List of Lao, however, this species has not been listed in the Red Data Book or any conservation legislative documents of Vietnam.

Final version could be found at: http://biodiversitydatajournal.com/articles.php?id=4188

Thứ Hai, 29 tháng 12, 2014

Các loài động vật mới cho khoa học ở Việt Nam 2014

Than-lan-ngon-cuc-dong-Cyrtodactylus-cucdongensis

Thằn lằn ngón cực đông Cyrtodactylus cucdongensis, loài mới phát hiện ở Khánh Hoà. Ảnh Phùng Mỹ Trung

Các loài động vật mới cho khoa học phát hiện ở Việt Nam trong năm 2014

Thống kê đến ngày 30/12/2014, đã ghi nhận được 80 loài động vật mới cho khoa học được phát hiện ở Việt Nam. Phần lớn trong số các loài mới thuộc nhóm Bò sát - Lưỡng cư và Côn trùng, chỉ duy nhất có 2 loài thú mới (loài Chuột cây và Loài Dơi muỗi). 

1. Ếch giun Cha lo Ichthyophis chaloensis - Cha Lo, Quảng Trị
2. Ếch giun Cát lộc Ichthyophis catlocensis - Cát Lộc, Lâm Đồng
3. Loài côn trùng cánh nửa Tâm Annamatissus tami - VQG Bi Doup, Lâm Đồng
4. Nhái cây mô tô ka wa Kurixalus motokawai - Gia Lai, Kon Tum
5. Bọ que Yên tử Phryganistria heusii yentuensis - Khu Bảo tồn Tây Yên Tử, Bắc Giang
6. Bọ que Trụ Phobaeticus trui - miền Trung Việt Nam
7. Bọ que Tam đảo Phryganistria tamdaoensis - VQG Tam Đảo, Việt Nam
8. Chuột cây Thomas Chiromyscus thomasi - Mường Thai, Sơn La
9. Loài ve giáp Hoplophthiracarus clavatus - miền Nam Việt Nam
10. Loài ve giáp Acrotritia paragranulata - miền Nam Việt Nam 
11. Loài ve giáp Euphthiracarus(Parapocsiamedius - miền Nam Việt Nam
12. Loài ve giáp Steganacarus(Rhacaplacarus) spinus miền Nam Việt Nam 
13. Loài ve giáp Euphthiracarus (Euphthiracarusquasitakahashii miền Nam Việt Nam
14. Loài Dơi muỗi Hypsugo dolichodon - VQG Cát Tiên, Đồng Nai
15. Bọ xít Flexi Đông phương Flexitibia orientalis - VQG Cúc Phương, Ninh Bình
16. Ruồi đen Bạch mã Simulium (Nevermannia)bachmaense - VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế
17. Ruồi đen Phạm Simulium (Nevermannia) phami - VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế
18. Ruồi đen Lang biang Simulium (Nevermannia) langbiangense - VQG Bạch Mã, Thừa Thiên Huế
19. Mọt rác lá không cánh Otibazo polyphemus - VQG Tam Đảo, Vĩnh Phúc
20. Rầy cánh ngắn Macrodaruma brevinaso - VGQ Tam Đảo, Vĩnh Phúc
21. Bọ cạp Đắk Rông Euscorpiops dakrong - Dak Rong, Quảng Trị
22. Loài côn trùng Pisacha yinggensis - Việt Nam
23. Loài côn trùng Pisacha baculiformis - Việt Nam
24. Loài côn trùng Pisacha falcata - Việt Nam 
25. Loài côn trùng Pisacha balteiformis - Việt Nam
26. Giun đất không manh tràng Mê Kông Polypheretima mekongmontis - đồng bằng sông Cửu Long
27. Rận nước Idris Chydorus idrisi - VGQ Cát Tiên, Đồng Nai
28. Ếch cây xanh nhạt Kurixalus viridescens - VQG BiDoup-Núi Bà, Lâm Đồng, và núi Hòn Bà, Khánh Hòa.
29. Rầy đầu dài Côn Đảo Sogana condaoana- VQG Côn Đảo, Bà Rịa - Vũng Tàu
30. Rầy đầu dài Cúc Phương Sogana cucphuongana - VQG Cúc Phương, Ninh Bình
31. Ruồi đen hồng thái Simulium (Gomphostilbia) hongthaii (Diptera: Simuliidae) - Vĩnh Phúc
32. Ruồi đen tam đảo Simulium (Gomphostilbia) tamdaoense (Diptera: Simuliidae) - Vĩnh Phúc 
33. Ruồi đen tây thiên Simulium (Gomphostilbia) taythienense (Diptera: Simuliidae)  - Vĩnh Phúc
34. Ruồi đen xuân đại Simulium (Gomphostilbia) xuandai (Diptera: Simuliidae) - Vĩnh Phúc 
35. Tê giác na dương Epiaceratherium naduongense (Rhinocerotidae) - Lạng Sơn
36. "Thú than" phương đông Bakalovia orientalis (Anthracotheriidae) - Lạng Sơn
37. Cá nước ngọt cổ đại Planktophaga minuta - Lạng Sơn
38. Ong vò vẽ nâu Polistes (Polistella) brunetus (Hymenoptera, Vespidae, Polistinae) - Bắc Kạn
39. Giun tròn rừng đước Lanzavecchia mangrovi (Nematoda, Dorylaimida) - Nam Định
40. Bọ xít lưng bướu Trichosomaptera gibbosa (AradidaeHemiptera) - Lâm Đồng
41. Ve nước mù hà giang Torrenticola anophthalma (Torrenticolidae) - Hà Giang
42. Ve nước ngầm hình nón Stygotorrenticola coniseta (Torrenticolidae) - Hà Giang
43. Ve nước to-ma-si Raptorhydracarus tomasini (Raptorhydracarinae, họ Limnesiidae) - Hà Giang 
44. Ve nước ngầm việt nam Africasia vietnamitica (Athienemanniidae) - Hà Giang
45. Tắc kè ngón chân cong pù hu Cyrtodactylus puhuensis (Squamata: Gekkonidae: Cyrtodactylus) - Thanh Hoá
46. Bọ que gai kì dị Brockphasma spinifemoralis (Phasmida: Necrosciinae) - Thừa Thiên Huế
47. Nhện tam đảo Calodipoena tamdaoensis (Mysmenidae) - Vĩnh Phúc
48. Nhện Gaoligonga taeniata (Mysmenidae) - Ninh Bình
49. Nhện Mysmena maculosa (Mysmenidae) - Ninh Bình
50. Ruồi hai cánh sa pa Chyliza gavryushini (Psilidae) - Lào Cai
51. Ruồi hai cánh hoàng liên Cypselosoma tibialis (Cypselosomatidae) - Lào Cai
52. Chuồn chuồn quên lãng Indocypha neglecta (Odonata: Chlorocyphidae) - Lào Cai
53. Nhái miệng nhỏ rừng thông Microhyla pineticola (Microhylidae) - Lâm Đồng
54. Nhái miệng nhỏ đẹp Microhyla pulchella (Microhylidae) - Lâm Đồng
55. Nhái miệng nhỏ tí hon Microhyla minuta (Microhylidae) - Đồng Nai
56. Nhái miệng nhỏ đa-re-ki Microhyla darevskii (Microhylidae) - Kon Tum
57. Nhái cây miệng nhỏ Microhyla arboricola (Microhylidae) - Khánh Hoà
58. Ếch núi hòn bà Kalophrynus honbaensis (Anura: Microhylidae) - Khánh Hoà
59. Ếch núi ẩn Kalophrynus cryptophonus (Anura: Microhylidae) - Lâm Đồng
60. Bướm đêm hoàng đế vũ liên Samia vuvanlieni (Saturniidae, Lepidoptera) - Lâm Đồng, Kon Tum, Đà Nẵng
61. Tôm gõ mõ Athanas manticolus (Crustacea, Decapoda) - Nha Trang
62. Cá mù ẩn mốp si Schistura mobbsi - Thái Nguyên
63. Chuồn chuồn âu cơ Atrocalopteryx auco (Odonata: Calopterygidae) - Lạng Sơn
64. Nhện Eupoa lehtineni (Arachnida, Araneae, Salticidae) - Đồng Nai
65. Nhện đắc lắc Eupoa daklak (Arachnida, Araneae, Salticidae) - Đắc Lắc
66. Tôm nha trang Hamopontonia nhatrangensis (Crustacea, Decapoda, Palaemonidae, Pontoniinae) - Nha Trang
67. Xén tóc Aegosoma xentoc (Coleoptera: Cerambycidae: Prioninae) - Lâm Đồng
68. Bướm đêm Paracossus zyaung (Cossidae, Lepidoptera) - Việt Nam
69. Bướm đêm Phragmacossia laklong (Cossidae, Lepidoptera) - Việt Nam
70. Bướm đêm Butaya auko (Cossidae, Lepidoptera) - Việt Nam
71. Côn trùng Metopheltes clypeoarmatus (Hymenoptera: Ichneumonidae, Ctenopelmatinae) - Ninh Bình
72. Cá nước ngọt hữu đức Opsariichthys duchuunguyeni - Lạng Sơn
73. Ve sầu gia lai Semia gialaiensis - Gia Lai
74. Cua vị xuyên Tiwaripotamon vixuyenense - Hà Giang
75. Bọ cạp pa thơm Chaerilus pathom (Scorpiones; Chaerilidae) - Điện Biên
76. Êch cây cát bà Liuixalus catbaensis - Hải Phòng
77. Thằn lằn ngón cực đông Cyrtodactylus cucdongensis (Squamata: Gekkonidae) - Khánh Hoà
78. Ếch cây gai Gracixalus lamarius (Anura: Rhacophoridae) - Kon Tum
79. Thằn lằn chân nửa lá bà nà Hemiphyllodactylus banaensis (Squamata: Gekkonidae) - Đà Nẵng
80. Thằn lằn ngón thương Cyrtodactylus thuongae (Squamata: Gekkonidae) - Tây Ninh


    Nguyễn Đức Anh tổng hợp từ biodivn.com Cập nhật ngày 30/12/2014.

    Ba loài ếch giun mới ở Việt Nam và Campuchia

    Ichthyopis-catlocensis-credit-Geissler
    Trong quá trình phân tích các đặc điểm hình thái và dẫn liệu phân tử các loài Ếch giun thuộc giống Ichthyophis Fitzinger, 1826, Tiến sỹ Nguyễn Quảng Trường cùng các đồng nghiệp người Đức, Nga đã phát hiện và công bố 3 loài mới cho khoa học. 

    Loài Ếch giun cardamo Ichthyophis cardamomensis Geissler et al., 2014 được mô tả từ mẫu vật thu ở núi Cardamo, miền tây Cam-pu-chia. Loài có chiều dài từ 83-321,7 mm, gấp 23-37 lần chiều rộng trung bình. Cơ thể có mầu xám đen trên lưng, xám nhạt ở bụng đối với mẫu ngâm, và có màu nâu đỏ (nâu hạt dẻ) đối với mẫu sống. Xung quanh mắt có viền tròn hẹp màu trắng. Phía bên thân không có sọc vàng. Loài được tìm thấy ở rừng thường xanh từ độ cao 300-980m, gần suối nhỏ, chảy xiết. Loài được đề nghị xếp hạng DD theo tiêu chí của IUCN.

    Ichthyophis-cardamomensis
    Loài Ếch giun cardamo Ichthyophis cardamomensis. Ảnh Geissler et al., 2014

    Loài Ếch giun cát lộc Ichthyophis catlocensis Geissler et al., 2014 được mô tả từ mẫu vật thu ở khu vực Cát Lộc, Lâm Đồng, Việt Nam. Loài có mầu sắc xám đỏ nhạt đối với mẫu ngâm, và xám đen đối với cá thể còn sống. Mắt có viền màu trắng. Phía bên thân không có sọc vàng. Loài được tìm thấy phía dưới hòn đá (đường kính 30cm) gần mép suối Sui Lan, rừng Cát Lộc. Loài được đề nghị xếp hạng DD theo tiêu chí của IUCN.

    Ichthyopis-catlocensis
    Loài Ếch giun cát lộc Ichthyophis catlocensis. Ảnh Geissler et al., 2014

    Loài Ếch giun cha lo Ichthyophis chaloensis Geissler et al., 2014 được mô tả từ mẫu vật thu ở khu vực Cha Lo, Quảng Bình, Việt Nam. Loài có xám đen ở lưng và hơi nhạt dần ở bụng đối với mẫu ngâm, và nâu sẫm hạt dẻ ở lưng, nhạt hơn ở bụng đối với mẫu sống. Phía bên thân không có sọc vàng. Loài được tìm thấy bên dưới lớp lá rụng trên bờ suối. Loài được đề nghị xếp hạng DD theo tiêu chí của IUCN.

    Ichthyophis-chaloensis
    Loài Ếch giun cha lo Ichthyophis chaloensis. Ảnh Nguyễn Quảng Trường

    Như vậy, tổng số đã có 11 loài ếch giun thuộc giống Ichthyophis đã được mô tả và ghi nhận trong khu vực Đông Nam Á lục địa. Các loài ếch giun giống Ichthyophis được thành hai nhóm dựa trên sự xuất hiện các vết sọc trên thân: nhóm có soc và nhóm không có sọc. Kết quả phân tích quan hệ phát sinh giữa hai nhóm dựa trên dẫn liệu phân tử và hình thái cho thấy nhóm không sọc có nguồn gốc đa phát sinh đối với nhóm có sọc.

    Ếch giun giống Ichthyophis thuộc họ Ichthyopiidae, bộ Gymnophiona, lớp Lưỡng cư phân bố rộng ở khu vực Đông Nam Á, bao gồm phần lục địa, miền nam Philippine và miền đông quần đảo Indonesia-Australia. Hiện nay, đã ghi nhận được 51 loài ếch giun, trong đó có 2 loài (I. orthoplicatus và I. pseudangularis) xếp hạng VU, và 5 loài khác xếp hạng LC theo tiêu chí của IUCN.

    Các loài mới này được công bố trên tạp chí Organisms Diversity and Evolution, 24/12/2014.
    Nguyễn Đức Anh tổng hợp

    Organisms Diversity & Evolution
    Date: 24 Dec 2014

    New Ichthyophis species from Indochina (Gymnophiona, Ichthyophiidae): 1. The unstriped forms with descriptions of three new species and the redescriptions of I. acuminatus Taylor, 1960, I. youngorum Taylor, 1960 and I. laosensisTaylor, 1969

    Peter Geissler, Nikolay A. Poyarkov Jr., Lee Grismer, Truong Q. Nguyen, Hang T. An, Thy Neang, Alexander Kupfer, Thomas Ziegler, Wolfgang Böhme, Hendrik Müller

    Abstract: Caecilians of the genus Ichthyophis Fitzinger, 1826 are among the most poorly known amphibian taxa within Southeast Asia. Populations of Ichthyophis from the Indochina region (comprising Cambodia, Laos, and Vietnam) have been assigned to five taxa: Ichthyophis acuminatus, Ichthyophis bannanicus, Ichthyophis kohtaoensis, Ichthyophis laosensis, and Ichthyophis nguyenorum. Barcoding of recently collected specimens indicates that Indochinese congeners form a clade that includes several morphologically and genetically distinct but yet undescribed species. Although body coloration is supported by the molecular analyses as a diagnostic character at species level, unstriped forms are paraphyletic with respect to striped Ichthyophis. Based on our morphological and molecular analyses, three distinct unstriped ichthyophiid species, Ichthyophis cardamomensis sp. nov. from western Cambodia, Ichthyophis catlocensis sp. nov. from southern Vietnam, and Ichthyophis chaloensis sp. nov. from central Vietnam are described as new herein, almost doubling the number of Ichthyophis species known from the Indochinese region. All three new species differ from their unstriped congeners in a combination of morphological and molecular traits. In addition, redescriptions of three unstriped Ichthyophis species (Ichthyophis acuminatus, I. laosensis, I. youngorum) from Indochina and adjacent Thailand are provided.

    Final version could be found in: http://link.springer.com/article/10.1007/s13127-014-0190-6

    Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2014

    Loài Phòng kỷ xuân liên chính thức công bố

    Aristolochia-xuanlienensis
    Tạp chí chuyên ngành Phytotaxa vừa chính thức công bố loài Phòng kỷ xuân liên Aristolochia xuanlienensis mới cho khoa học trên số 188 (4), trang 176–180 (Tham khảo bài Phòng kỷ xuân liên và Bí mật khoa học).

    Loài thực vật mới này được phát hiện trong quá trình lập danh lục khu hệ động, thực vật rừng tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (Thanh Hóa). Các nhà khoa học Nguyễn Thị Thanh Hương, Nguyễn Sinh Khang và những người khác thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã phối hợp với chuyên gia Trung Quốc phân tích mẫu vật, so sánh mẫu lá, hoa, quả, hạt và nhận thấy đây là một loài chưa từng được mô tả.

    Hoa và lá ngoài tự nhiên của loài  Phòng kỷ xuân liên Aristolochia xuanlienensis. Ảnh Trịnh Duy Hưng.

    Các nhà khoa học nói trên đã quyết định công bố loài mới với tên Phòng kỷ xuân liên Aristolochia xuanlienensis thuộc họ Mộc hương nam (Aristolochiaceae). Hiện tại mẫu vật của loài này đang được lưu giữ tại Phòng tiêu bản Thực vật của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật.
    Phòng kỷ xuân liên là loài dây leo thân gỗ, đường kính thân khoảng 1 cm. Lá có cuống dài 3–8 cm, có lông vàng rậm; phiến lá hình trứng-nhọn giáo đến trứng hẹp,  kích thước 12–25 x 7–15 cm, cả 2 mặt lá có lông vàng rậm khi còn non, khi già thì nhẵn. 

    Cụm hoa xuất phát từ thân hoặc nách lá, mang  3–4(–5) hoa. Hoa hình kèn trumpet, màu trắng có các gân màu tím nhạt, miệng hoa có các đốm tím đậm, đường kính khoảng 2,5 cm.


    Bản ảnh minh hoạ mô tả loài Phòng kỷ xuân liên Aristolochia xuanlienensis. Ảnh Trịnh Duy Hưng

    Loài mới này cho đến nay chỉ ghi nhận phân bố tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Thanh Hoá. Chúng mọc ở các khu rừng nguyên sinh thường xanh ở độ cao 200–900 m so với mặt biển. Nơi có các loài cây khác mọc chung như các loài Ráy, Sung và Dương xỉ.

    Chi Phòng kỷ Aristolochia có khoảng 400 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, và các vùng khí hậu ấm ám. Ở Đông Nam Á chúng có khoảng 70 loài, và ở Việt Nam có khoảng 13 loài. 

    Phòng kỷ xuân liên Aristolochia xuanlienensis là loài mới cho khoa học thứ 2 trong năm nay sau loài Phòng kỷ quảng bình Aristolochia quangbinhensis được phát hiện hồi đầu năm ở Quảng Bình.

    Phytotaxa 188 (4): 176–180

    Aristolochia xuanlienensis, a new species of Aristolochiaceae from Vietnam

    NGUYEN THI THANH HUONG, DO VAN HAI, BUI HONG QUANG, NGUYEN THE CUONG, NGUYEN SINH KHANG, DANG QUOC VU, JIN-SHUANG MA

    Abstract: Aristolochia Linneaus (1753: 960), the largest genus of Aristolochiaceae, consists of about 400 species (Hwang, 1988, Ma, 1989) but most of them are in the New World (Hou, 1984: 53; Huang et al. 2003: 246). It is widely distributed throughout tropics and subtropics but also extends into warm temperate regions. However, the genus is also rich in Asia, particularly in eastern and southern Asia, with more than 70 species (Ma, 1989). In Vietnam, there are 13 species and 1 variety (Ban, 2003, Lecomte, 1910, Ho, 2000, Do et al. 2014). During a field expedition to Thanh Hoa Province, Xuan Lien Nature Reserve, an unknown species of Aristolochia was collected and studied in the Vietnamese Herbaria; in comparison with other species of the genus, particularly the floral and fruit characteristics of those in the nearby area, it became obvious that it indeed represented a species new to science, which we described here.

    For more detail please go: DOI: http://dx.doi.org/10.11646/phytotaxa.188.3.7
    http://www.mapress.com/phytotaxa/content/2014/f/p00188p180f.pdf

    Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

    Loài Côn trùng cánh nửa mới ở Lâm Đồng

    Caliscelidae-credit-kiwipedia
    Một giống và loài côn trùng cánh nửa mới Annamatissus tami vừa được các nhà khoa học phát hiện mới cho thế giới ở Việt Nam. (Ảnh minh hoạ)

    Chúng được các nhà khoa học Nga và Pháp tìm thấy tại khối núi Bì Đoúp - Lâm Đồng. Sau khi phân tích kỹ lưỡng các đặc điểm hình thái, các nhà khoa học đã quyết định chúng là một giống mới và đặt tên là Annamatissus

    Loài mới được đặt tên là Annamatissus tami nhằm kỷ niệm TS. Trương Quang Tâm (Tp. Hồ Chí Minh), người đã tổ chức chuẩn bị các giấy tờ cho chuyến điều tra của nhóm tác giả kể trên

    Như vậy giống mới này là giống thứ hai thuộc phân tông Caliscelini, đồng thời là giống thứ 10 của họ Côn trùng cánh nửa Caliscelidae ở Việt Nam.

    Trong 10 giống của họ Côn trùng cánh nửa này ở Việt Nam thì có 8 giống thuộc phân họ Ommatidiotinae và 2 giống thuộc phân họ Caliscelinae.

    Công bố này được vừa được tạp chí chuyên khảo Zootaxa đăng trên số 3900(2), trang 255–262 

    DOI: http://dx.doi.org/10.11646/zootaxa.3900.2.5

    A new genus of the tribe Caliscelini (Hemiptera, Fulgoroidea, Caliscelidae) from Vietnam 

    VLADIMIR M. GNEZDILOV, THIERRY BOURGOIN, ADELINE SOULIER-PERKINS

    Abstract: A new genus Annamatissus Gnezdilov et Bourgoin gen. nov., including the new species, Annamatissus tami Gnezdilov et Soulier-Perkins sp. nov. is described in the family Caliscelidae from the Bi-Doup massif in Lam Dong Province of Vietnam. The new taxon represents only the second genus of the tribe Caliscelini known from Vietnam. An identification key to separate Gelastissus Kirkaldy from Annamatissus gen. nov. is provided together with a check list of the Caliscelidae of Vietnam and their distribution. New distribution data in Vietnam are given for Cicimora sicildia Emeljanov, 1998 and Gelastissus hokutonis (Matsumura, 1916).

    For more detail please go:  http://www.mapress.com/zootaxa/2014/f/z03900p262f.pdf
    http://www.biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3900.2.5