Hiển thị các bài đăng có nhãn Biodiversity. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Biodiversity. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

Rừng Việt Nam đang có xu hướng đi lên sau nhiều năm phục hồi



Gần 5 thập niên kể từ khi các cuộc tấn công vào rừng phía nam của Việt Nam lên tới đỉnh điểm vào năm 1967, rừng của Việt Nam đã có những bước đi vững chắc để phục hồi.



  •  Năm 1986 Việt Nam bắt đầu quá trình Đổi Mới, một nền kinh tế thị trường có định hướng được chuyển từ việc quản lý rừng từ sự kiểm soát hoàn toàn của Chính phủ tới việc tiếp quản bởi nhiều bên liên quan từ Các tổ chức phi Chính phủ, Các đơn vị kinh doanh,Các cộng đồng địa phương và ban quản lý.
  • Việt Nam là một nước thí điểm về chương trình REDD vào năm 2008 và được sự ủng hộ của Liên hợp Quốc và Quỹ Đối tác Carbon rừng cho các nỗ lực về tái phục hồi rừng và giảm phát thải khí nhà kính.
  • Việc tái phục hồi rừng đóng vai trò như một phần của chiến lược lớn hơn nhằm bảo vệ quốc gia khỏi biến đổi khí hậu vốn đang trở thành một phần của nền tảng phát triển Quốc gia tại Việt Nam

Thế giới đang chuyển dần đến một kỉ nguyên đạt ngưỡng đáng lo ngại với lượng 400 phần triệu khí CO2 trong không khí. Việc tích trữ Cacbon và Phục hồi rừng đang trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Tại Đông Nam Á, 15 năm qua Việt Nam đang đạt được thành công lớn trong việc phục hồi lại môi trường sống tự nhiên đã bị mất và khôi phục những cánh rừng bị nguy hại. Tuy nhiên thậm chí ngay cả khi một quốc gia có độ che phủ rừng tăng dần lên thì vấn đề lớn hơn là phá rừng trên toàn cầu vẫn không suy giảm.

Đã gần 50 năm kể từ khi xảy ra những cuộc tấn công của vào những cánh rừng phía Nam Việt Nam, đạt đỉnh điểm vào năm 1967. Chỉ trong 1 năm, Hoa Kỳ đã rải hơn 5 triệu galon chất diệt cỏ, bao gồm cả chất độc màu da cam lên trên một vùng lãnh thổ rộng hơn 600.000 hecta. Họ đã cố gắng để loại bỏ sự che phủ của những cánh rừng - là nơi cung cấp chỗ ẩn nấp cho quân đội Bắc Việt, cũng như phá hủy các loại cây trồng. Mức độ nguy hại gây ra trong suốt chiến dịch đó thật khó để có thể xác định. Ước tính có những nơi độ che phủ của rừng bị ảnh hưởng từ 14-44% với những thiệt hại nghiêm trọng nhất gây ra đối với những cánh rừng ngập mặn ven biển.

Tại những khu vực có rừng chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của chất diệt cỏ trong chiến tranh Việt Nam, những cánh đồng cỏ nhanh chóng mọc lên. Những khu vực này được các nhà nghiên cứu từ đại học Huế của Việt Nam và Đại học Queenland của Australia kết luận rằng sẽ không có khả năng có thể phục hồi trong thời gian ngắn nếu không có sự can thiệp của con người.

Thậm chí tại những khu vực nằm ngoài vùng tàn phá của chiến tranh, sự phục hồi của rừng cũng là một quá trình rất bấp bênh và gặp nhiều trở ngại. Độ che phủ của rừng đã suy giảm rất nhanh trong suốt thời gian nửa sau của thế kỉ 20, từ 43% trong đầu những năm 1940 đến 17% cuối những năm 1970, theo Rodolphe De Koninck, nhà Địa lý học và tác giả của cuốn : “Nạn phá rừng tại Việt Nam” viết năm 1999.

Một loài Lan đầm lầy (Bromheadia finlaysoniana) ở một vùng trảng cỏ ở Quảng Nam. Photo by Pham VT
Sự phá huỷ đã gây ra sự suy thoái rừng, do đất nước muốn xây dựng lại từ khai thác gỗ, canh tác nương rẫy và lấn chiếm đất đai. Đến năm 1999, các nhà phân tích nước ngoài ước tính độ che phủ rừng ở Việt Nam chỉ còn 10%, mặc dù các nhà nghiên cứu tại Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam ước tính khoảng 30%.

Những sáng kiến mới


Mặc dù chỉ mang tính ước lượng nhưng tương lai của những cánh rừng tại Việt Nam khi đó đã trông thấy rất ảm đảm vào giữa những năm 1980 và Chính phủ đã bắt đầu chú ý đến điều đó.

Vào năm 1986, cả nước bắt đầu chuyển hướng tới một nền kinh tế thị trường có định hướng, được biết đến như Quá trình Đổi Mới. Trong khuôn khổ của quá trình này, việc quản lý rừng cũng được chuyển từ việc kiểm soát hoàn toàn của Chính phủ sang các hình thức tiếp cận nhiều thành phần bao gồm các tổ chức Phi Chính phủ, các doanh nghiệp, cộng đồng địa phương và các Ban quản lý.

Rừng tại Việt Nam ngay lập tức được phân thành 3 loại: Rừng đặc dụng (bao gồm các Vườn quốc gia, các Khu bảo tồn thiên nhiên và Các khu vực di tích lịch sử), Rừng phòng hộ (rừng tại các lưu vực sông, Rừng ngập mặn ven biển) và Rừng sản xuất (rừng phục vụ sản xuất công nghiệp). Sự phân loại này vẫn được duy trì cho đến bây giờ.

Theo ông Tô Xuân Phúc – một nhà phân tích đến từ Việt Nam làm việc cho tổ chức phi lợi nhuận Forest Trend tại Hoa Kỳ thì một trong những phần quan trọng của quá trình này là chính sách giao quyền kiểm soát rừng.

“Theo chính sách này thì 1.4 triệu hộ gia đình sẽ được giao quyền kiểm soát 3.4 triệu hecta đất rừng” Ông Phúc giải thích trong cuộc phỏng vấn với Mongabay. "Mỗi hộ gia đình như vậy sẽ sở hữu từ 1 đến 3 hecta đất rừng từ sự phân bổ này của Chính phủ”

Điều này mang đến sự khích lệ cho các cá nhân quan tâm tới đất đai của họ và những tác động sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả hai phía con người và cây trồng.

Ngoài việc tiến hành chuyển giao quyền quản lý, Chính phủ Việt Nam cũng bắt đầu thông qua một loạt các điều luật quan tâm đến chất lượng rừng và hỗ trợ việc tái trồng rừng tại thời điểm chuyển giao của thế kỷ này. Chính phủ cũng đã bắt đầu việc mở rộng mối quan hệ với các đối tác quốc tế nhằm mục đích bảo vệ môi trường.

Chương trình của Liên hợp quốc về giảm phát thải khí nhà kính từ việc phá rừng và suy thoái rừng ở các quốc gia đang phát triển (gọi tắt là REDD+) là một nỗ lực quốc tế được dành riêng để ngăn chặn nạn phá rừng và biến đối khí hậu đã xem Việt Nam như một trong những cộng tác viên đầu tiên của họ. Việt Nam đã trở thành một đất nước thí điểm chương trình REDD vào năm 2008. Ngay sau đó, Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ quốc tế từ liên hợp quốc và Quỹ đối tác về Carbon rừng thuộc Ngân hàng Thế giới để thực hiện những nỗ lực nhằm tái phục hồi rừng và giảm phát thải khí nhà kính.

Một loài lan tuyệt đẹp trong một khu rừng ở Quảng Bình. Photo by Pham VT
Bốn năm sau đó, năm 2012 tại COP 18 Việt Nam đã dành được rất nhiều sự hỗ trợ quốc tế, tham gia kí vào tuyến bố chúng với Na Uy nhằm nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính do phá rừng và tăng cường loại bỏ Cacbon thông qua việc tái trồng rừng.

“[Chính phủ Việt Nam] đã nhận ra những ảnh hưởng mà họ gặp phải và hiểu rằng những vấn đề kéo theo sau những ảnh hưởng đó” Điều phối viên Lecdecq từ chương trình Greater Mekong forest của WWF nói. “Họ cũng đang tiếp tục nỗ lực xây dựng năng lực của ngành Lâm nghiệp nhằm hỗ trợ cho ngành công nghiệp gỗ của đất nước mình”

Những nỗ lực quốc tế và địa phương nhằm bảo vệ các cánh rừng hiện có và trồng lại trên những vùng mất rừng đã giúp Việt Nam định hướng tốt hơn cho tương lai, tuy nhiên đất nước vẫn còn rất nhiều thách thức để đi lên phía trước.

Những câu chuyện thành công


Tính đến năm 2011 tổ chức Forest Trend đã nhận thấy rằng độ che phủ rừng ở Việt Nam đã gần bằng so mới mức trước chiến tranh bao gồm tất cả cả 3 loại rừng chiếm 40.2 % tổng diện tích đất. Cùng với đó, Tổ chức Nông Lương của Liên hợp quốc liên tục liệt Việt Nam vào những nước có diện tích rừng mở rộng hàng năm trong khoảng thời gian từ 1990-2005.

Tại những khu vực từng chịu ảnh hưởng một phần của chất diệt cỏ trong chiến tranh Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một số thành công trong việc gây trồng một số loài ngoại lai như Bạch đàn, Keo hay các Thông để tăng độ phì nhiêu của đất và tạo bóng râm cho phép các loài cây bản địa có thể phát triển. Phần lớn diện tích đất được cấp cho các hộ gia đình trong suốt quá trình phân cấp quản lý đất rừng trong những năm 1980 nay đã được sử dụng để trồng Keo.

“Độ che phủ rừng đang ngày càng được gia tăng và các cánh rừng trồng sở hữu bởi các hộ gia đình là mấu chốt của việc tái phục hồi” ông Phúc. Đại diện Forest Trend cho biết thêm.

Sự phát triển nhanh chóng của các loài ngoại lai cũng đã mang lại nhiếu nguồn thu cho các chủ sở hữu đất rừng. Tuy nhiên việc trồng duy nhất 1 loài sẽ không mang lại được sự Đa dạng sinh học và bảo vệ nguồn nước so với việc trồng các loài cây bản địa - Nhiều nghiên cứu đang nâng mức độ quan trọng của những áp lực mà môi trường phải gánh chịu khi mà biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng tăng.

Loài Bách tán đài loan kín ở Lào Cai. Photo by Pham VT.
Việc xem quá trình trồng rừng như là một chiến lược để bảo vệ Đất nước khỏi những tác động của biến đổi khí hậu đang trở thành một phần nền tảng phát triển của Việt Nam với những giá trị quí giá đặt vào việc trồng các loài cây ngập mặn nhằm chống lại nước biển dâng lên và sự gia tăng cường độ của các cơn bão nhiệt đới.

Một trong những dự án về rừng ngập mặn rất thành công là dự án tại Khu dự trữ sinh quyển Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm ở phía Đông Nam của thành phố Hồ Chí Minh. Đây là nơi được UNESCO công nhận là di sản thế giới vào năm 2000, đã gần như khôi phục chất lượng hoàn toàn ở các khu vực bị huỷ hoại trước đó. Thành tựu này đã được UNESCO ca ngợi trên Website của họ. Phần lớn những thành công này có được là do những nỗ lực đóng góp vào việc trồng lại các loài cây ngập mặn của các nhà nghiên cứu đến từ Đồng bằng sông Cửu Long và những cơ hội đến từ dịch vụ du lịch sinh thái đã kết nối khách du lịch và những người dân bản địa quay lại nơi đây.

Nhìn thấy thành công của dự án tại Cần Giờ, ngày càng có nhiều sự quan tâm từ chính quyền trung ương tại Hà Nội nhằm tăng dần sự nhận thức của người dân về vấn đề biến đổi khí hậu và những nỗ lực ứng phó biến đổi khí hậu bao gồm cả việc trồng lại rừng từ các thành phố đến các vùng nông thôn.

Ông Phúc rất đồng ý về việc Chính phủ Việt Nam đang nhấn mạnh tầm quan trọng của Biến đổi khí hậu tuy nhiên không phải đợi đến khi có hậu quả mới hành động.

“Đối với những chương trình bảo vệ Rừng đầu nguồn, Chính phủ Việt Nam đang dành khá nhiều tiền bạc vào vấn đề này. Tuy nhiên quy mô của các dự án vẫn còn nhỏ” ông Phúc nói thêm.

“Vẫn còn rất nhiều hành động được đề ra với yêu cầu cao tuy nhiên chúng tôi vẫn chưa thực sự thấy nhiều hành động được thực hiện cụ thể”

Mặc dù có nhiều dự án đang được thực hiện và nhận thức của người dân cũng đang được nâng lên nhưng nhu cầu về các sản phẩm từ gỗ tại Việt Nam vẫn giữ ở mức cao.

Những thách thức đối với việc phục hồi rừng


Mặc dù việc bảo vệ môi trường là quan trọng và đang được ưu tiên cho các khu rừng. Việt Nam cũng không thể nào để ngành công nghiệp gỗ của họ chết yểu. Thay vào đó Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực tìm kiếm các biệp pháp quản lý tốt nhất nhằm cho phép việc khai thác gỗ bền vững trong các khu rừng sản xuất và tiếp tục gia tăng việc làm và kích thích kinh tế. Hầu hết những cánh rừng lâu năm còn lại ở Việt Nam hiện đang được bảo vệ tuy nhiên nhu cầu về gỗ đang đặt các cánh rừng già tại Campuchia và những nơi khác vào nguy cơ bị đe dọa.

Theo báo cáo của Vietnam News trong năm nay thì chỉ trong giai đoạn 2010-2015, độ che phủ của rừng đã giảm gần 6% hay mất hơn 300.000 ha rừng. Việc mất đi độ che phủ là do sự khó khăn trong việc ngăn chặn nạn khai thác gỗ trái phép và việc khai thác tài nguyên không có định hướng. Hai vấn đề này được ghi nhận tại Hội thảo quản lý rừng quốc gia được tổ chức ở Việt Nam vào tháng 9 năm 2016.

Ông Phúc tin rằng các chủ rừng nhỏ đang mở ra con đường phía trước cho việc phục hồi rừng. Hiện nay tại Việt Nam các công ty nhà nước đang kiểm soát phần lớn đất rừng. Theo ông Phúc thì khoảng 146 công ty nhà nước đang quản lý khoảng 2 triệu hecta rừng trong khi đó khoảng 3.4 triệu hecta rừng đang nằm trong tay của các chủ rừng nhỏ.

Theo ông Phúc thì “có rất nhiều vấn đề nghiêm trọng xảy ra với các công ty này bởi vì rất nhiều trong số đó đang sử dụng nguồn đất rừng một cách không hiệu quả”. “Chúng tôi vẫn đang vận động để xóa bỏ các công ty này và chuyển đổi đất rừng cho các cộng đồng địa phương.”

Hội thảo về việc Phân chia rừng đồng đều mới được đưa ra là một kế hoạch đề xuất bởi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn của Việt Nam nhằm giảm mất rừng ở Khu vực Tây Nguyên. Chi phí cho việc thực hiện kế hoạch này được ước tính tiêu tốn khoảng 886 triệu dollar cho giữa năm 2016 và 2025 và hơn một nửa ngân sách đến từ các tổ chức nước ngoài.

Bên cạnh Ngân sách Nhà nước, Tổ chức Forest Trend cũng nhận thấy rằng những chi phí địa phương cho việc xây dựng và chứng nhận cho các kế hoạch Quản lý và sản xuất rừng bền vững thường không được cho phép, và chính vì thế nên nhiều công ty kinh doanh gỗ không có khả năng để chứng nhận cũng như không quan tâm đến việc bắt đầu quá trình này như thế nào.

Vào năm 2012, tổ chức WWF ước tính rằng giá bán gỗ cần tăng ít nhất 12% để bù cho các chi phí liên quan đến một chứng chỉ rừng bền vững trên một diện tích 2000 hecta. Như trong năm 2014, chỉ có 136.706 hecta rừng tại Việt Nam được chứng nhận là có chứng chỉ quản rừng bền vững.

Tuy nhiên về quan điểm Chứng chỉ rừng thì chuyên gia Ledecq đến từ WWF có một cái nhìn rất tích cực.

“Việt Nam hiên đang có khoảng 674 công ty có chứng nhận về chuỗi giám hộ và họ đang đề xuất Chính phủ phát triển một chứng chỉ rừng quốc gia”, theo Ledecq. “ Họ hiểu được rằng họ đang rất cần sự phát triển bền vững để đảm bảo nguồn cung và tiếp cận thị trường trong dài hạn,”

Một vấn đề khác là chất lượng của các cánh rừng đang phát triển trong vài thập kỉ gần đây. Ông Phúc đồng ý rằng mặc dù độ che phủ rừng thực sự đã tăng nhưng chất lượng của các cánh rừng này thì khá nghèo.

“Tôi cho rằng chất lượng của các cánh rừng trồng đang đi xuống” Ông phúc cho biết. "Điều đó có ý nghĩa rằng những cánh rừng nguyên sinh đang vẫn bị chuyển đổi sang mục đích trồng các loài cây công nghiệp”

Tuy nhiên, Ông Phúc lo ngại rằng việc tăng giá Cao Su và Sắn trong tương lai sẽ có thể đảo ngược những thành công đã đạt được của những dự án phục hồi rừng trong những năm gần đây.

Một khung cảnh rừng Trường Sơn, Việt Nam. Photo by Pham VT.
“Một vài năm trước đây chúng tôi đã trông thấy tận mắt rất nhiều diện tích rừng bị chuyển đổi sang trồng Sắn bới các chủ rừng nhỏ, những người rất nghèo thậm chí bao gồm các dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên” Ông Phúc cho biết. "Chính phủ Việt Nam không thể quản lý hết các trường hợp cụ thể trong quy mô nhỏ ở tất cả các khu rừng trồng và những nơi vùng sâu vùng xa thì vấn đề chuyển đổi đất này rất dễ dàng được lặp lại”.

“Nếu giá cả tăng trở lại thì tôi tin rằng sẽ chẳng còn cách nào để kiểm soát vấn đề này” Ông Phúc nhấn mạnh tính chất quốc tế của việc quản lý rừng.

“Điều đó có nghĩa là các cánh rừng tự nhiên sẽ giống như tại Tây Nguyên, không thể được bảo vệ”

Phạm vi ngoài biên giới


Trong khi Việt Nam đang đạt được những thành công rất lớn trong việc khôi phục lại những cánh rừng vốn có của họ thì Quốc gia này hiện vẫn đang nhập khẩu một lượng rất lớn gỗ từ nước Campuchia láng giềng, nơi mà việc khai thác gỗ hầu hết là bất hợp pháp và không bền vững.

Campuchia đã có rất nhiều hành động vũ lực liên lục nhằm vào các Nhà hoạt động chống khai thác gỗ trái phép bao gồm cả các nhà báo và các đại diện trong và ngoài nước. Xu hướng phá rừng vẽ nên một bức tranh ảm đạm cho tương lai nếu không có gì thay đổi tình trạng này.

Một bài báo được phát hành bởi The Diplomat vào tháng 9 năm 2016 nhận thấy Campuchia là nhà xuất khẩu gỗ lớn nhất cho Việt Nam và cũng xác định được rằng Trung Quốc đóng vai trò như một người chơi chính nắm quyền kiểm soát rừng trong khu vực.

Trong khi Việt Nam phải trải qua một chặng đường dài hơn 50 năm qua trong việc tái phục hồi các cánh rừng của họ thì vấn đề phá rừng vẫn không thể chấm dứt. Thay vào đó thì nhu cầu toàn cầu cho các sản phẩm về gỗ vẫn còn tồn tại và dĩ nhiên nhu cầu đó thúc đẩy việc xuất khẩu gỗ.


Theo Mongabay 11 tháng 12 năm 2016 / Tác giả Michael Tatarski & Shanti Johnson
Dịch bởi Đào Công Anh
Nguồn: https://news.mongabay.com/2016/12/vietnams-forests-on-the-upswing-after-years-of-recovery/

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Kinh doanh trong sự Tuyệt chủng: Buôn bán vật nuôi đang giết chết nhiều loài động vật như thế nào



Suy giảm đa dạng sinh học toàn cầu không chỉ là kết quả từ sự phá hủy môi trường sống tự nhiên, hay thậm chí săn bắn các loài động vật làm thức ăn. Một số lượng lớn các loài đang bị đe dọa là do buôn bán vật nuôi – ở cả hai trường hợp dạng sống như vật nuôi cảnh hay để trưng bày, hoặc bị giết chết vì giá trị sử dụng trong các loại thuốc.


Mặc dù mọi người ngày càng nhận thức được mối đe dọa của việc buôn bán các loài có giá trị cao như ngà voi, và các động vật khác như hổ, tê giác, và tê tê trong y học, ít người nhận ra rủi ro do buôn bán vật nuôi gây ra đối với tương lai sống còn của nhiều loài chưa được biết đến rộng rãi.

Tham quan một vườn thú hay một cửa hàng bán vật nuôi, bạn có thể thấy được rằng những con bò sát hay lưỡng cư trong cửa hàng đang được chăm sóc trong điều kiện nuôi nhốt. Nhưng rất nhiều trong số các con vật này được nhập khẩu về đây khi còn sống. Trên thực tế 92% của 500.000 chuyến hàng động vật sống trong giai đoạn 2000-2006 tới Hoa Kỳ (tương đương 1.480.000 con vật) là cho mục đích buôn bán vật nuôi và 69% trong số đó có nguồn gốc từ Đông Nam Á.

Việc buôn bán này là hợp pháp?

Rất nhiều vườn thú, hồ cá cảnh và các nhà buôn bán vật nuôi ban đầu đều là các nhà nhân giống có chứng chỉ ở nhiều nơi trên Thế giới (đặc biệt là ở Đông Nam Á và Nam Mỹ) nhằm cung cấp nguồn vật nuôi và phục vụ mục đích triển lãm. Tuy nhiên số vật nuôi bây giờ được đem ra triển lãm chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số các con vật thực tế đang bị nuôi nhốt. Phần lớn vật nuôi được săn bắt từ thiên nhiên và được chuyển qua dạng hợp pháp

Một trong những loài như vậy là Tắc kè (Gecko gecko), trong trường hợp loài này ở Indonesia có thể xuất khẩu hợp pháp đến 3 triệu cá thể sống hàng năm (theo công ước CITES quy định về hạn ngạch xuất khẩu hợp pháp của tất cả các loài có giá trị thương mại quốc tế) và thêm hơn 1,2 triệu mẫu khô có giá trị về mặt dược liệu.

Tắc kè - Jonathan Searle/Reuters
Tuy nhiên việc nhân giống 3 triệu cá thể tắc kè đòi hỏi ít nhất 420.000 cá thể cái và 42.000 cá thể đực; 90.000 thùng ấp trứng và 336.000 lồng nuôi; thêm vào đó là thức ăn và hàng trăm nhân viên phục vụ. Tất cả các chi phí bỏ ra cần được bù đắp với mưc giá bán ra dưới 1,90 dollar/ 1 con tắc kè, và đó là chưa đề cập đến tỉ lệ chết và thêm 1,2 triệu con được bán ra dưới dạng khô. Do đó, phần lớn nguồn tắc kè vẫn được săn bắt ngoài tự nhiên.

Tình trạng này cũng đúng cho ước tính khoảng 160 loài bò sát. Khoảng 80% số lượng loài Trăn cây Indonesia ( Morelia viridis) (hơn 5.337 cá thể hàng năm) ước tính bị xuất khẩu bất hợp pháp, và hầu hết toàn bộ quần thể loài rùa Palawan đã bị đánh bắt bởi một nhóm duy nhất để xuất khẩu trong khu vực. Bởi vì các nhà sưu tầm có nhu cầu tìm kiếm các loài mới và quý hiếm. Toàn bộ các quần thể có thể bị khai thác thông qua sử dụng thông tin từ các công bố khoa học đề cập tới các loài động vật ngay khi chúng đã được mô tả. Ít nhất 21 loài bò sát đã trở thành mục tiêu theo cách này và các quần thể trong tự nhiên có thể đứng bên bờ vực tuyệt chủng sớm sau khi khi chúng được phát hiện ra và đó là 1 thực tế. Các viện nghiên cứu đã bắt đầu di dời vị trí chính xác của các loài mới ra khỏi các công bố của họ để ngăn chặn tình trạng này.

Nhu cầu sưu tầm đã đưa một số loài đến nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên, bao gồm loài tắc kè hổ Trung quốc (Goniuorosaurus luii) và rất nhiều loài tắc kè khác chỉ được biết đến bởi các nhà sưu tầm và các nhà khoa học. Tuy những loài này tuyệt chủng trong tự nhiên, mức độ cực kì nguy cấp và khó phân loại lại dễ dàng có sẵn trong tay những kẻ buôn bán vô đạo đức tại Mỹ và Châu Âu, thông qua Internet hay các hội chợ đen. Những mối đe dọa này đặc biệt nguy hiểm với bất kì loài bò sát nào mới được mô tả, đặc biệt là các loài bò sát đến từ Châu Á hay New Zealand , Madagascar.

Đối với phần lớn các loài này, buôn bán hợp pháp chẳng bao giờ được cấp phép quốc tế; tất cả các con vật có sẵn đều đến từ hàng hóa bất hợp pháp, và có thể tương đương với quần thể trên toàn cầu đối với một số loài.
Trăn cây - Claro Cortes/Reuters

Một ước tính cho thấy 50% số bò sát còn sống xuất khẩu là thông qua bẫy bắt trong tự nhiên bất chấp thực tế là chưa tới một nửa trong tổng số 10.272 loài bò sát được mô tả hiện nay còn trong tự nhiên được đánh giá nằm trong tình trạng bảo tồn.

Chỉ khoảng dưới 8% các loài buôn bán thương mại được kiểm soát để ưu tiên phát triển, nhưng các hạn ngạch hay các hướng dẫn quản lý gần như không có

Tuy nhiên tình trạng khai thác này không chỉ giới hạn đối với các loài bò sát hay lưỡng cư. Bất kì loài nào cũng có thể rơi vào bẫy của những tay sưu tầm, đối với các loài linh trưởng, và các loài lan hay chim đều chịu chung số phận. Hơn 212 loài lưỡng cư đã bị khai thác quá mức đã được phân loại cho đến nay, với ít nhất 290 loài đã trở thành mục tiêu cho buôn bán vật nuôi quốc tế.

Nhiều cuộc điều tra tại Thailand cho thấy có hơn 347 loài phong lan được buôn bán chỉ trong một chợ. Những loài này đến từ khắp các khu vực và bao gồm cả những loài chưa được mô tả, cũng như các loài được vận chuyển trái phép vào Thailand 

Những loài này chịu chung số phận với các loài bò sát, với nhiều khám phá mới được khai thác từ thị trường này, thỉnh thoảng được khuyến khích bởi các nhà nghiên cứu. Chúng rất dễ dàng có sẵn qua Internet, kết quả là sự tuyệt chủng của các loài này có thể chỉ dựa riêng vào hoạt động buôn bán và những mối đe doạ do thương mại này gây ra bị từ chối chấp nhận.

Nhiều loài chim bị đe doạ tuyệt chủng do bị buôn bán làm vật nuôi - James Akena/Reuters

Rất nhiều loài chim cũng chịu mối đe dọa tuyệt chủng hàng loạt từ các hoạt động buôn bán vật nuôi. Các loài này bao gồm hàng ngàn loài chim tại Nam Mỹ, và một ước tính cho thấy có tới 3,33 triệu cá thể chim bị buôn bán hàng năm tại Đông Nam Á (1,3 triệu cá thể chỉ tính riêng tại Indonesia)

Áp lực lên các loài chim lại Indonesia nghiêm trọng đến mức mà chỉ trong 1 ngày tại 1 chợ đã có hơn 16.160 cá thể chim thuộc 206 loài ghi nhận được bán ra, chiếm tới 98% tất cả các loài chim bản địa của Indonesia, và 20% trong số đó là đặc hữu.

Các loài cá cũng có số liệu thống kê tương tự. Hơn 98% trong số chúng tại các hồ cá cảnh được đánh bắt từ các rạn san hô tự nhiên và đối mặt với tỉ lệ chết 98% trong một năm. Do đó, các quần thể cá trong tự nhiên, như loài cá Hề , đã suy giảm tới 75% quần thể.

Ai sẽ chịu trách nhiệm ?

Buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp là hoạt động buôn bán lớn thứ tư trên toàn cầu, có giá trị khoảng 20 tỉ dollars hàng năm. Một nửa trong đó đến từ Đông Nam Á.

Không giống với các hoạt động buôn bán bất hợp pháp khác, rất nhiều hoạt động buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp không bị che dấu trong những trang Web đen. Tính thực thi pháp luật thường rất lỏng lẻo cho phép những kẻ buôn bán các loài động thực vật có thể hoạt động công khai và ít lo sợ bị trừng phạt.

Đạo luật Lacey tại Mỹ cấm việc nhập khẩu các sinh vật sống từ các nước có loài này là bản địa, nhằm mục đích ngăn chặn sự qua mặt buôn bán động vật hoang dã. Nhưng ở Châu Âu chưa có các đạo luật tương tự, điều đó cung cấp một cầu nối đến điểm cuối của hoạt động thương mại.

Những quần thể cá tự nhiên, ví du như cá hề đã bị suy giảm 70% - Pichi Chuang/Reuters

Phần lớn nhu cầu về các loài này, và đặc biệt là các loài quý hiếm đến từ các nhà sưu tập Châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ của trong quá trình buôn bán này được quy định (2% buôn bán quốc tế đối với động vật lưỡng cư, và 10% đối với buôn bán bò sát trên toàn cầu), những hành động khẩn cấp là cần thiết để bảo vệ các loài dễ bị tổn thương khỏi quá trình tuyệt chủng.

Do nhiều loài bò sát, lưỡng cư và các loài lan chưa được liệt kê vào danh sách cần bảo vệ của CITES (do thiếu thông tin, hay chỉ mới được phát hiện gần đây) nên không có một quy định thực sự nào áp dụng được trong buôn bán động vật hoang dã. Và các nhân viên hải quan cũng không có khả năng phân biệt giữa một loài lan hay loài ếch thông thường hay quý hiếm. Vì vậy cần có những hạn chế đơn giản hơn để ngăn chặn mối nguy hại tiềm tàng gây ra bởi hoạt động buôn bán này.


Vô tội đến khi được chứng minh là có tội?

Các loài lan cũng bị suy giảm mạnh bởi các
 nhà sưu tập - Guillermo Granja/Reuters
Đối với nhiều loài không được phân loại theo tiêu chuẩn của CITES có lẽ những gì chúng ta cần làm là chỉ cho phép những loài đã được phân loại và được chứng nhận buôn bán trên thị trường. Điều đó có nghĩa rằng tất cả các mẫu không có chứng chỉ này sẽ không thể được vận chuyển quốc tế

Hiện tại việc theo dõi toàn bộ các nhóm buôn bán là rất khó khăn ngay cả đối với các tổ chức đảm nhận vị trí này, ví dụ như Tổ chức Hải quan Thế giới cũng không theo dõi được các hồ sơ về động vật lưỡng cư.

Rất nhiều loài tại Phương tây chỉ có thể đến thông qua các tuyến đường bất hợp pháp, thế nhưng việc tiêu thụ các loài này một lần nữa lại không hạn chế. Các hệ thống chứng nhận hay cung cấp chứng chỉ cần phải được tạo ra như một phần bắt buộc của việc bán bất kì đơn vị phân loại loài nào dễ bị tổn thương do khai khác. Với hình thức tịch thu vá áp dụng các mức xử phạt để hỗ trợ cho việc tuân thủ thực thi pháp luật

Các nhà sưu tập các loài động vật sống thường là những người có sở thích, vì vậy phần lớn trong số họ sẽ không có khả năng vượt qua một quãng đường dài để mua mẫu vật nếu mức độ thực thi pháp luật được thúc đẩy. Những hành động như vậy cũng cần được mở rộng để cuối cùng hạn chế việc buôn bán thông qua Internet đối với những loài hiện đang bị đe dọa.

Mặc dù nhiều cam kết đã được thực hiện bởi các Chính phủ Châu Âu nhằm hạn chế việc buôn bán động vật hoang dã trái phép, những nỗ lực này thường thất bại trong việc giải thích một số lượng lớn các loài đang có nguy cơ trở thành vật nuôi hay các mẫu tiêu bản sống. Do sự qua mặt và tham nhũng, nên cần thiết hạn chế nhập khẩu từ người tiêu dùng ở các quốc gia.

Nếu chúng ta muốn có tương lai tốt đẹp cho các quần thể động vật hoang dã, thì hành động quyết liệt là cần thiết để kiểm soát việc buôn bán quốc tế và buôn bán trong nước. Nếu không có những hành động như vậy, chúng ta sẽ có thể thấy được sự mất đi của nhiều loài quý hiếm chỉ vì lòng tham của loài người.
----------------------------------------
Tác giả: Alice Catherine Hughes, Associate Professor in Landscape Ecology & Conservation, Chinese Academy of Sciences
Bài gốc: Trading in extinction: how the pet trade is killing off many animal species
Dịch bởi: Đào Công Anh - Đại học Lâm Nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Các dải san hô bị phá huỷ nghiêm trọng do Trung Quốc xây đảo nhân tạo

Các nhà khoa học quốc tế lên tiếng về tình trạng san hô bị phá hủy khi Trung Quốc tiến hành bồi đắp, xây dựng cấp tốc tại những đảo san hô ở khu vực quần đảo Trường Sa.
San-Ho-Trung-Quoc-pha-huy

Quan ngại của giới chuyên gia quốc tế
Quan ngại ngày càng tăng trong giới khoa học về tình trạng hủy hoại một hệ san hô quan trọng trong khu vực Đông Nam Á ở khu vực nơi mà Trung Quốc hiện đang nhanh chóng cho tiến hành cải tạo xây dựng những đảo nhân tạo.
Những nhà khoa học sau khi xem xét các ảnh chụp từ vệ tinh ở khu vực quần đảo Trường Sa được công bố gần đây cho hãng thông tấn Reuters biết hoạt động đổ cát xây dựng tại bảy bãi cạn ở Trường Sa mà Trung Quốc thực hiện gần đây làm hư hại hệ san hô quanh những địa điểm tiền đồn như thế. Và khu vực bị ảnh hưởng có thể rộng hơn người ta tưởng lúc ban đầu.
Nhà sinh vật học biển nổi tiếng thuộc Đại học Miami Hoa Kỳ, ông John McManus, cùng hợp tác với các nhà khoa học Philippines trong công tác nghiên cứu Biển Đông, trong tháng sáu này phát biểu với các nhà khoa học khác rằng hoạt động cải tạo của Trung Quốc để xây dựng nên những đảo nhân tạo tại các bãi cạn đạt kỷ lục trong lịch sử con người về tốc độ nhanh nhất làm mất vĩnh viễn một vùng san hô.
"Cơ quan Liên bang Hoa Kỳ đặc trách Hải dương vả Khí quyển, ông John McManus viết rõ rằng hoạt động nạo vét cát để đắp đảo và thông tuyến cho tàu thuyền vào những đảo mới xây đã phủy hoại một vùng rộng lớn các rạn san hô quanh nơi xây dựng"
Trên diễn đàn mạng điều hành bởi Cơ quan Liên bang Hoa Kỳ đặc trách Hải dương vả Khí quyển, ông John McManus viết rõ rằng hoạt động nạo vét cát để đắp đảo và thông tuyến cho tàu thuyền vào những đảo mới xây đã phủy hoại một vùng rộng lớn các rạn san hô quanh nơi xây dựng.
Theo đánh giá của giới khoa học thì các rạn san hô tại khu vực Trường Sa tương đối nhỏ so với các hệ san hô lớn khác trên Trái Đất; tuy nhiên hệ san hô ở Trường Sa được đánh giá có đa dạng sinh học và có thể giúp khôi phục cho những rạn san hô bờ biển đang bị đe dọa với những ấu trùng san hô và cá của chúng đưa đến.
Các rạn san hô tại khu vực Trường Sa còn là nơi cư ngụ của một số sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng gồm loài sò trai khổng lồ, cá nược cũng như một số chủng loại rùa biển.
Một chuyên gia về khoa học biển và pháp lý thuộc Trường Ngiên cứu Quốc tế S Rajaratman ở Singapore, bà Youna Lyons, cho biết những rạn san hô mà bao nhiêu thế kỷ qua không ai đụng đến thì nay không còn nữa. Vào tuần qua bà này nói với hãng thông tấn Reuters rằng bà thấy có bằng chứng những hoạt động nạo vét như dạng Trung Quốc đang thực hiện diễn ra ngoài những khu cải tạo là bảy bãi đá được công khai.
Bà này cũng có đánh giá là qui mô và bản chất hoạt động nạo vét những vùng san hô tại khu vực Biển Đông như gần đây là chưa hề có trong lịch sử con người.
Philippines vào ngày 22 tháng 6 lại công khai lên tiếng cáo buộc Trung Quốc gây hại cho hệ sinh thái biển khi tiến hành hoạt động cải tạo xây dựng đảo nhân tạo ở khu vực Trường Sa. Manila nêu cụ thể con số thiệt hại về kinh tế đối với các quốc gia quanh Biển Đông phải gánh chịu hằng năm là chừng 280 triệu đô la.
Đánh giá của chuyên gia Việt Nam
Nguyên viện trưởng Viện Hải Dương học Nha Trang, giáo sư Nguyễn Tác An, cho biết đánh giá về hệ sinh thái san hô tại Trường Sa như sau:
“ Điều này Việt Nam nghiên cứu tương đối kỹ nhất là trong chương trình hợp tác quốc tế. Mình khẳng định quần đảo Trường Sa là quần đảo san hô. Gốc của nó là những ám tiêu san hô; do đó nền tảng hình thành các đảo là những ám tiêu san hô.
Như anh biết quần đảo Trường Sa bây giờ trở thành nơi có vị trí địa chiến lược, địa chính trị, địa kinh tế; nhất là nó án ngữ trên tuyến đường giao thông quốc tế. Do đó vấn đề san hô cực kỳ quan trọng. Hiện nay theo luật biển nghiêm cấm các quốc gia cải tạo, khai thác, thay đổi cấu trúc của các ám tiêu san hô. Một số quốc gia hiện nay làm chuyện đó nên vấn đề trở nên quan trọng.

Hình ảnh hoạt động xây đảo của Trung Quốc được may bay Mỹ nghi lại
Hình ảnh hoạt động xây đảo của Trung Quốc được may bay Mỹ nghi lại

Ngoài ra 50% lượng cá tại Biển Đông liên quan đến các ám tiên san hô với diện tích trên 200 ngàn cây số vuông, nên nó rất quan trọng.
Ngoài ra những ám tiên san hô hình thành nên những chỏm đảo có độ cao khoảng 1-2 mét khỏi mặt nước trở thành mặt bằng cho ngư dân sinh sống, cư trú và cho những hoạt động kinh tế
"Các rạn san hô tại khu vực Trường Sa còn là nơi cư ngụ của một số sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng gồm loài sò trai khổng lồ, cá nược cũng như một số chủng loại rùa biển"
Quan trọng nhất là đa dạng sinh học của san hô ở vùng Biển Đông. Nó ở vùng nhiệt đới nên có giá trị trong việc điều tiết thời tiết. 2.15
Một chuyên gia về thực vật biển của Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại, cũng cho biết:
“Trước đây có những đề tài cấp Nhà nước nghiên cứu về đa dạng sinh học: tất cả các ngành về sinh vật từ san hô cho đến cá, cho đến cỏ biển… thì người ta cũng đánh giá đó là vùng biển rất đa dạng, giàu có; đa dạng về sinh học.
“ Chắc chắn vùng Trường Sa của Việt Nam là vùng đa dạng sinh học về san hô thuộc loại lớn của thế giới rồi. Cả Hoàng Sa và Trường Sa đa dạng sinh học đều lớn, trong đó có nhiều loài thủy sản và nếu phá hoại chúng thì ảnh hưởng đến toàn bộ môi sih cùa vùng đó.”
“ Hiện nay nguyên nhân suy giảm thì đâu cũng diễn ra hết; nhưng vùng hoạt động của con người nhiều quá thì nó ảnh hưởng. Từ đánh bắt cho đến những hoạt động bồi đắp …đều ảnh hưởng ghê lắm”
Phản ứng của Trung Quốc
Trung Quốc khi được hỏi về những đánh giá gây hại môi trường mà giới khoa học nêu ra khi Bắc Kinh cho tiến hành cải tạo, bồi đắp xây dựng đảo nhân tạo, thì Cục Hải Dương Nhà nước Trung Quốc cho rằng tác động đối với sinh thái rạn san hô chỉ khu biệt, tạm thời, có thể kiểm soát được và có thể phục hồi. Ngoài ra cơ quan này không trả lời thêm gì khác khi bị chất vấn.
Một quan chức thuộc Vụ Biên giới- Hải dương của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng không nước nào quan tâm đến việc bảo vệ sinh thái của đảo, rạn san hô và khu vực biển liên quan bằng Trung Quốc. Người này còn nói rằng Trung Quốc tôn trọng những cam kết của Công ước Liên hiệp quốc về Đa dạng Sinh học và Buôn bán Các loài Nguy cấp.
Tuyên bố lâu nay của Trung Quốc hoàn toàn ngược lại với những quan ngại và cảnh báo của giới khoa học.
Về việc có thể giúp phục hồi những khu vực san hô bị phá hủy, giáo sư Nguyễn Tác An khẳng định:
“ San hô ở Trường Sa hình thành cả trăm triệu năm thì làm sao có thể khôi phục được. Thứ hai nữa sự phát triển của san hô rất chậm. Thứ ba với động lực ở trong biển khi phá khu vực này sẽ gây ảnh hưởng đến một khu vực lớn chứ không phải trong lĩnh vực nhỏ.
Các nhà khoa học quốc tế đã nói nếu gây hại đến các ám tiêu san hô thì không thể nào phục hồi được và dẫn đến các hậu quả về sinh thái học mà không cách gì phục hồi lại được.
Tiến sĩ thực vật biển Nguyễn Hữu Đại có trình  bày:
“Tôi cho rằng người ta nói phần nào cũng đúng vì khu nào người ta nạo vét thì khu đó nước đục và san hô bị ảnh hưởng; còn nếu ở xa quá thì khó ảnh hưởng đến. Nhưng để phục hồi không phải dễ vì san hô hằng nghìn năm. Khi bị vẫn đục thì những polyp của nó, nơi để sinh sống bị biến đổi, san hô chết thì để phục hồi biết bao lâu, trăm năm, ngàn năm. Đâu có dễ, làm cho vẩn đục lên rồi thì phục hồi rất khó. Nhưng tôi cho rằng chỉ khu vực chung quanh đó thôi chứ khó có thể ảnh hưởng đến vùng biển rộng lớn như vậy. Những khu vực nào bị tác động bởi con người thì bị tác động thôi, chứ những khu vực xa thì khó bị ảnh hưởng bởi những việc đó.”
“ Chắc chắn những khu vực nào mà con người đến tác động thì san hô sẽ bị thoái hóa nhanh và phục hồi rất lâu, người ta nói phục hồi nhanh là không đúng, việc phục hồi ( san hô) rất chậm. Vì để phát triển thành một rạn phải rất lâu dài bởi san hô phát triển rất chậm.
“ Để phục hồi thì người ta đem cả một cành san hô di giống đi trồng chỗ khác, ít khi đem ấu trùng vì ấu trùng nở ra hằng loạt rất khó. Di giống là lấy những cành san hô rồi đem đi trồng ở những nơi khác; chứ đem ấu trùng thì khó lắm.”
"Nhưng san hô ở xa ngoài biển nên người ta chưa thấy tác hại của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học cho biết lượng cá ngoài biển giảm đến 85% rồi mà nguyên nhân là các ám tiêu san hô, nơi cư trú, dưỡng sinh của cá bị hủy hoại"
Giáo sư Nguyễn Tác An
Hành động cần có
Một nhà sinh vật học biển khác là ông Terry Hughes thuộc Đại học James Cook ở Queensland, người vào năm 2012 có một nghiên cứu chung với các nhà khoa học Trung Quốc ra một nghiên cứu thừa nhận diện tích san hô bị suy giảm đáng kể tại khu vực Trường Sa. Lúc bấy giờ nghiên cứu nêu lý do là vì tình trạng đánh bắt hải sản quá mức cũng như do biến đổi khí hậu gây nên.
Ông này cũng thừa nhận hoạt động cải tạo, bồi đắp xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc có thể thấy gây ra những hủy hoại ghê gớm; nhưng còn một số rạn san hô vẫn chưa bị động đến, và còn trong tình trạng khá tốt.
Nhà sinh vật học biển John McManus kêu gọi các bên có tuyên bố chủ quyền tại khu vực quần đảo Trường Sa hãy gác lại tranh chấp và  hình thành nên một khu ‘công viên hòa bình’ nhằm bảo vệ những gì còn sót lại.
Giáo sư Nguyễn Tác An cũng cho biết về vấn đề hợp tác để bảo vệ san hô tại khu vực Biển Đông:
“ Hiện nay giới khoa học họ cũng đề nghị thành lập cái gọi là bảo tồn san hô xuyên quốc gia; tức nhiều nước cùng tham gia và bảo vệ san hô như là tài sản không chỉ của vùng Đông Nam Á mà của cả thế giới nữa. Từ năm 92 người ta đã đưa ra đề xuất thành lập Vườn Bảo tồn San hô Xuyên quốc gia. Đó là cách bảo vệ tốt nhất, và yêu cầu các quốc gia phải có thiện chí.
Điều đáng sợ nhất đối với san hô hiện nay là do biến đổi khí hậu, thời tiết nóng lên, dòng chảy thay đổi, lượng thức ăn giảm đi ( san hô là một loài động vật). Đó là bất khả kháng đối với con người; nay lại có thêm tác động của nhân tai thì không kém gì biến đổi khí hậu cả. Nhưng san hô ở xa ngoài biển nên người ta chưa thấy tác hại của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học cho biết lượng cá ngoài biển giảm đến 85% rồi mà nguyên nhân là các ám tiêu san hô, nơi cư trú, dưỡng sinh của cá bị hủy hoại”.
Theo giáo sư Nguyễn Tác An để có thể hợp tác thành công cần phải tin tưởng nhau; tuy nhiên trong thực tế vẫn chưa có được điều này. Còn theo nhà sinh vật họ biển John McManus thì nhiều người lại đang nhân danh phát triển để phá hủy môi trường.

Theo: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ScienceAndEnvironment/scien-alarm-ov-cn-islan-build-06302015055751.html

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Loài nhện mới Belisana denticulate cho khoa học

Phát hiện một loài nhện mới cho khoa học ở Việt Nam

Nhen-spider-Belisana-denticulate-1
Loài nhện Belisana denticulata Phạm, 2015. C.–Mặt lưng; D. Mặt bụng; E. Mặt bên. (Ảnh: Phạm Đình Sắc 2015)
Một loài nhên mới vừa được Tiến sỹ Phạm Đình Sắc, thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vât phát hiện và công bố trên tạp chí ZooKeys số 480, ngày 2 tháng 2 năm 2015). Loài nhện Belisana denticulate mới được tìm thấy ở tầng tán của thảm thực vật rừng Tam Đảo, và được phân biệt bởi đặc điểm: khoảng cách giữa mấu ngoại biên và mấu bên trên chân kìm cách xa nhau, sự có mặt của mảnh xương cứng hình yên ngựa trên mấu xúc biện, và sự xuất hiện của một khối màng bao phủ trên mấu xúc biện.


Giống Belisana, thuộc họ Pholcidae, bộ Nhện (Araneae), lớp Hình nhện (Arachnida) phân bố chủ yếu phía Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam, với khoảng 111 loài đã biết. Ở Việt Nam, đã ghi nhận được 15 loài nhện thuộc giống này. Tuy nhiên, với những tiềm ẩn giàu có về đa dạng sinh học, chắc chắn số loài nhện thuộc giống Belisana gặp ở Việt Nam sẽ còn cao hơn, với nhiều loài mới còn chưa được phát hiện.

Nhen-spider-Belisana-denticulate-2

Loài nhện Belisana denticulata Phạm, 2015. A. Hành trên xúc biện; B. Chân kìm ( b = Hành, ba = Mấu trên hành, da = Mấu ngoại biên, e = Mấu sinh dục, pa = Mấu bên. (Ảnh: Phạm Đình Sắc 2015)

Biên tập: Đức Anh
Nguồn: http://zookeys.pensoft.net/articles.php?id=4623

ZooKeys 480: 41-47 (02 Feb 2015)
doi: 10.3897/zookeys.480.9046
ZooKeys 480: 41–47 (2015)

One new species of the genus Belisana Thorell, 1898 (AraneaePholcidae) from northern Vietnam

expand article infoDinh-Sac Pham
One new species Belisana denticulata sp. n. () is reported from northern Vietnam based on material collected by fogging the forest canopy. This species resembles B. scharffi Huber, 2005, but can be distinguished by relatively long distance between proximal parts of proximo-lateral apophysis and distal apophysis on male chelicerae, by presence of a nearly saddle-shaped prolateral sclerite on procursus, and by different shape of retrolateral membranous flap on procursus. Type specimens are deposited in the Vietnam Academy of Science and Technology in Hanoi.



Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Thế nào là Ngành và Nhà phân loại học?

tree-of-life
Phân chia ngành phân loại và các nhà phân loại học

Phân loại học được xác định là một ngành khoa học về phân chia và sắp xếp theo các điều luật và quy định. Thực tế, phân loại học không chỉ được áp dụng đối với ngành Sinh học, và có thể áp dụng cho nhiều đối tượng, lĩnh vực khác. 

Phân loại học trong Sinh học là khoa học về sự phân chia và sắp xếp các loài sinh vật (đơn vị phân loại cơ bản nhất) vào các vị trí thích hợp để có thể giải thích được sự đa dạng, mối quan hệ và quá trình hình thành, tiến hóa của chúng. 

tree-of-life-cay-phan-loai-su-song
(Cây phân loại sự sống: Nguồn: http://www.greennature.ca/)


Với khái niệm rộng như vậy, ngành phân loại học sẽ được phân chia theo hệ thống sau:

· Phân loại học – alpha: chủ yếu ở mức độ nhận dạng, mô tả và đặt tên cho các đơn vị phân loại mới (loài, giống, họ...) hoặc xem xét những mô tả/hệ thống lại tên khoa học trước đây.

· Phân loại học – beta: thực hiện các công việc so sánh giữa các đơn vị phân loại, bao gồm việc nghiên cứu quan hệ phát sinh; hoặc mức độ khác là sắp xếp hệ thống các đơn vị phân loại (chủ yếu dựa trên các phân tích về phát sinh chủng loại).

· Phân loại học – gamma: chủ yếu nghiên cứu các biến dị di truyền trong các loài. 

Ngoài ra, còn có các công việc khác như:

· Phát triển các công cụ cho việc định loại/nhận dạng: khóa phân loại, mã vạch DNA

· Định loại/nhận dạng các mẫu vật, sử dụng các công cụ định loại và sắp xếp chúng vào hệ thống đã biết. 

· Điều tra phát hiện các đơn vị phân loại trong khu vực cụ thể hoặc hệ sinh thái cụ thể, chủ yếu dựa vào công cụ định loại.

Trên cơ sở phân chia như vậy, các nhà phân loại học cũng được chia thành các nhóm sau:

· Nhà phân loại – alpha: mô tả, đặt tên, tổng kết và thống nhất các đơn vị phân loại.

· Nhà phân loại – beta: so sánh và phân chia các đơn vị phân loại, hình thành cây phát sinh chủng loại.

· Nhà phân loại – gamma: nghiên cứu biến di truyền trong loài. 

· Người phát triển công cụ: xây dựng khóa định loại và các công cụ hỗ trợ khác cho việc nhận dạng các đơn vị phân loại.

· Người sử dụng: nhận biết các loài, sử dụng khóa/công cụ để điều tra đa dạng sinh học.

Trên thực tế, các nhà phân loại có thể được sắp xếp vào nhiều hơn các nhóm được đề cập ở trên, tùy thuộc vào công việc của họ trong thời gian đó. Nói một cách khái quát, nhà phân loại được xem là nhà khoa học có cảm nhận một cách công bằng như mình đang ở nhà ở mọi nơi, khi thực địa, trong bảo tàng, trong phòng thí nghiệm và trước máy tính. 

Tương lai của các ngành khoa học phân loại:


Carl Linnaeus (1707-1778): Cha đẻ của ngành phân loại  trong sinh học
(http://en.wikipedia.org/wiki/Carl_Linnaeus)

Hình thành từ năm 1758, phân loại học đã đóng vai trò quan trọng cho việc tìm hiểu sự sống, đóng góp cho việc tìm hiểu quá trình tiến hóa và phát sinh các loài sinh vật trên trái đất; và cũng đóng góp vào các ngành kinh tế như dược học, nông nghiệp, lâm nghiệp thông qua những phát hiện mới về nguồn gen, nguồn tài nguyên sinh vật mới. Hiện nay, ngành khoa học phân loại đang đứng trước một áp lực rất lớn với sự xuất hiện của lĩnh vực sinh học phân tử DNA và phân loại dựa vào DNA. Đã, đang và sẽ còn những tranh luận về vai trò của phân loại học cổ điển và phân loại học hiện đại (dựa vào DNA), nhưng không thể phủ nhận được vai trò của phân loại học cổ điển. Thực tế hiện nay, việc kết hợp các dẫn liệu phân tử và dẫn liệu hình thái trong việc nghiên cứu phân loại đang được sử dụng rộng rãi và phổ biển trên thế giới. 

Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều sáng kiến được thực hiện nhằm thúc đẩy ngành phân loại trên thế giới. Ủy ban CBD (Công ước về Đa dạng sinh học) đã công bố Sáng kiến Phân loại toàn cầu (GTI) để cải thiện những khó khăn cho ngành phân loại. Bên cạnh đó, các sáng kiến quốc tế khác như, Bách khoa toàn thư về sự sống (Encyclopedia of Life), Khu hệ động vật châu Âu (Fauna of Europe), Cơ sở thông tin đa dạng sinh học toàn cầu (Global Biodiversity Information Facility), Loài2000 (Species2000) đều được phát triển nhằm cung cấp các thông tin về đa dạng sinh học một cách phổ biến hơn, đặc biệt thông qua internet. Các nhà phân loại vẫn tiếp tục công việc bởi vì phải còn rất lâu nữa chúng ta mới có thể có được đầy đủ hiểu biết về các loài sinh vật trên trái đất.

Biên tập: Đức Anh

Tài liệu tham khảo: 
  1. Enghoff H., & Seberg O. (2006) A Taxonomy of Taxonomy and Taxonomists. The systematics, 27: 13-15. (http://www.systass.org/newsletter/TheSystematist27.pdf).
  2. Enghoff H. (2008) What is taxonomy? – An overview with myriapodological examples. Soil Organisms, 81(3): 441-451.
  3. http://www.senckenberg.de/files/content/forschung/publikationen/soilorganisms/volume_81_3/16_enghoff.pdf