Hiển thị các bài đăng có nhãn Bac Kan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bac Kan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Loài dơi mới thuộc giống Dơi mũi ba lá Aselliscus dongbacana ở vùng Đông Bắc

Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm và Công nghệ Việt Nam cùng các cộng sự đến từ Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hungary, Viện Nghiên cứu quốc gia về các bệnh truyền nhiễm (Nhật Bản), Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội và Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử tự nhiên (Cộng hoà Pháp), đã phát hiện và mô tả một loài dơi mới thuộc giống Dơi mũi ba lá, Aselliscus, họ Hipposideridae.
Aselliscus dongbacana
A - A. stoliczkanus complex (IEBR-T5024, ♂); B - A. dongbacana sp.n. (holotype IEBR-VN11-0143, ♂)

Trước nghiên cứu này, giống Aselliscus được cho là chỉ có hai loài: A. tricuspidatus chỉ có ở các quần đảo thuộc Thái Bình Dương và A. stoliczkanus phân bố rộng trên đất liền của Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Tuy nhiên, kết quả so sánh về hình thái và trình tự gene những mẫu thu được thuộc giống Aselliscus tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cho thấy loài A. stoliczkanus thực chất là tập hợp gồm nhiều loài có hình thái rất giống nhau (nên gọi là A. stoliczkanus complex). Trong đó, những mẫu vật thu được tại những khu vực có núi đá vôi ở vùng Đông Bắc Việt Nam thuộc về một loài mới.

Loài dơi mới có tên khoa học là Aselliscus dongbacana Tu, Csorba, Gorfol, Arai, Son, Thanh & Hassanin, 2015 và tên tiếng Việt là Dơi mũi ba lá Đông Bắc, được đặt dựa trên vùng phân bố hiện biết của loài mới.
Các mẫu chuẩn (holotype và paratypes) của loài A. dongbacana được thu tại Động Nà Phòng, Vườn Quốc Gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Ngoài ra, các mẫu thuộc về loài dơi mới cũng được thu tại các Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (Bắc Kạn), Khau Ca (Hà Giang), Hữu Liên (Lạng Sơn) và Phia Oắc-Phia Đén (Cao Bằng).
Tình trạng bảo tồn: Loài Dơi mũi ba lá Đông Bắc có phân bố giới hạn trong vùng núi đá vôi ở Đông Bắc Việt Nam. Nơi đây cũng là nơi sống lý tưởng cho nhiều loài sinh vật của Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các vùng núi đá vôi này đã và đang bị suy thoái, chủ yếu do các hoạt động gây hại của con người. Hệ quả là không chỉ loài Dơi mũi ba lá Đông Bắc mà hầu hết các loài động thực vật nơi đây đang ngày càng bị đe doạ tuyệt chủng. Chính vì vậy, cần phải tiến hành thêm những nghiên cứu tại những khu vực này để bổ sung những dẫn liệu khoa học giúp cho việc quy hoạch và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học trong vùng có hiệu quả hơn.
Kết quả nghiên cứu trên đã được đăng tải trên Tạp chí chuyên ngành ACTA CHIROPTEROLOGICA: Vuong Tan Tu, Gábor Csorba, Tamás Görföl, Satoru Arai, Nguyen Truong Son, Hoang Trung Thanh and Alexandre Hassanin. 2015. Description of A New Species of the Genus Aselliscus (Chiroptera, Hipposideridae) from Vietnam. Acta Chiropterologica 17 (2): 233-254.
Nguồn tin: TS. Vương Tân Tú - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Xử lý tin: Thanh Hà

Theo http://vast.ac.vn/

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Loài Ve sầu mới phát hiện ở Ninh Bình

Ve-Sau-Pomponia-brevialata-1
 Một loài ve sầu mới cho khoa học, có tên là Pomponia brevialata, đã được phát hiện ở Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.

Gần đây, các nhà khoa học của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Trường Đại học Connecticut, Hoa Kỳ và Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ đã nghiên cứu về phân loại học của giống ve sầu Pomponia ở Việt Nam và Cămpuchia. Kết quả nghiên cứu đã công bố 1 loài mới cho khoa học và ghi nhận thêm 1 loài mới cho khu hệ ve sầu của Cămpuchia.

Loài ve sầu mới cho khoa học được đặt tên là Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015. Loài này được phân biệt với các loài khác của nhóm loài Pomponia linearis bởi các đốm vệt màu nâu trên gân r, r-m, và m của cánh trước; bụng con đực hình phễu. Loài này giống với loài Pomponia cinctimanus (Walker, 1850) và loài Pomponia ramifera (Walker, 1850) (cả hai loài đều phân bố ở Sylhet, Bănglađét). Tuy nhiên, loài này phân biệt với hai loài trên bởi các gai của clasper hẹp hơn và dài hơn rõ rệt cũng như các đốm vệt màu nâu trên cánh trước.

Ve-Sau-Pomponia-brevialata
Hình 1: Loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, cơ thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bụng. E, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Mẫu vật nghiên cứu của loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015 được thu tại Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật nghiên cứu được lưu giữ tại Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Với việc công bố thêm loài mới này đã nâng số tổng loài thuộc giống Pomponia lên 36 loài. Trong đó Việt Nam có 5 loài. 

Loài ve sầu ghi nhận mới cho khu hệ ve sầu Cămpuchia là loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009. Loài này được công bố là loài mới cho khoa học từ năm 2009 với mẫu vật thu được ở Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ve-Sau-Pomponia-backanensis
Hình 2: Loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Nguồn tin: Phạm Hồng Thái
Theo Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

Tóm tắt nội dung bài báo được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3925 (4): 562–572 

Cicada genus Pomponia Stål, 1866 (Hemiptera: Cicadidae) from Vietnam and Cambodia, with a new species, a new record, and a key to the species 

HONG-THAI PHAM1,4, YOUNG JUNE LEE 2 & JEROME CONSTANT 3 
1 Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet St, Hanoi, Vietnam. E-mail: phamthai@vnmn.vast.vn 
2 Department of Ecology and Evolutionary Biology, University of Connecticut, 75 North Eagleville Road, Storrs, CT 06269, USA 
3 Royal Belgian Institute of Natural Sciences, Department of Entomology, Vautierstreet 29, B-1000 Brussels, Belgium 
4 Corresponding author 

Abstract 
The genus Pomponia Stål, 1866 from Vietnam and Cambodia is reviewed . Pomponia brevialata Lee & Pham, sp. nov. is described from Vietnam. Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009 is added to the Cambodian cicada fauna. A key to the seven Vietnamese and Cambodian species of the genus Pomponia Stål, 1866 is provided: P. linearis (Walker, 1850), P. backanensis Pham & Yang, 2009, P. brevialata Lee & Pham, sp. nov., P. subtilita Lee, 2009, P. piceata Distant, 1905, P. daklakensis Sanborn, 2009, and P. orientalis (Distant, 1912). Synonymic lists, information on geographical distributions, and material examined for the Vietnamese and Cambodian species of Pomponia are provided. 

Key words: Auchenorrhyncha, Psithyristriini, Pomponia brevialata, Pomponia backanensis, Pomponia linearis, Pomponia subtilita, Pomponia piceata, Pomponia daklakensis, Pomponia orientalis, distribution.
For final version: http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03925p572f.pdf

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Mười chín loài Nhện mới công bố

Nhen-viet-nam
Công bố mười chín loài nhện mới cho khoa học phát hiện được ở phía Bắc Việt Nam

Đây là kết quả hợp tác giữa TS. Phạm Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các nhà khoa học Trung Quốc.

Mười chín loài nhện mới này thuộc họ Pholcidae, được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập ở các tỉnh Bắc Cạn, Phú Thọ, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Ninh Bình và Quảng Bình. Chúng không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao, nhiều loài có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, đặc hữu của Việt Nam. Bên cạnh đó, loài nhện còn được biết đến như là những thiên địch quan trọng góp phần phòng chống tổng hợp sâu hại bảo vệ cây trồng. Mô tả của 19 loài mới được công bố trên Tạp chí Quốc tế chuyên ngành Zootaxa, 3909(1): 82pp (monograph, tháng 1 năm 2015).

1. Loài Nhện Pholcus bifidus 

Nhen-Pholcus-bifidus
Loài Pholcus bifidus được phát hiện ở trong hang Tượng, vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc giống Pholcus bởi sự có mặt của các mấu lồi trên chân kìm của con đực, các gai sinh dục dài và nhọn, hơi cong, hóa kitin cứng; cơ quan sinh dục cái nhô hẳn ra ngoài.

2. Loài Nhện Pholcus caecus 

Nhen-Pholcus-caecus
Loài Pholcus caecus được phát hiện ở trong động Thiên Đường, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài nhện này phân biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi kích thước cơ thể rất nhỏ; nhện không có mắt; xuất hiện đôi sừng cong và sắc nhọn ở mặt trên của giáp đầu ngực.

3. Loài Nhện Pholcus hochiminhi 

Nhen-Pholcus-hochiminhi
Loài Pholcus hochiminhi được phát hiện ở trong động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự loài Pholcus aduncus Yao & Li, 2012, nhưng khác loài Pholcus aduncus ở đặc điểm phần cuối của xúc biện con đực kéo dài, xuất hiện mấu lồi trên xúc biện, hành cong mạnh, mắt chia 2 vùng và nổi hẳn lên tạo hai khối.


4. Loài Nhện Pholcus phami

Nhen-Pholcus-phami
Loài Pholcus phami được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi chân kìm con đực có hai đôi mấu lồi lớn ở mép; trên hành có nhiều gai hình con dao; bộ phận sinh dục cái hóa kitin với một mấu lồi hình chiếc gậy chạy dọc.


5. Loài Nhện Pholcus zhaoi

Nhen-Pholcus-zhaoi
Loài Pholcus zhaoi được phát hiện ở trong hang Sơn Động, vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này giống với loài Pholcus undatus Yao & Li, 2012 nhưng khác loài Pholcus undatus bởi sự có mặt của mấu lồi lớn hình thang; hành có 2 rãnh sâu xẻ dọc.


6. Loài Nhện Belisana babensis

Nhen-Belisana-babensis
Loài Belisana babensis được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự như loài Belisana strinatii Huber, 2005 nhưng khác loài Belisana strinatii bởi có có đốt chuyển trên xúc biện con đực và có gai cong lớn xuất hiện trên hành.


7. Loài Nhện Belisana cheni

Nhen-Belisana-cheni
Loài Belisana cheni được phát hiện ở trong hang Pắc Chấn, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác thuộc giống Belisanna do xuất hiện hai mấu lồi màu đen kéo dài ở mặt dưới của chân kìm; xuất hiện 2 túi nằm 2 bên của bộ phận sinh dục cái.


8. Loài Nhện Belisana clavata

Nhen-Belisana-clavata
Loài Belisana clavata được phát hiện ở núi Tây Côn Lĩnh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Đây là loài sống trong rừng tự nhiên, ở độ cao 1816 mét so với mặt biển. Loài này khác biệt so với các loài khác thuộc giống Belisanna do có các mấu lồi hình chùy hóa kitin cứng trên chân kìm; và xuất hiện 1 gai lớn trên mấu lồi hình chùy.







9. Loài Nhện Belisana curva

Nhen-Belisana-curva
Loài Belisana curva được phát hiện ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là loài sống ở bụi rậm, ở độ cao 440 mét so với mặt biển. Loài này giống với loài Belissana xiangensis Yao & Li, 2013 nhưng khác loài Belissana xiangensis do xuất hiện một tấm chắc lớn hóa kitin trên bề mặt của hành, và một đôi gai cong sắc nhọn trên đầu giáp đầu ngực.


10. Loài Nhện Belisana decora

Nhen-Belisana-decora
Loài Belisana decora được phát hiện ở vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống ở rừng thứ sinh, ở độ cao 284 mét so với mặt biển. Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc giống Belisanna bởi sự có mặt của những chiếc gai cong trên xúc biện con đực và xuất hiện các u lồi hóa kitin cứng trên bộ phận sinh dục cái.

11. Loài Nhện Belisana halongensis 

Nhen-Belisana-halongensis
Loài Belisana halongensis được phát hiện ở động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Belisanna bởi sự có mặt của mấu lồi hình ngón tay trên hành của xúc biện; trên giáp đầu ngực mặt trên có 1 tấm hóa kitin cứng hình ca vát, mặt dưới 1 tấm hình cái bát.

12. Loài Nhện Belisana phungae

Nhen-Belisana-phungae
Loài Belisana phungae phát hiện được ở động Nà Phòng, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Belisanna bởi sự xuất hiện của các tấm la men lớn, dẹt, phẳng trên bề mặt xúc biện con đực; và cửa ngoài của cơ quan sinh dục cái có cấu trúc dạng túi

13. Loài Nhện Belisana pisinna 

Nhen-Belisana-pisinna
Loài Belisana pisinna phát hiện được ở động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này có kích thước cơ thể rất nhỏ; giáp đầu ngực tròn; có các tấm bên tạo hình tam giác trên bề mặt xúc biện; hành không có gai.




14. Loài Nhện Belisana triangula

Nhen-Belisana-triangula
Loài Belisana triangula phát hiện được ở hang La, vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự loài Belisanna phurua Huber, 2005 nhưng khác loài Belisanna phurua bởi khoảng cách giữa các mấu lồi trên xúc biện con đực lớn; hành có hình lưỡi dao; có hai vuốt lớn, cong, mọc đối xứng trên hàm.



15. Loài Nhện Belisana vietnamensis

Nhen-Belisana-vietnamensis
Loài Belisana vietnamensis phát hiện được ở vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Loài này phân bố ở rừng tự nhiên, ở độ cao 386 mét so với mặt biển. Loài này có một cặp mấu lồi nhỏ trên chân kìm con đực, và một đôi túi dẹt trên cửa ngoài của bộ phận sinh dục cái.

16. Loài Nhện Belisana zhengi

Nhen-Belisana-zhengi
Loài Belisana zhengi phát hiện được ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Loài này phân bố ở sinh cảnh bụi rậm, ở độ cao 440 mét so với mặt biển. Loài này không có các mấu lồi trên chân kìm, nhưng có các mấu lồi dài màu đen thẫm xuất hiện trên hành của xúc biện con đực. 





17. Loài Nhện Khorata dangi

Nhen-Khorata-dangi
Loài Khorata dangi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự loài Khorata dongkou Yao & Li, 2010 nhưng khác loài Khorata dongkou do hành phân ra 2 lớp; có các vảy nhỏ trên chân kìm; có 2 gai hình lưỡi câu trên xúc biện con đực.



18. Loài Nhện Khorata huberi

Nhen-Khorata-huberi
Loài Khorata huberi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Khorata bởi sự có mặt của một cặp mấu lồi hình củ ấu ở hàm trên con đực; có 4 mấu lồi ở mặt dưới của bụng con cái.

19. Loài Nhện Khorata protumida

Nhen-Khorata-protumida
Loài Khorata protumida phát hiện được ở hang Bảy Tầng, vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này giống loài Khorata khammouan Huber, 2005 nhưng khác loài Khorata khammouan do có các tấm la mel tạo hình vòm như tổ tò vò ở hàm dưới con đực; có 4 mấu lồi ở hàm trên; cửa ngoài bộ phận sinh dục cái hóa kitin cứng, nổi rõ thành bờ.

Bài và ảnh Phạm Đình Sắc (Photos by Pham Dinh Sac). Theo http://www.vast.ac.vn/

Zootaxa 3909 (1): 001–082

Pholcid spiders (Araneae: Pholcidae) from northern Vietnam, with descriptions of nineteen new species

ZHIYUAN YAO, DINH SAC PHAM, SHUQIANG LI

Abstract 
Five genera and 26 species belonging to two subfamilies Arteminae Simon, 1893 (one genus and one species) and Pholcinae C.L. Koch, 1850 (four genera and 25 species) are reported from northern Vietnam, including 19 new species of three genera: Belisana babensis sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. cheni sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. clavata sp. nov. (male; Ha Giang), B. curva sp. nov. (male; Vinh Phuc), B. decora sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. halongensis sp. nov. (male; Quang Ninh), B. phungae sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. pisinna sp. nov. (male; Quang Ninh), B. triangula sp. nov. (male; Phu Tho), B. vietnamensis sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. zhengi sp. nov. (male; Vinh Phuc), Khorata dangi sp. nov. (male; Bac Kan), K. huberi sp. nov. (male, female; Bac Kan), K. protumida sp. nov. (male, female; Quang Binh), Pholcus bifidus sp. nov. (male, female; Quang Binh), P. caecus sp. nov. (male, female; Quang Binh), P. hochiminhi sp. nov. (male, female; Quang Ninh), P. phami sp. nov. (male, female; Bac Kan), and P. zhaoi sp. nov. (male; Ninh Binh). One genus Khorata Huber, 2005 and five species Belisana schwendingeri Huber, 2005, B. sepaku Huber, 2005, Khorata digitataYao & Li, 2010, Leptopholcus podophthalmus (Simon, 1893), and Pholcus bangfai Huber, 2011 are reported from Vietnam for the first time. Additional new records are given for two species Leptopholcus huongson Huber, 2011 and Physocyclus globosus (Taczanowski, 1874).

Keywords: Taxonomy, morphology, new record, Arteminae, Pholcinae, Southeast Asia

For final version: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3909.1.1
http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03909p082f.pdf