Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Loài rêu mới Neckera praetermissa từ bắc Việt Nam

Reu-Neckera
Minh hoạ chi rêu Neckera
Các nhà khoa học vừa mô tả một loài rêu mới cho thế giới phát hiện từ miền bắc Việt Nam và được đặt tên là Neckera praetermissa.

Loài rêu này có đặc điểm giống với loài Neckera undulatifolia do có chung đặc điểm lá bẹ hình trứng và lá mọc đối với răng cưa thô. 

Tuy nhiên loài Neckera undulatifolia có thân dài đến 10 cm và một gân chính dài đến 5/6 chiều dài lá, trong khi thân của N. praetermissa dài khoảng 3 cm và lá không có gân chính hoặc gân chính dài nhất đến 1/6 chiều dài lá.

Có thể xem chi tiết mô tả loài rêu mới Neckera praetermissa trên tạp chí Phytotaxa 195-2: 178-182
Phytotaxa 195 (2): 178–182

A new species of Neckera (Neckeraceae, Bryophyta) from northern Vietnam

Johannes Enroth, ANDRIES TOUW

Abstract


Neckera praetermissa Enroth & Touw spec. nov. (Neckeraceae) is described from northern Vietnam. It is morphologically closest to the SE Asian N. undulatifolia (Tix.) Enroth, with which it shares the similar, ovate-ligulate and symmetric leaves with coarsely dentate apices, and strongly incrassate and porose leaf cell walls. However, N. undulatifolia has the stems up to 10 cm long and a distinct costa reaching to 5/6 of leaf length, while the stems of N. praetermissa are to c. 3 cm long and the leaves are ecostate or with a weak costa reaching to 1/6 of leaf length at most.

Keywords


Taxonomy, Pleurocarpous mosses, New species, Tropics

http://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.195.2.7
http://www.mapress.com/phytotaxa/content/2015/f/p00195p182f.pdf

Hoàng tinh Polygonatum annamense mới và đặc hữu của dãy Trường Sơn

Hoang-tinh-Polygonatum
Ảnh 1 loài Hoàng tinh
Một loài Hoàng tinh đặc hữu của dãy Trường Sơn vừa được mô tả và công bố mới cho khoa học với tên: Polygonatum annamense



Việc mô tả loài mới này dựa trên các mẫu vật được lưu ở phòng tiêu bản mẫu thực vật, các dữ liệu sinh học phân tử và mẫu cây trồng.

Loài Hoàng tinh Polygonatum annamense phân bố ở miền nam Việt Nam, mà chủ yếu ở khu vực cao nguyên Đà Lạt, Lâm Đồng.

Bài báo khoa học này được công bố trên tạp chí Phytotaxa (197-2: 125-131). Trong đó, nó cũng được so sánh và chỉ ra những đặc điểm khác nhau của các loài gần gũi như P. punctatum, P. mengtzense, P. punctatum, và P. urceolatum
Phytotaxa 197 (2): 125–131

A new Polygonatum (Asparagaceae) endemic to the Trường Sơn of southern Vietnam

Aaron Jennings Floden

Abstract


A new species of Polygonatum, P. annamense based on evidence from herbarium studies, molecular data, and cultivated material is described and illustrated from upper elevations of the southern Annamite ecoregion where it occurs disjunctly in both the Central Highlands and the Đà Lạt Plateau, Vietnam. It is compared to the morphologically similar P. punctatum with which it has been confused, and its relationship to P. mengtzense, P. punctatum, and P. urceolatum is discussed.

Keywords

Annamites, endemic, Sino-Himalaya

http://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.197.2.5
http://www.mapress.com/phytotaxa/content/2015/f/p00197p131f.pdf

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Phân loại thực vật nhìn từ vấn đề cây Mỡ

Cay-Mo-Magnolia-chevalieri-1
Thực tế rất nhiều quyết định của Bộ Nông nghiệp, Cục và chi cục Kiểm lâmcác trường đại học Nông, Lâm, các Viện và thậm chí cả luận án tiến sỹ đã có sự không thống nhất tên khoa học của loài Mỡ...

Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin khiến cho công việc phân loại thực vật (xác định tên khoa học) trở lên dễ dàng hơn trước rất nhiều. Các nhà phân loại hoặc những người làm công việc liên quan không còn phải ôm những quyển sách đồ sộ, thay vào đó là những tài liệu điện tử được lưu vào trong máy tính hoặc từ những trang web tin cậy trên internet.

Mặc dù vậy, một số nhà phân loại hiện nay vẫn chưa bỏ được thói quen đó là tra cứu ngược và sự bằng lòng chấp nhận. Có nghĩa là chúng ta thường tra tên một loài bằng việc tra từ tên Việt Nam sau đó suy luận ra tên khoa học mà không so sánh với mẫu vật chuẩn hoặc phần mô tả hình thái của chúng từ tài liệu chuyên ngành. Sự bằng lòng chấp nhận thể hiện ở khía cạnh chúng ta thường chấp nhận tên khoa học đó ngay cả khi có một vài sự sai khác về các đặc điểm mô tả hình thái. Hiển nhiên cách này là không đúng trong công việc định loại tên khoa học.

Một ví dụ điển hình có thể thấy từ sự việc gây tranh cãi trong cộng đồng về vấn đề Hà Nội trồng câyMỡ hay cây Vàng tâm ở đường Nguyễn Chí Thanh trong hạ tuần tháng trước. Nó đã đặt ra câu hỏi rằng những cây Mỡ hiện đang được nhân trồng rộng rãi ở phía Bắc Việt Nam có tên khoa học chính xác là gì?

Thực tế rất nhiều quyết định của Bộ Nông nghiệp, Cục và chi cục Kiểm lâmcác trường đại học Nông, Lâm, các Viện và thậm chí cả luận án tiến sỹ đã có sự không thống nhất tên khoa học của loài Mỡ. Có tài liệu nói tên khoa học của chúng là Manglietia conferaManglietia glauca hoặc Manglietia phuthoensisnhưng cũng có nơi dùng cả 2 tên khoa học của 2 loài khác nhau để chỉ một cây. Điều này có thể dẫn đến những hiểu lầm về quy trình nhân giống, trồng và chăm sóc, và đánh giá giá trị thương phẩm của loài đó.

Mỡ có tên khoa học là Manglietiaconfera (hiện trở thành tên đồng nghĩa của loài Magnolia conifera) là tên khá phổ biến được sử dụng trong các cuốn “Tên cây rừng Việt Nam” (nhiều tác giả - Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2000), “Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam” của GS. Võ Văn Chi (NXB Giáo Dục, 2007),và trong một loạt các văn bản, tài liệu, báo cáo, luận văn (luận án) khác nhau. Có thể ví dụ như “Quyết định ban hành Danh mục các loài cây chủ lực cho trồng rừng sản xuất và Danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng theo các vùng sinh thái lâm nghiệp” số 4961/QĐ-BNN-TCLN ban hành ngày 17/11/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; hay Luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu nâng cao chất lượng gỗ Mỡ (Manglietia conifera Dandy) rừng trồng bằng phương pháp biến tính hóa học” của TS. Đào Xuân Thu (Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam) hoàn thành năm 2011.
Mỡ có tên khoa học là Manglietia glauca (hiện nay trở thành tên đồng nghĩa của dưới loài Magnolia sumatrana) cũng được dùng khá phổ biến, điển hình như trong “Giáo trình thực vật rừng”của thầy Lê Mộng Chân và cô Lê Thị Huyền (NXB Nông Nghiệp, 2000), bảng Phân loại nhóm gỗ Việt Nam của Bộ Lâm nghiệp ban hành trong Quyết định số 2198/CNR ngày 26/11/1977; và cũng được đề cập trong một loạt các báo cáo, văn bản, tài liệu, luận văn khác nhau. Ví dụ như Luận án Tiến sỹ “Chuyển hoá rừng trồng Mỡ (Manglietia glauca Dandy) và Sa mộc (Cunninghamia lanceolata Hook) sản xuất gỗ nhỏ thành rừng trồng cung cấp gỗ lớn ở miền Bắc Việt Nam” của TS. Nguyễn Hữu Thiện (Trường Đại Học Lâm nghiệp Việt Nam) hoàn thành năm 2012.
Mỡ có tên khoa học là Manglietia phuthoensis (nay trở thành tên đồng nghĩa của loài Magnolia chevalieri.) được dùng trong “Cây cỏ Việt Nam” của GS. Phạm Hoàng Hộ (NXB Trẻ, 1999), và là loài được trồng khá nhiều nơi ở Bắc Việt Nam.

Cay-Mo-Magnolia-chevalieri
Ảnh quả loài Mỡ Magnolia chevalieri được chụp từ một cây trồng ở Tuyên Quang. Tên khoa học loài đã được đoàn công tác (gồm ThS. Nguyễn Quang Hiếu, TS. Nguyễn Tiến Hiệp, GS. Phan Kế Lộc, ThS. Nguyễn Sinh Khang và ThS. Phạm Văn Thế) xác nhận. Hiện mẫu vật lưu tại Trung tâm Bảo tồn Thực vật Việt Nam. Đây là kết quả của chương trình điều tra các loài Ngọc lan và Thông do quỹ “People Resources and Conservation Việt Nam” tài trợ năm 2011. Ảnh Phạm Văn Thế
Ở một khía cạnh khác, hầu hết phần mô tả loài Mỡ hiện đang được gây trồng ở Việt Nam được khá nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng rất giống với mô tả loài Mỡ phú thọ Magnolia chevalieri. Vậy phải chăng tất cả các cây Mỡ hiện đang được nhân giống, gây trồng ở miền Bắc Việt Nam đều thuộc một loài và chính là Magnolia chevalieri? Nếu đúng vậy thì rõ ràng chúng ta đang có một sự nhầm lẫn nghiêm trọng. Sự nhầm lẫn xảy ra có thể là do sự xác định nhầm tên khoa học của một số tác giả, các tài liệu sau lại trích dẫn lại của các tài liệu trước mà không hề kiểm định mẫu vật.
Ngoài cây Mỡ ra thì liệu còn bao nhiêu loài cây khác hiện đang bị nhầm lẫn đó là câu hỏi rất khó lời chính xác. Tuy nhiên chúng ta có thể khắc phục được bằng việc thu thập mẫu vật và kiểm chứng thông qua phần mô tả hình thái ở tài liệu chuyên ngành và so sánh với mẫu chuẩn, đó mới là quy trình của phân loại thực vật thực sự.

Quản trị viên Phạm Văn Thế

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015

Có thể bảo tồn các loài động vật nguy cấp không?

Threatened-Species_AZE
Các hành động bảo tồn phải được tiến hành ngay lập tức và cần một khoản chi phí ước tính 1,3 triệu đô la Mỹ cho mỗi loài sẽ làm tăng đáng kể cơ hội sống sót cho các loài động vật có xương sống đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng.


Gần đây, một bài báo công bố trên tạp chí Current Biology đã kết luận rằng một tập hợp nhỏ các loài động vật có xương sống đang bị đe dọa có thể được bảo vệ, nhưng chỉ khi các nỗ lực bảo tồn phải được thực hiện ngay lập tức và với vốn đầu tư ước tính khoảng 1,3 triệu đô la Mỹ cho mỗi loài trong mỗi năm để đảm bảo quản lý và bảo vệ môi trường sống của các loài đó.

Các nhà nghiên cứu đã phát triển ra một "chỉ số cơ hội bảo tồn" (conservation opportunity index) sử dụng các chỉ số đo lường được để định lượng khả năng bảo tồn thành công đạt được của một loài, cả trong môi trường sống tự nhiên của nó và bằng cách thiết lập các quần thể bảo đảm trong các vườn thú. Họ đã tính toán chi phí, và cơ hội bảo tồn cho 841 loài động vật có vú, bò sát, chim và động vật lưỡng cư được liệt kê bởi Alliance for Zero Extinction (AZE; www.zeroextinction.org), bao gồm các loài có giới hạn phân bố duy nhất một điểm và các hạng mục như là Nguy cấp hoặc Cực kỳ nguy cấp dựa trên Danh lục đỏ IUCN về các loài bị đe dọa toàn cầu.

Ho-Panthera-tigris-altaica

 Hổ Siberi Panthera tigris altaica, loài đang được xếp vào tình trạng Nguy cấp của IUCN.
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%95_Siberi 

"Các điểm AZE được cho là những nơi hơn nhất không thể thay thế cho các khu vực bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng," Tiến sĩ A. Dalia Conde, tác giả chính của bài báo và là trợ lý giáo sư tại Trung tâm Odense Max-Planck, Đại học Nam Đan Mạch cho biết. "Những đánh giá cơ hội bảo tồn đã cho chúng ta thấy tính cấp bách của việc thực hiện các hành động quản lý trước khi quá muộn. Nó là khẩn thiết để xác định hợp lý các hoạt động bảo tồn đối với các loài, những loài mà chúng tôi đã thấy chúng có cơ hội bảo tồn thành công thấp nhất trong môi trường sống tự nhiên và vườn thú."

Trong khi nghiên cứu chỉ ra rằng 39% các loài có chỉ số cơ hội bảo tồn cao, thì cũng cho thấy ít nhất 15 loài AZE sắp có nguy cơ tuyệt chủng dựa trên chỉ số cơ hội bảo tồn thấp của chúng. Chỉ số thấp này là do một hoặc kết hợp của các yếu tố khác nhau như: khả năng đô thị hoá môi trường sống tự nhiên của chúng ngày càng cao, sự bất ổn chính trị trong các khu vực và/hoặc chi phí bảo vệ và quản lý môi trường sống cao. Ngoài ra, cơ hội thiết lập một quần thể đảm bảo trong các vườn thú cho 15 loài đó là thấp, hoặc là do chi phí cao hoặc thiếu chuyên môn về nhân nuôi các loài đó.

Ước tính tổng chi phí để bảo tồn 841 loài động vật có xương sống đó trong môi trường sống tự nhiên của chúng đã được tính toán là khoảng hơn 1 tỷ USD mỗi năm. Các chi phí hàng năm cho quản lý bổ sung trong các vườn thú là 160 triệu USD.
"Mặc dù chi phí có vẻ cao, nhưng việc bảo vệ những loài này là điều cần thiết nếu chúng ta muốn giảm tỷ lệ tuyệt chủng vào năm 2020," Giáo sư Hugh Possingham từ Đại học Queensland cho biết. "Khi so sánh với chi tiêu của các chính phủ trên toàn cầu về các lĩnh vực khác (ví dụ như nhỏ hơn 500 lần so với chi tiêu quốc phòng của Mỹ) thì khoản đầu tư này trong việc bảo vệ các điểm có giá trị đa dạng sinh học cao là nhỏ."

Các nhóm nghiên cứu đa ngành được dẫn đầu bởi Tiến sĩ A. Dalia Conde và Giáo sư John E. Fa từ Imperial College London (trước đây làm ở Durrell Wildlife Conservation Trust) và các nhà khoa học từ Trung tâm Odense Max-Planck tại Đại học Nam Đan Mạch, Đại học Queensland, Đại học Texas A&M, American Bird Conservancy, Nhóm Chuyên gia Bảo tồn Giống IUCN SSC (Conservation Breeding Specialist Group), Hệ thống Thông tin Loài Quốc tế (International Species Information System), và Hiệp hội Vườn thú và Bể nuôi Thế giới (World Association of Zoos and Aquariums - WAZA).
Giáo sư John E. Pa cho biết, "Nỗ lực của chúng tôi mang lại cho chúng ta hy vọng bảo tồn được nhiều loài bị đe doạ cao khỏi sự tuyệt chủng, nhưng các hành động cần được thực hiện ngay lập tức, và đối với những loài bị giới hạn ở một vị trí thì một cách bảo tồn tích hợp tiếp cận là cần thiết."

Bài báo đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tích hợp bảo vệ những nơi các loài cụ thể sống với các chương trình bảo đảm quần thể ở vườn thú bổ sung. Theo Tiến sĩ Onnie Byers, Chủ tịch Nhóm Chuyên gia Bảo tồn Giống IUCN SSC, "Câu hỏi đặt ra không phải là bảo vệ một loài trong trong tự nhiên hoặc vườn thú. Cách tiếp cận One Plan -. Kế hoạch tích hợp hiệu quả và việc sử dụng tối ưu các giới hạn tài nguyên, thông qua chuỗi quản lý từ tự nhiên đến sở thú - là điều cần thiết nếu chúng ta muốn có một hy vọng đạt được các mục tiêu Aichi Biodiversity Targets (Công ước Đa dạng Sinh học)".

Tiến sĩ Nate Flesness, Giám đốc Khoa học Hệ thống Thông tin Loài Quốc tế nhấn mạnh: "Chúng tôi muốn cảm ơn hơn 800 vườn thú ở 87 quốc gia đã đóng góp dữ liệu động vật và sưu tập cho Hệ thống Thông tin Loài Quốc tế, nơi mà các dữ liệu toàn cầu được thu thập cho phép nghiên cứu chiến lược bảo tồn như thế này. "

Tiến sĩ Markus Gusset ở Hiệp hội Vườn thú và Bể nuôi Thế giới thêm rằng "Những hành động bảo vệ môi trường sống để thành lập các quần thể bảo đảm trong các vườn thú là cần thiết nếu chúng ta muốn tăng cơ hội sống sót của loài."

Theo WAZA (http://www.waza.org/) / Dịch bởi nhóm BIODIVN (http://www.biodivn.com/)

Tài liệu tham khảo: Dalia A. Conde, Fernando Colchero, Burak Güneralp, Markus Gusset, Ben Skolnik, Michael Parr, Onnie Byers, Kevin Johnson, Glyn Young, Nate Flesness, Hugh Possingham & John E. Fa (2015) Opportunities and costs for preventing vertebrate extinctions. Current Biology 25(6): R219-R221.

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015

Tâm tình cùng các nàng hoa Cẩm cù!

Cam-cu-Hoya-1
Tôi là kẻ mắc nợ cỏ cây! Hứa hẹn hoài, giờ cảm xúc mới ùa về để kể cho các bạn nghe về loài Hoya tôi yêu.

Cái loài hoa làm mê mẩn lòng người. Thơm hương mỗi khi mở cửa, gió lùa vào phòng, hương Cẩm cù quyện theo gió, quẩn quanh trong nhà, theo vào trong giấc ngủ. Ôi! cái mùi hương nồng nàn khó quên. 

Mật Cẩm cù sóng sánh mỗi sớm mai thức dậy. Mấy nàng KeriiMeliflua mật nâu vàng óng tựa màu hổ phách, nàng Carnosa, nàng Pachyclada lại khác, giọt mật trong veo. 

Màu hoa và màu mật lẫn mùi hương của loài Hoya thật phong phú. 

Mỗi lần hoa nở, thò tay, chấm mật, đưa vào miệng, mật tứa ra, tan trên đầu lưỡi, ngọt lịm! Chả thế mà lũ bướm ong say mật cứ ùa về làm tổ quanh vườn.

Ngày còn bé, nhà tôi trong khu tập thể, ông nội có trồng một giàn Hoya carnosa. Ngày ấy không biết chỉ gọi đơn giản là Cẩm cù. Giàn Cẩm cù của ông sai hoa lắm, leo tứ tung lên cả tầng trên. Bông hoa năm cánh nở chùm chùm, ấn tượng quá, nên lũ bạn tôi bây giờ gặp lại mới thú nhận rằng ngày xưa toàn bẻ trộm hoa của ông liếm mật.

Lớn lên, mê mải bon chen, lặn ngụp mọi nẻo đường. Thời gian dài lâu, những tưởng lớp lớp cánh hoa Cẩm cù đã chìm vào quên lãng, chợt một ngày kia tôi gặp lại loài hoa ấy được bầy bán bên vệ đường. Ký ức tuổi thơ ùa về, chợt đầy ăm ắp!
Cam-cu-Hoya
 Một số loài hoa Cẩm cù. Ảnh Quế Garden

Kể từ ngày đó tôi bắt đầu trồng lại loài hoa năm cánh dễ thương ấy. Tôi mon men đến những hàng cây cảnh, dừng lại bên các bà bán cây dọc đường, rồi bắt đầu ra nhập Hội Cẩm cù Việt nam. Từ đó, tôi bắt đầu xây dựng bộ sưu tập Hoya.

Cũng như nhiều người bạn sưu tầm Hoya, cây Cẩm cù đầu tiên tôi trồng lại là Hoya white carnosa. Cái bông trắng ánh hồng như ngọc. Bây giờ, khi cư dân trong vườn Cẩm cù của tôi lên đến hơn trăm loại, tôi vẫn thấy bông white carnosa đẹp một cách thuần khiết. Đã vậy lại siêng hoa, suốt bốn mùa tôi đều được hít hà cái hương thơm ấy.

Vào dịp lễ hai mươi tháng mười cách đây bốn năm, đang lang thang ở một vườn lan, để tự thưởng cho mình một giò lan, ngó ngang ngó dọc, bỗng thấy một chậu cây xum xuê, lá tròn như đồng xu, hoa chùm năm cánh nhỏ xíu, đứng cạnh mà mùi thơm sực nức như ai vừa đánh đổ lọ nước hoa. Ông chủ vườn lan thấy mình mê mẩn mùi hương quá bèn ngắt một nhánh tặng cho mình trồng thử. Đó chính là gốc gác của chậu Hoya nummularioides khủng nhà mình.

Ngày mới chơi Cẩm cù, mình cứ loay hoay hoài với đám cutting. Có những lần mua cả ký Cẩm cù, mà may mắn lắm sống được một hai cây là cùng. 

Được cái tính lì từ nhỏ, bây giờ lại có ích, làm cách này không thành công, mình lại loay hoay thử cách khác. Cuối cùng cũng tìm ra cách chinh phục nàng Hoya.

Khi cây lên mầm ra lá rồi, lại dài cổ chờ hoa nở. Cả năm trời cây cứ xanh rì một màu lá. Lại nhủ lòng: không ra bông thì lá cũng đẹp mà, ta chơi lá vậy. Thế là mấy chục loại Hoya trong vườn cho mình một bộ sưu tập lá phong phú.

Sưu tầm Cẩm cù, chơi Cẩm cù một thời gian mình mới ngộ ra: yêu loài hoa này, học thêm được chữ NHẪN.

Hoya là một loài hoa thật đặc biệt. Chờ mãi rồi cũng đến ngày hoa nở. Hoa trả ơn người chăm nó, nở bất ngờ nhất khi ta không trông đợi. Cả chùm hoa năm cánh ngào ngạt tỏa hương, lóng lánh, đọng mật vào sáng ngày hôm sau, những giọt tròn sóng sánh như mật ong, quyến rũ lũ côn trùng tham ăn xà đến.

Đặc biệt hơn nữa, hoa lại nở ngay lại trên cồi nụ cũ. Những chấm li ti nhỏ bằng đầu tăm lớn dần, lớn dần rồi lại nở ra những chùm hoa mới.

Cây càng già, càng nhiều cồi nụ, càng sai hoa. Mỗi khi ngắm giàn Cẩm cù đầy hoa, tôi mỉm cười và ngẫm thấy loài Hoya đầy tính nhân bản, biết trả công cho người biết chờ biết đợi.

Càng tạo điều kiện cho các nàng Hoya leo trèo, các nàng càng dễ đơm bông. Mình đã từng thấy những chùm Cẩm cù giăng hoa từ gốc đến ngọn một cây cổ thụ.

Trước kia mơ ước không biết đến bao giờ có được hơn trăm loại Cẩm cù. Có được rồi lại tiếp tục mơ thêm vài giấc mơ nữa! 

Lại mơ được sống thanh thản giữa khu rừng Cẩm cù ngát hương.
Hoa Mặt Trời Quế/Quế Garden

Phát hiện Phụ loài Ốc núi Garnieria mới ở Sơn La

Oc-nui-Garnieria-mouhoti-nhuongi-1
Phụ loài ốc núi (subspecies) mới có tên khoa học Garnieria mouhoti nhuongi Do, 2015, được phát hiện ở dãy núi đá vôi thuộc xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

Phụ loài thuộc cỡ lớn, hình trụ dài, màu nâu sẫm với nhiều vệt chỉ ngắn, trắng trên mặt vỏ; miệng vỏ hình ôvan, vành miệng dày và mở rộng; chiều cao vỏ dao động 37-42 mm, chiều rộng vỏ 8-9 mm, số vòng xoắn 10-11.

Phụ loài ốc núi này sống bám trên đá, ưa sống những nơi có độ ẩm cao như các khe, rãnh, chúng sử dụng thức ăn là rêu, tảo sống bám trên bề mặt đá hoặc các vụn hữu cơ lắng đọng. Chúng hoạt động mạnh vào các tháng mùa mưa (khoảng tháng 5 đến tháng 10 hàng năm), đây cũng là giai đoạn chúng có hoạt động sinh sản. Mật độ cá thể trong quần thể nơi phát hiện loài này khá cao, khoảng 3-4 cá thể/m2.

Oc-nui-Garnieria-mouhoti-nhuongi
Phụ loài ốc núi mới Garnieria mouhoti nhuongi Do, 2015

Phụ loài Garnieria mouhoti nhuongi và nhiều loài ốc núi khác ngoài giá trị tạo nên tính đa dạng sinh học, là mắt xích quan trọng trong các chuỗi và lưới thức ăn, một số còn được dùng làm thực phẩm (như nhóm loài ốc miệng tròn Cyclophorus, ốc núi Camaena, ốc sên Achatina), trong y học và sản xuất đồ thủ công, chúng còn được đề xuất như nhóm sinh vật chỉ thị đa dạng động vật không xương sống ở những sinh cảnh tự nhiên và coi chúng như chỉ số của sự xáo trộn cho lớp phủ thảm thực vật.

Hiện nay, một số hoạt động của con người như phá rừng lấy đất canh tác, làm đường giao thông hay xây dựng các thủy điện, hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường sống của sinh vật nói chung và các loài ốc núi nói riêng. Năm 2014, Ủy Ban nhân dân và Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La đã có quyết định và nghị quyết về bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Sơn La đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, đây là một trong số nhiều biện pháp góp phần bảo tồn và gìn giữ tài nguyên sinh vật của tỉnh nhà.

Phụ loài mới Garnieria mouhoti nhuongi đã được tác giả Đỗ Đức Sáng và Đỗ Văn Nhượng công bố trên tạp chí chuyên ngành Ruthenica, Russian Malacologia Journal, Tập 25, Số 1, 2015.

Đỗ Đức Sáng (Trường Đại học Tây Bắc) <http://susta.vn>

Ruthenica, 2015, vol. 25, No. 1: 1-9. Published online February 16, 2015

The terrestrial snail family Clausiliidae (Gastropoda: Pulmonata) from Son La, Vietnam, with description of a new subspecies

DO DUC SANG - Department of Zoology, Faculty of Biology, Tay Bac University, Vietnam, E-mail: doducsangdhtb@gmail.com; 
DO VAN NHUONG - Faculty of Biology, Hanoi National University of Education, Vietnam 
urn:lsid:zoobank.org:pub:552854A9-D121-4508-AAFA-FC35D10FE65F

ABSTRACT. This paper reports the systematics of the Clausiliidae species occurring in Son La Province, Vietnam. Specimens of 15 species and subspecies of Clausiliidae from Son La were investigated based on their shell characteristics. The subspecies Garnieria mouhoti nhuongi subsp. nov. was collected in Phu Yen, Muong Do, approximately 200 km NE of the type locality of the nominotypical subspecies Garnieria mouhoti mouhoti. This is the first species of genus Garnieria Bourguignat, 1877 from Vietnam

http://www.ruthenica.com/documents/vol25_1-09_Do_Do


a

Hai loài Chân kép mới ở Lào và mô tả lại bốn loài ở Việt Nam

Hai loài chân kép (Cuốn chiếu) mới cho khoa học là Desmoxytes rhinoceros và Desmoxytes rhinoparva phát hiện ở Nam và Bắc Lào đã được các nhà khoa học Thái Lan và Nga mô tả và minh hoạ, và vừa được công bố trên tạp chí Zootaxa 3931 (4): 483–504.

Desmoxytes-enghoffi
Desmoxytes enghoffi Nguyen et al. 2005, từ Quảng Bình

Thêm vào đó 4 loài chân kép khác cũng thuộc giống Desmoxytes được công bố bởi Carl Attems năm 1938 ở Việt Nam đã được mô tả lại. Đó là: Desmocytes aspera, D. pilosa, D. spectabilis  D. cervaria


Giống chân kép Desmoxytes còn được gọi là chân kép rồng hay cuốn chiếu rồng (Dragon millipede) do hình dạng giống những con rồng trong truyền thuyết. Hiện nay, đã có 35 loài cuốn chiếu rồng đã được ghi nhận, phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, đã gặp 13 loài chân kép rồng. 



Two new species of dragon millipedes, genus Desmoxytes Chamnerlin, 1923, from Laos (Diplopoda: Polydesmida: Paradoxosomatidae), with redescriptions of all four species of Attems from Vietnam

NATDANAI LIKHITRAKARN, SERGEI I. GOLOVATCH, SOMSAK PANHA

Abstract
Two new species of Desmoxytes are described and abundantly illustrated: D. rhinoceros sp. n. and D. rhinoparva sp. n., from southern and northern Laos, respectively. Illustrated redescriptions of all four Vietnamese Desmoxytes species proposed by Carl Attems are also provided, based on type material.

Keywords
Millipede, Desmoxytes, new species, Laos

http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3931.4.2

http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03931p504f.pdf

Loài Vi tảo mới Mallomonas fimbriata phát hiện ở Cam Ranh

Vi-tao-Mallomonas
Ảnh minh hoạ Mallomonas
Một loài vi tảo mới cho khoa học mang tên Mallomonas fimbriata vừa mới được phát hiện ở các vũng nước thuộc Vịnh Cam Ranh tỉnh Khánh hoà bởi nhà khoa học Evgeniy Sergeevich Gusev và được công bố trên tạp chí Phytotaxa 195(4: 291-296).

Việc mô tả được thực hiện trên việc quan sát hình thái các vảy silica bằng kính hiển vi điện tử quét và truyền. Loài mới này có 3 loại vảy: vảy cơ thể hình bầu dục, những vảy đuôi thô, dài, phía trước tạo thành gai và kéo dài, phát triển rộng ra thành vảy đỉnh. Vảy dày, 3 lớp, cấu tạo mắt lưới bên trong. Vi tảo Mallomonas fimbriata có hình thái khá giống với M. fenestrata, và tạo thành một nhóm đặc biệt với các nét đặc trưng độc đáo của cấu trúc vảy, gần tổ Retrorsae và Quadratae.

Nhóm Biodivn biên tập

A new species of the genus Mallomonas (Synurales, Chrysophyceae), Mallomonas fimbriata, sp. nov.

Evgeniy Sergeevich Gusev

Abstract


Mallomonas fimbriatasp. nov. is described from bog pool, located in Cam Ranh Peninsula, Khanh Hoa Province, Central Vietnam. The description is based on silica-scale morphology studied by means of transmission and scanning electron microscopy. New species has 3 types of scales: oval body scales, caudal ones with robust, long, forward pointing spines and elongated, widened to distal part apical scales. Scales are thick, 3-layered, with inner reticulation. Mallomonas fimbriata and the similar M. fenestrata form a special group with unique features of scales structure close to the sections Retrorsae and Quadratae.

Keywords

Mallomonas, Synurales, Chrysophyceae, Mallomonas fimbriata, sp. nov., new species
http://www.biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.195.4.4

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Tại sao chồn cưỡi trên lưng chim gõ kiến?

Chon-cuoi-chim-go-kien-1

Một bức ảnh tuyệt vời, ghi lại cuộc chiến giữa một con thú săn mồi và một con chim săn mồi đã lan truyền chóng mặt.


Theo BBC, bức ảnh của tác giả Martin Le-May chụp một con chồn cưỡi trên lưng một con chim gõ kiến đã được nhanh chóng chia sẻ sau khi xuất hiện trên mạng xã hội, và được nhiều hãng truyền thông thế giới đưa tin.

Không phải là đi quá giang nhờ con chim gõ kiến, mà con chồn thực sự vừa đánh chén xong một bữa ngon. Quả là một cảnh có lẽ vô cùng hiếm gặp.

Tiếng kêu quang quác đầy đau đớn, tắc nghẹn và một bóng xanh lướt qua đã khiến Martin Le-May và vợ, Ann, để ý. Khi đó, họ đang tản bộ quanh công viên Hornchurch Country Park ở London.

Núp sau thân cây và quan sát từ xa bằng ống nhòm, hai vợ chồng ông sửng sốt chứng kiến cảnh ẩu đả dữ dội giữa một con chim gõ kiến xanh và một con chồn.

Rồi một điều cực kỳ bất ngờ xảy ra: Chú chim gõ kiến bay lên trong lúc vẫn đang bị con chồn đeo bám trên lưng. Và cảnh tượng kỳ lạ đó đã được ghi lại vào ống kính máy ảnh.

Chon-cuoi-chim-go-kien-2

Chon-cuoi-chim-go-kien-3

"Tôi chưa từng bao giờ thấy cái gì như thế," Tiến sỹ Stuart Marsden từ khoa Sinh thái học của Đại học Manchester Metropolitan, Anh quốc nói. Ông là người nghiên cứu chuyên sâu về chim gõ kiến xanh.

Chồn là loài thú săn mồi hung dữ. Chúng thường tấn công các loài động vật có vú. Chúng có thể bắt được các con mồi lớn hơn chúng, thậm chí săn cả thỏ. Nhưng chúng rất hiếm khi tấn công các con chim.

"Tôi không nghĩ là chim gõ kiến hay bị chúng tấn công," Tiến sỹ Marsden nói. Tuy nhiên, chim gõ kiến là loài sống trên mặt đất, còn chồn thì hay tìm ăn trứng và con non của loài chim này; đôi khi các con chim bố mẹ tìm cách đánh lại để bảo vệ tổ.

Ông nghĩ rằng chim gõ kiến có lẽ đang kiếm ăn trong bụi cỏ thì bị phục kích. Thức ăn chủ yếu của loài chim này là kiến.

"Không giống như các loài chim khác, chúng chủ yếu bỏ thời gian kiếm mồi trên mặt đất, tìm thức ăn ở các tổ kiến."

"Con chồn sẽ ngồi rình và chờ cơ hội để săn được bất cứ con mồi nào nó ăn được. Chúng thực sự giảo hoạt và thông minh."

"Thật không may là trong trường hợp này, nó đã bị cho 'thăng thiên'," ông nói

Iolo Williams, nhà tự nhiên học đồng thời là một người hoạt động trong lĩnh vực truyền thông nói với BBC: "Đây quả thật là những bức hình tuyệt vời. Nên nhớ là chồn rất phàm ăn - tôi đã từng chứng kiến cảnh chúng săn được cả những con thỏ trưởng thành."

"Chúng là những con thú săn mồi rất đáng gờm, cho nên tôi không nghĩ là việc nó săn một con chim gõ kiến thì lại là chuyện đáng nói."

"Điều đáng nói ở đây là chuyện những gì diễn ra đã được ống kính máy ảnh ghi lại."
So sánh giữa chồn và chim gõ kiến

Chim gõ kiến xanh khi trưởng thành thì đạt khoảng 32cm chiều dài, còn chồn đực khoảng 20-22cm và chồn cái 15-18cm.

Về trọng lượng, chim gõ kiến xanh nặng từ 180g đến 220g, còn các con chồn trưởng thành thường nặng từ 106g đến 131g, nếu là chồn đực, và 55-69g nếu là chồn cái.

Tiến sỹ Marsden nói với BBC Earth: "Với một con chim như thế thì việc bay được lên khỏi mặt đất với một trọng lượng nặng như vậy trên lưng thì quả là rất ấn tượng."

Nhiều ảnh 'chế' cảnh chồn cưỡi chim đã được tung ra

Chon-cuoi-chim-go-kien-4
trong đó có cả hình Tổng thống Nga Vladimir Putin

Chon-cuoi-chim-go-kien-5
Tài tử điện ảnh John Travolta cũng xuất hiện cùng "cặp đôi" chim-chồn


Chon-cuoi-chim-go-kien-6

... và thêm nhiều ý tưởng ngộ nghĩnh khác

Theo BBC

Kỳ nhông khổng lồ sắp tuyệt chủng vẫn bị ăn

Ky-Nhong-Trung-Quoc-1

Loài lưỡng cư lớn nhất thế giới này thật là đặc biệt. Chúng là những gì còn sót lại từ thời khủng long, và các con đực là "sư phụ về hang" - bậc thầy về việc dùng hang, tổ - và có tiếng kêu như tiếng trẻ em khóc. Hiện chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Không mấy khi ta nghe thấy có loài động vật nào được gọi là "sư phụ về hang". Nhưng kỳ giông khổng lồ Trung Quốc thì đúng là thế thật.

Chúng có những cái hang nuôi con dưới nước, thường là các hốc lớn dưới các tảng đá hay trong các khe, rãnh, nơi chúng để vài con cái chui vào đẻ các ổ trứng. Rồi "sư phụ về hang" sau đó sẽ canh gác và trông nom chỗ trứng trong vòng hơn một tháng, cho tới khi trứng nở.

Kỳ giông khổng lồ Trung Quốc là loài lưỡng cư lớn nhất còn lại trên thế giới. Chúng có thể dài tới 1,8m, chiều dài mà không phải con người ai cũng đạt được. Chúng cũng rất nặng, tới 50kg.

Ky-Nhong-Trung-Quoc-2

Thế nhưng nòng nọc khi mới nở từ trứng kỳ giông ra chỉ dài 3cm.

"Hãy tưởng tượng một con sa giông trong hồ cảnh ở vườn nhà bạn phát triển tới kích cỡ đó," Andrew Cunningham từ Hội Động vật học London, Anh quốc, nói. "Trông giống như là thấy một người trưởng thành bằng xương, bằng thịt vậy."

Chúng đã là nguồn cảm hứng cho rất nhiều sự tích, huyền thoại trong văn hóa Trung Quốc. Biểu tượng nổi tiếng Âm - Dương được cho là khởi nguồn từ hai con kỳ giông khổng lồ Trung Quốc quyện vào nhau.

Kỳ giông còn được gọi là "oa oa ngư", tức "cá hài nhi" do chúng khi tức giận có tiếng kêu giống như tiếng trẻ con khóc.

Chúng cũng thuộc về một giống cổ đại. Họ nhà kỳ giông, tên khoa học là Cryptobranchidae, tồn tại từ 170 triệu năm về trước.

Các con kỳ giông khổng lồ hiện đại thường được gọi là "hóa thạch sống" bởi chúng trông rất giống với các loài họ hàng cổ xưa. Chúng hầu như không thay đổi gì kể từ thời khủng long bạo chúa Tyrannosaurus rex tới nay, theo lời Cunningham.

Ky-Nhong-Trung-Quoc-3
Những con vật kỳ diệu này đang ngày càng trở nên hiếm hoi trong đời sống hoang dã. Kể từ thập niên 1950 tới nay, số lượng kỳ giông khổng lồ Trung Quốc đã giảm đi nhanh chóng. Hiện chúng được liệt vào danh sách các loài bị đe dọa nghiêm trọng, Danh sách Đỏ của Hội Bảo vệ Đời sống Hoang dã Quốc tế.

Ngành công nghiệp chăn nuôi kỳ giông ngày càng phát triển là lý do chính cho tình trạng trên, dẫu cho ngành này mới chỉ xuất hiện chừng một thập niên trở lại.

Kỳ giông được cho là rất ngon, bất chấp việc chúng thuộc nhóm động vật cần bảo vệ. Hơn nữa, kích cỡ to lớn khiến chúng là nguồn cung cấp thực phẩm rất hấp dẫn.

Do đó, kỳ giông trong đời sống hoang dã thường bị bắt đem về nuôi. Những kẻ săn bắt trộm kiếm được rất nhiều tiền từ việc này.

Càng bị săn bắt khỏi đời sống hoang dã, số lượng kỳ giông càng giảm mạnh một cách nhanh chóng bởi các kỳ giông non cần mất nhiều năm mới đạt được độ trưởng thành để giao phối, sinh sản.

Khi chúng còn nhiều thì việc săn bắt còn dễ dàng, theo Cunningham. Nhưng khi số lượng giảm nhiều thì người ta lại dùng các biện pháp tàn khốc hơn để săn bắt, như dùng tới thuốc nổ, giật điện, thuốc trừ sâu v.v... khiến hủy hoại hầu hết các sinh vật sinh sống ở đoạn sông có kỳ giông.
Ky-Nhong-Trung-Quoc-4

Đáng tiếc là các biện pháp trừng phạt đối với các đối tượng bị bắt về tội phạm này lại rất thấp, theo lời Cunningham. "Thậm chí còn có trường hợp cơ quan bảo vệ môi trường thực ra lại đi mua [kỳ giông] từ những kẻ săn bắt trộm rồi đem bán cho các trại chăn nuôi."

Bệnh dịch truyền nhiễm lan nhanh chóng tại các trang trại đó, đe dọa tới kỳ giông hoang dã. Nếu hai nhóm kỳ giông phối giống với nhau thì đó sẽ đem tai ương tới cho các kỳ giông hoang dã bởi những con được nuôi trong trang trại thường có xu hướng mắc bệnh bẩm sinh nhiều hơn.

Một cuộc điều tra gần đây cho thấy nếu số lượng kỳ giông tiếp tục bị đe dọa theo xu hướng hiện nay thì loài này sẽ sớm tuyệt chủng khỏi đời sống hoang dã.

Nhưng tin tốt là nhờ xác định được các mối đe dọa, nên các nhà bảo tồn thiên nhiên nói họ đang quyết tâm bảo vệ loài động vật này.

Đóng cửa các trang trại là điều không khả thi, theo lời Cunningham. "Ngành này quá lớn mạnh, và chính quyền Trung Quốc từ cấp trung ương, tỉnh tới địa phương đều đã đầu tư quá nhiều tiền vào nó."

Thay vào đó, ông nói các trang trại cần phải được quản lý tốt hơn. Chẳng hạn như các con kỳ giông bị đánh bắt sẽ không được thả lại vào đời sống tự nhiên.

Trước đây, chính quyền đã khuyến khích việc thả kỳ giông bị bắt nhằm nỗ lực tăng số lượng loài này trong đời sống tự nhiên. Thế nhưng việc đó gây hại nhiều hơn lợi, theo lời Cunningham.
Ky-Nhong-Trung-Quoc-5

Các con vật được thả ra thì không được kiểm tra về dịch bệnh, cho nên chúng có thể làm lây lan bệnh ra cho các con khác. Chúng cũng không được theo dõi để đánh giá xem liệu nỗ lực làm tăng dân số cho loài này có đem lại kết quả gì hay không.

Do đó, Cunningham và các đồng nghiệp của ông khuyến cáo các con kỳ giông hoang dã bị đánh bắt cần phải được giữ riêng biệt. Chúng cần phải được gắn microchips nhằm phân biệt với các con hoàn toàn hoang dã.

"Đây là một trong những loài động vật đặc biệt nhất trên hành tinh," Cunningham nói. "Trung Quốc cần phải học cách nâng niu loài vật này. Chỉ có vậy thì kỳ giông mới có tương lai."

Melissa Hogenboom - Theo BBC

Loài Ve sầu mới phát hiện ở Ninh Bình

Ve-Sau-Pomponia-brevialata-1
 Một loài ve sầu mới cho khoa học, có tên là Pomponia brevialata, đã được phát hiện ở Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.

Gần đây, các nhà khoa học của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Trường Đại học Connecticut, Hoa Kỳ và Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ đã nghiên cứu về phân loại học của giống ve sầu Pomponia ở Việt Nam và Cămpuchia. Kết quả nghiên cứu đã công bố 1 loài mới cho khoa học và ghi nhận thêm 1 loài mới cho khu hệ ve sầu của Cămpuchia.

Loài ve sầu mới cho khoa học được đặt tên là Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015. Loài này được phân biệt với các loài khác của nhóm loài Pomponia linearis bởi các đốm vệt màu nâu trên gân r, r-m, và m của cánh trước; bụng con đực hình phễu. Loài này giống với loài Pomponia cinctimanus (Walker, 1850) và loài Pomponia ramifera (Walker, 1850) (cả hai loài đều phân bố ở Sylhet, Bănglađét). Tuy nhiên, loài này phân biệt với hai loài trên bởi các gai của clasper hẹp hơn và dài hơn rõ rệt cũng như các đốm vệt màu nâu trên cánh trước.

Ve-Sau-Pomponia-brevialata
Hình 1: Loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, cơ thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bụng. E, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Mẫu vật nghiên cứu của loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015 được thu tại Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật nghiên cứu được lưu giữ tại Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Với việc công bố thêm loài mới này đã nâng số tổng loài thuộc giống Pomponia lên 36 loài. Trong đó Việt Nam có 5 loài. 

Loài ve sầu ghi nhận mới cho khu hệ ve sầu Cămpuchia là loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009. Loài này được công bố là loài mới cho khoa học từ năm 2009 với mẫu vật thu được ở Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ve-Sau-Pomponia-backanensis
Hình 2: Loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Nguồn tin: Phạm Hồng Thái
Theo Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

Tóm tắt nội dung bài báo được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3925 (4): 562–572 

Cicada genus Pomponia Stål, 1866 (Hemiptera: Cicadidae) from Vietnam and Cambodia, with a new species, a new record, and a key to the species 

HONG-THAI PHAM1,4, YOUNG JUNE LEE 2 & JEROME CONSTANT 3 
1 Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet St, Hanoi, Vietnam. E-mail: phamthai@vnmn.vast.vn 
2 Department of Ecology and Evolutionary Biology, University of Connecticut, 75 North Eagleville Road, Storrs, CT 06269, USA 
3 Royal Belgian Institute of Natural Sciences, Department of Entomology, Vautierstreet 29, B-1000 Brussels, Belgium 
4 Corresponding author 

Abstract 
The genus Pomponia Stål, 1866 from Vietnam and Cambodia is reviewed . Pomponia brevialata Lee & Pham, sp. nov. is described from Vietnam. Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009 is added to the Cambodian cicada fauna. A key to the seven Vietnamese and Cambodian species of the genus Pomponia Stål, 1866 is provided: P. linearis (Walker, 1850), P. backanensis Pham & Yang, 2009, P. brevialata Lee & Pham, sp. nov., P. subtilita Lee, 2009, P. piceata Distant, 1905, P. daklakensis Sanborn, 2009, and P. orientalis (Distant, 1912). Synonymic lists, information on geographical distributions, and material examined for the Vietnamese and Cambodian species of Pomponia are provided. 

Key words: Auchenorrhyncha, Psithyristriini, Pomponia brevialata, Pomponia backanensis, Pomponia linearis, Pomponia subtilita, Pomponia piceata, Pomponia daklakensis, Pomponia orientalis, distribution.
For final version: http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03925p572f.pdf