Hiển thị các bài đăng có nhãn Ninh Thuan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ninh Thuan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 22 tháng 1, 2015

Sinh vật mới không ở đâu xa

Curcuma-pambrosima
TTO - Phát hiện trong vườn nhà mình có một cây lan lạ, anh Nguyễn Phong (Hà Nội) liên hệ với các chuyên gia về lan. Thật bất ngờ khi sau đó cây lan này được xác định là một loài mới...

Việc phát hiện loài mới không hề đơn giản vì chúng thường phân bố ở những nơi xa xôi hẻo lánh khó tiếp cận như nơi núi cao, rừng sâu, vực thẳm... Tuy nhiên đôi khi có những loài được phát hiện một cách rất tình cờ như từ một mẩu tin du lịch, tồn tại ngay trước mắt chúng ta như cây trồng trong vườn hoặc được bán đầy chợ. Có loài lại tình cờ được phát hiện... trong bảo tàng khi mẫu vật đã được lưu giữ hơn thế kỷ.

Dưới đây là một số loài được phát hiện theo kiểu tình cờ như thế:

Cá "mù" ẩn

ca-mu-an-Schistura-mobbsi

Năm 2002, anh Leisher thuộc Ủy ban bảo vệ thiên nhiên ở Mỹ vô tình đọc được một đoạn ngắn đề cập đến một hang động có dòng suối ngầm ở Thái Nguyên (Việt Nam) trong cuốn hướng dẫn du lịch cũ “Lonely Planet Vietnam”. Vốn là người thích lặn và tò mò, Leisher - khi đó đang ở Việt Nam, đã rủ người bạn Jerry Mobbs lên Thái Nguyên khám phá.

Tuy nhiên lần đó anh đã thất vọng vì dòng suối trong hang có mực nước rất nông, không thể lặn được. Hang động này có vẻ như chưa từng có ai đặt chân đến và cũng không mang dấu hiệu của sự sống.

Hai người sau đó quay lại cùng cây vợt bắt côn trùng với ý định kiểm tra xem có sinh vật nào sinh sống dưới dòng suối ngầm trong hang động không. Thật kỳ diệu, họ đã bắt được một con cá mù, hoàn toàn không có mắt và không có sắc tố. Có lẽ môi trường sống không có ánh sáng trong hang động đã tạo ra chúng như vậy.

Mới nhìn qua, họ đoán đây là loài cá hiếm. Tuy nhiên phải mất 10 năm, Leisher mới thu thập đầy đủ tư liệu và công bố đây là loài cá mới với tên khoa học là Schistura mobbsi.

Schistura mobbsi có chiều dài cơ thể chỉ nhỉnh hơn 3cm. Mặc dù là cá "mù", chúng vẫn có thể sinh sống bình thường và trốn tránh kẻ thù nhờ khả năng cảm biến ở mõm và đầu. Đây chính là một bằng chứng cho sự thích nghi, tiến hoá của sự sống ở những môi trường khắc nghiệt.

Giáng hương Ninh Thuận

giang-huong-phong-Aerides-phongii

Năm ngoái anh Nguyễn Phong (Hà Nội) phát hiện trong vườn nhà mình có một cây lan lạ đang nở hoa. Một chuyên gia về hoa lan sau đó đã nhận nhầm đây là một loài lan tóc tiên do hình dạng lá của nó rất giống một loài lan trong chi Holcoglossum.

Điều thú vị bất ngờ xảy ra khi ông Leonid Averyanov - chuyên gia người Nga về lan Việt Nam, kết luận rằng nó là một loài mới của chi lan giáng hương, và đặt tên là Aerides phongii. Nó mang đặc điểm lá của chi lan tóc tiên và hoa của chi lan giáng hương.

Theo anh Phong, cây lan này được anh mua lại từ miền Nam và có lẽ nó không mới mẻ gì đối với một số vườn lan tư nhân. Lần tìm theo dấu vết, các nhà khoa học phát hiện ra gốc gác tự nhiên của loài lan này ở Ninh Thuận.

Chuồn chuồn "quên lãng"

chuon-chuon-quen-lang-Indocypha-neglecta

Thật khó có thể tưởng tượng được rằng người ta có thể phát hiện ra sinh vật mới khi mà mẫu vật đã bị bỏ quên hơn một thế kỷ.

Matti Hämäläinen - Trung tâm Đa dạng sinh học tự nhiên Hà Lan, đã tìm thấy mẫu vật lưu trữ của một loài chuồn chuồn ở Bảo tàng lịch sử tự nhiên Quốc gia Pháp được thu thập từ năm 1895 tại miền bắc Việt Nam.

Thực tế thì mẫu vật này không còn được nguyên vẹn và khó có thể được chấp nhận công bố loài mới nếu không có bản thảo của René Martin cũng được ghi chép vào thời gian đó.

Khi ấy Martin đã định loại nhầm mẫu vật nói trên thành một loài chuồn chuồn châu Á và có ý định công bố. Tuy nhiên Thế chiến I xảy ra và bản thảo bị thất lạc khi Martin chưa kịp gửi cho nhà xuất bản. Đến năm 2013, vô tình bản thảo đó lại được tìm thấy ở Florida, nó được quét lại và gửi về Bỉ.

Hämäläinen đã may mắn khi có được các tư liệu này, và đặt tên loài chuồn chuồn trên là Indocypha neglecta cũng vì lý do chúng bị lãng quên trong thời gian lâu như vậy.

Cho đến nay người ta vẫn chưa gặp lại chúng ngoài tự nhiên, khu vực phân bố có lẽ là vùng Sông Chảy thuộc tỉnh Lào Cai.

Củ giờ

cu-gio-Curcuma-pambrosima

Có lẽ người dân ở miền Trung không xa lạ với cây củ giờ dùng lấy hoa, lá nấu canh. Vào mùa thu hoạch, chúng được bày bán đầy trong các chợ ở khu vực này.

Đây là loài thực vật thấp, thuộc họ dong riềng, có hoa vào tháng 8, tháng 9 hàng năm với các màu tím, vàng sặc sỡ. Chúng được trồng phổ biến trong vườn nhà dân để lấy lá non hoặc hoa làm rau ăn do có chứa tinh dầu. Ngoài ra, củ của chúng được nghiền thành bột để làm bánh vào những dịp đặc biệt như tết Nguyên đán.

Quen thuộc là vậy, được sử dụng lâu đời là vậy nhưng khoa học vẫn chưa biết chính xác nó là gì. Phải đến năm 2010, ông Lý Ngọc Sâm ở Viện Sinh học nhiệt đới và cộng sự mới mô tả chúng và công bố loài mới cho khoa học với tên Curcuma pambrosima.

Đa số các loài cây trong họ dong riềng đều có thể làm thực phẩm hoặc làm dược liệu. Lý do chúng chưa được mô tả mặc dù được trồng ở rất nhiều nơi có thể là vì chúng hiếm thấy ngoài tự nhiên.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 1,9 triệu loài sinh vật đã được các nhà khoa học mô tả, trong đó Việt Nam có khoảng gần 19.000 loài động vật và gần 14.000 loài thực vật. Tuy nhiên theo ước tính, vẫn còn khoảng 7,5 triệu loài sinh vậtchưa được con người biết đến.
Năm 2014, có 126 loài mới được phát hiện ở Việt Nam. Việc này có ý nghĩa quan trọng trong cuộc khủng hoảng đa dạng sinh học hiện nay khi mà mỗi năm Trái đất đang mất đi khoảng hơn 10.000 loài, nhiều trong số đó đã vĩnh viễn biến mất trước khi được phân loại.
PHẠM VĂN THẾ (Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam)

Thứ Hai, 19 tháng 1, 2015

Phát hiện hai loài Nghệ mới ở Việt Nam

Nghe-sa-huynh-Curcuma-sahuynhensis
 Trong quá trình hợp tác nghiên cứu đa dạng họ Gừng (Zingiberaceae), nhóm các nhà nghiên cứu Viện Sinh học Nhiệt đới và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam kết hợp với các nhà nghiên cứu Vườn thực vật Singapore vừa công bố hai loài Nghệ mới Curcuma aridaC. sahuynhensis
Hai loài nghệ này được phát hiện từ các năm 2009 – 2010 ở tỉnh Ninh Thuận và tỉnh Quảng Ngãi, là các tỉnh ven biển miền Trung Việt Nam. Dựa vào những mô tả chi tiết các đặc điểm hình thái, và phân tính giải phẩu học của các mẫu thu thập được cho thấy có sự khác biệt rõ ràng so với các loài Nghệ đã được biết từ trước đến nay và là cơ sở để mô tả hai loài Nghệ mới cho khoa học thuộc chi phụ Ecomata Škorničk. & Šída f. Kết quả đã được công bố trên tập chí chuyên ngành Phytotaxa, tập 192, số 3, trang 181 – 189, năm 2015. 

Loài mới Nghệ khô hạn Curcuma arida Škorničk. & N.S.Lý là loài thân cỏ nhỏ, cao khoảng 0,5 m. Cây trưởng thành có khoảng 3 – 4 lá, phiến lá hình trứng đến hình elip, cỡ 35 × 13 cm, mũi lá có lông măng; cuống lá dài 1 - 9 cm; lá bẹ cỡ 5 mm. Cụm hoa mọc giữa bẹ lá, cỡ 10 - 20 cm × 4 - 6 cm, mang 15 - 35 lá bắc, không có lá bắc bất thụ; cuống cụm hoa cỡ 20 × 7 mm. Lá bắc hình trứng rộng hay hẹp đến hình mác, hơi trắng đến xanh sáng ở nữa dưới gốc, chuyển sang màu hơi tía và xòe ra ở phần mũi. Lá bắc con màu trắng, hơi hồng tía ở mũi, đôi khi không có lá bắc con. Đài dài 10 - 13 mm, hơi hồng đậm. Ống tràng dài 2,2 - 3 cm, gốc hình trụ hẹp, đầu hình phễu. Các cánh tràng (các thùy bên) hình trứng hẹp, lõm, trắng hay hơi tía ở mũi. Cánh môi hình trứng ngược, màu kem ở gốc, vàng sáng ở mũi. Bao phấn có cựa dài 0,5 mm, dạng sợi, hình móc câu; trung đới 1 - 1,5 mm, màu vàng; mào bao phấn dài 5 mm. 2 vòi nhụy lép dài 3 mm. Bầu noãn 2 - 3 × 2 mm, ba ngăn. Quả nang, trắng. Hạt hình trứng, màu trắng kem đến nâu sáng. 

nghe-kho-han-Curcuma-arida
Cụm hoa Nghệ khô hạn Curcuma arida Škorničk. & N.S.Lý (Ảnh Lý Ngọc Sâm).

Cho đến nay, loài C. arida chỉ mới ghi nhận phân bố tại Vườn Quốc Gia Núi Chúa, tỉnh Ninh Thuận, một trong những nơi khô hạn nhất Việt Nam. Chúng mọc ở các khe đá của các trảng trống hay bên dưới thảm thực vật cây bụi của rừng bán khô hạn Núi Chúa ở cao độ khoảng từ 35 đến 120 m so với mực nước biển. Nơi có nhiều loài cây bụi, cây gai mọc chung, nhất là cây thân mọng nước họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Mùa ra hoa từ tháng 9 đến tháng 11, mùa quả từ tháng 10 đến tháng 12.

Cu-gio-Curcuma-pambrosima
So sánh với loài Nghệ Curcuma pambrosima Škorničk. & N.S.Lý (Ảnh Lý Ngọc Sâm).

Nghệ khô hạn Curcuma arida Škorničk. & N.S.Lý có đặc điểm hình thái giống với loài Nghệ ăn được (Curcuma pambrosima Škorničk. & N.S.Lý), một loài mới được phát hiện và mô tả năm 2010 tại tỉnh Phú Yên, nhưng khác với loài C. pambrosima bởi có bao phấn màu trắng với trung đới có màu vàng sáng, và cựa bao phấn keo dài thành hai sợi hình móc. Hơn nữa, loài C. arida cũng rất giống với loài Nghệ C. vitellina Škorničk. & H.Ð.Trần nhưng khác biệt với loài này bởi có phiến lá nhẵn như da, cụm hoa chỉ mang 15 - 35 lá bắc có màu xanh đến trắng ở gốc từ từ chuyển sang hồng ở đầu lá bắc. 

Nghe-Curcuma-vitellina
So sánh với loài Nghệ Curcuma vitellina Škorničk. & H.Ð.Trần (Ảnh Lý Ngọc Sâm).

Loài mới Nghệ sa huỳnh Curcuma sahuynhensis Škorničk. & N.S.L là loài thân cỏ nhỏ, cao khoảng 0,8 m. Cây trưởng thành có đến 10 lá, 1 - 2 lá khi cây ra hoa, phiến lá hình trứng đến hình elip, cỡ 20 - 38 × 9 - 16 cm; cuống lá dài cỡ 2 - 20 cm; lá bẹ cỡ 5 mm. Cụm hoa mọc ở bên, cạnh bên thân, cỡ 6 - 15 × 5 - 9 cm; mang 10 - 23 lá bắc, không có lá bắc bất thụ; cuống cụm hoa cỡ 6 - 16 × 8 mm. Lá bắc hình trứng rộng hay hẹp đến hình thoi, trắng đến hơi xanh ở nữa dưới gốc, biến đổi từ hơi đỏ đến đỏ san hô ở phần mũi, mũi lá bắc nhọn và xòe ra. Lá bắc con màu trắng mờ, đôi khi không có lá bắc con. Đài dài 14 - 19 mm, trắng mờ hay hơi hồng. Ống tràng dài 1,8 - 2,8 cm, hình trụ hẹp phần gốc trên bầu noãn, đầu hình phễu. Hoa dài 3,5 - 4,5 cm. Các cánh tràng hình trứng đến tam giác, lõm, trắng hay hơi vàng biến đổi hơi đỏ hay hồng, có lông hay không. Cánh môi hình trứng ngược, trắng kem ở gốc, vàng đậm ở mũi, với dãy màu vàng cam dọc ở giữa. Bao phấn hình chữ L, vàng đến vàng cam, có lông tuyến dày, cựa bao phấn to và kéo dài 3,5 - 5,5 mm; mào bao phấn dài 6 - 7 mm. 2 vòi nhụy lép dài 4 - 6 mm. Bầu noãn 3 - 5 × 2 - 4 mm, ba ngăn. Quả nang hình cầu. Hạt hình trứng ngược, màu nâu sáng. 

Curcuma sahuynhensis chỉ mới ghi nhận phân bố ở các kiểu rừng trên đất thấp ven biển thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, nhất là các xã Phổ Thạnh và xã Phổ Khánh. Loài Nghệ mới này mọc trên đất xỏi đá nghèo dinh dưỡng của các trảng trống, rừng cây bụi thấp và rừng trồng Keo/Bạch đàn ở cao độ khoảng từ 95 đến 183 m so với mực nước biển. Mùa ra hoa từ tháng 8 đến tháng 10, mùa quả từ tháng 9 đến tháng 11. Lá non và cụm hoa non của loài này được người dân địa phương sử làm thực phẩm ăn như rau.

Nghe-sa-huynh-Curcuma-sahuynhensis
Cụm hoa Nghệ sa huỳnh Curcuma sahuynhensis Škorničk. & N.S.Lý (Ảnh Lý Ngọc Sâm).

Nghệ Sa huỳnh Curcuma sahuynhensis Škorničk. & N.S.Lý có đặc điểm hình thái giống với Nghệ hoa vàng (Curcuma xanthella Škorničk. & H.D. Trần), một loài mới phát hiện và mô tả năm 2013 ở Bình Thuận và Lâm Đồng, nhưng khác với loài Curcuma xanthella bởi có hình dạng và kích thước cụm hoa trên mặt đất lớn hơn (6 - 15 × 5 - 9 cm), mang 10 - 23 lá bắc với phần đầu lá bắc hiện rõ sắp xếp trên trục phát hoa kéo dài, kích thước hoa nhỏ hơn (dài 3,5 - 4,5 cm), cựa bao phấn to và ngắn hơn (4 mm), mào bao phấn dài hơn (6 - 7 mm), và vòi nhụy lép ngắn hơn (5 - 6 mm).

Nghe-Curcuma-xanthella
So sánh với loài Nghệ C. xanthella Škorničk. (Ảnh Lý Ngọc Sâm).

Trên thế giới, Chi Nghệ (Curcuma) có ít nhất khoảng 120 loài và được chia thành 3 chi phụ Curcuma, EcomataHitcheniopsis. Chi nghệ phân bố rộng khắp Nam và Đông Nam Á, chỉ một số ít loài phân bố rộng đến Trung Quốc, Úc và Nam Thái Bình Dương. Thành phần loài đa dạng nhất của chi Nghệ tập trung ở vùng khí hậu mưa mùa Châu Á từ Ấn Độ đến Đông Dương. Nhiều loài Nghệ có giá trị kinh tế, dược liệu, có giá trị quan trọng trong văn hóa và làm cảnh, trong đó Nghệ (Curcuma longa) là loài được sử dụng nhiều nhất, làm gia vị và màu thực phẩm, mỹ phẩm, và dược liệu. 

Nghiên cứu trước đây đã ghi nhận khoảng 19 loài Nghệ ở Việt Nam. Từ năm 2010 đến nay, 6 loài Nghệ mới cho khoa học đã được phát hiện ở nước ta, gồm 4 loài thuộc chi phụ Ecotama (C. vitellina Škorničk. & H.Ð.Trần, C. pambrosima Leong-Škorničková & Lý, C. newmanii Škorničk., C. xanthella Škorničk.), và 2 loài thuộc chi phụ Hitcheniopsis (Nghệ lùn Curcuma pygmaea Škorničk. & Šída f., Nghệ lê ô nít C. leonidii Leong-Škorničková & Lưu). Với 2 loài Nghệ mới vừa công bố nâng tổng số loài Nghệ ở tìm thấy ở Việt Nam lên đến khoảng 27 loài, và cho thấy tính đa dạng cao về thành phần loài Nghệ ở nước ta.

Biên tập Lý Ngọc Sâm 
(Email: lysamitb@gmail.com), Viện Sinh học Nhiệt Đới
Chuyên gia phân loại thực vật, đặc biệt quan tâm đến các loài trong họ Dong, Riềng (Zingiberaceae) ở Việt Nam và các vùng lân cận 

Phytotaxa 192 (3): 181–189

Curcuma arida and C. sahuynhensis, two new species from subgenusEcomata (Zingiberaceae) from Vietnam

JANA LEONG-ŠKORNIČKOVÁ, NGỌC-SÂM LÝ, QUỐC BÌNH NGUYỄN