Hiển thị các bài đăng có nhãn Quang Ninh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quang Ninh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 21 tháng 1, 2015

Mười chín loài Nhện mới công bố

Nhen-viet-nam
Công bố mười chín loài nhện mới cho khoa học phát hiện được ở phía Bắc Việt Nam

Đây là kết quả hợp tác giữa TS. Phạm Đình Sắc thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và các nhà khoa học Trung Quốc.

Mười chín loài nhện mới này thuộc họ Pholcidae, được mô tả dựa trên các mẫu vật thu thập ở các tỉnh Bắc Cạn, Phú Thọ, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Ninh Bình và Quảng Bình. Chúng không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có giá trị thực tiễn cao, nhiều loài có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, đặc hữu của Việt Nam. Bên cạnh đó, loài nhện còn được biết đến như là những thiên địch quan trọng góp phần phòng chống tổng hợp sâu hại bảo vệ cây trồng. Mô tả của 19 loài mới được công bố trên Tạp chí Quốc tế chuyên ngành Zootaxa, 3909(1): 82pp (monograph, tháng 1 năm 2015).

1. Loài Nhện Pholcus bifidus 

Nhen-Pholcus-bifidus
Loài Pholcus bifidus được phát hiện ở trong hang Tượng, vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc giống Pholcus bởi sự có mặt của các mấu lồi trên chân kìm của con đực, các gai sinh dục dài và nhọn, hơi cong, hóa kitin cứng; cơ quan sinh dục cái nhô hẳn ra ngoài.

2. Loài Nhện Pholcus caecus 

Nhen-Pholcus-caecus
Loài Pholcus caecus được phát hiện ở trong động Thiên Đường, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài nhện này phân biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi kích thước cơ thể rất nhỏ; nhện không có mắt; xuất hiện đôi sừng cong và sắc nhọn ở mặt trên của giáp đầu ngực.

3. Loài Nhện Pholcus hochiminhi 

Nhen-Pholcus-hochiminhi
Loài Pholcus hochiminhi được phát hiện ở trong động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự loài Pholcus aduncus Yao & Li, 2012, nhưng khác loài Pholcus aduncus ở đặc điểm phần cuối của xúc biện con đực kéo dài, xuất hiện mấu lồi trên xúc biện, hành cong mạnh, mắt chia 2 vùng và nổi hẳn lên tạo hai khối.


4. Loài Nhện Pholcus phami

Nhen-Pholcus-phami
Loài Pholcus phami được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt với các loài khác của giống Pholcus bởi chân kìm con đực có hai đôi mấu lồi lớn ở mép; trên hành có nhiều gai hình con dao; bộ phận sinh dục cái hóa kitin với một mấu lồi hình chiếc gậy chạy dọc.


5. Loài Nhện Pholcus zhaoi

Nhen-Pholcus-zhaoi
Loài Pholcus zhaoi được phát hiện ở trong hang Sơn Động, vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này giống với loài Pholcus undatus Yao & Li, 2012 nhưng khác loài Pholcus undatus bởi sự có mặt của mấu lồi lớn hình thang; hành có 2 rãnh sâu xẻ dọc.


6. Loài Nhện Belisana babensis

Nhen-Belisana-babensis
Loài Belisana babensis được phát hiện ở trong động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này tương tự như loài Belisana strinatii Huber, 2005 nhưng khác loài Belisana strinatii bởi có có đốt chuyển trên xúc biện con đực và có gai cong lớn xuất hiện trên hành.


7. Loài Nhện Belisana cheni

Nhen-Belisana-cheni
Loài Belisana cheni được phát hiện ở trong hang Pắc Chấn, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là loài sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu cho Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác thuộc giống Belisanna do xuất hiện hai mấu lồi màu đen kéo dài ở mặt dưới của chân kìm; xuất hiện 2 túi nằm 2 bên của bộ phận sinh dục cái.


8. Loài Nhện Belisana clavata

Nhen-Belisana-clavata
Loài Belisana clavata được phát hiện ở núi Tây Côn Lĩnh, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Đây là loài sống trong rừng tự nhiên, ở độ cao 1816 mét so với mặt biển. Loài này khác biệt so với các loài khác thuộc giống Belisanna do có các mấu lồi hình chùy hóa kitin cứng trên chân kìm; và xuất hiện 1 gai lớn trên mấu lồi hình chùy.







9. Loài Nhện Belisana curva

Nhen-Belisana-curva
Loài Belisana curva được phát hiện ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Đây là loài sống ở bụi rậm, ở độ cao 440 mét so với mặt biển. Loài này giống với loài Belissana xiangensis Yao & Li, 2013 nhưng khác loài Belissana xiangensis do xuất hiện một tấm chắc lớn hóa kitin trên bề mặt của hành, và một đôi gai cong sắc nhọn trên đầu giáp đầu ngực.


10. Loài Nhện Belisana decora

Nhen-Belisana-decora
Loài Belisana decora được phát hiện ở vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Đây là loài sống ở rừng thứ sinh, ở độ cao 284 mét so với mặt biển. Loài này khác biệt với tất cả các loài khác thuộc giống Belisanna bởi sự có mặt của những chiếc gai cong trên xúc biện con đực và xuất hiện các u lồi hóa kitin cứng trên bộ phận sinh dục cái.

11. Loài Nhện Belisana halongensis 

Nhen-Belisana-halongensis
Loài Belisana halongensis được phát hiện ở động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Belisanna bởi sự có mặt của mấu lồi hình ngón tay trên hành của xúc biện; trên giáp đầu ngực mặt trên có 1 tấm hóa kitin cứng hình ca vát, mặt dưới 1 tấm hình cái bát.

12. Loài Nhện Belisana phungae

Nhen-Belisana-phungae
Loài Belisana phungae phát hiện được ở động Nà Phòng, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Belisanna bởi sự xuất hiện của các tấm la men lớn, dẹt, phẳng trên bề mặt xúc biện con đực; và cửa ngoài của cơ quan sinh dục cái có cấu trúc dạng túi

13. Loài Nhện Belisana pisinna 

Nhen-Belisana-pisinna
Loài Belisana pisinna phát hiện được ở động Tiên, Vịnh Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này có kích thước cơ thể rất nhỏ; giáp đầu ngực tròn; có các tấm bên tạo hình tam giác trên bề mặt xúc biện; hành không có gai.




14. Loài Nhện Belisana triangula

Nhen-Belisana-triangula
Loài Belisana triangula phát hiện được ở hang La, vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự loài Belisanna phurua Huber, 2005 nhưng khác loài Belisanna phurua bởi khoảng cách giữa các mấu lồi trên xúc biện con đực lớn; hành có hình lưỡi dao; có hai vuốt lớn, cong, mọc đối xứng trên hàm.



15. Loài Nhện Belisana vietnamensis

Nhen-Belisana-vietnamensis
Loài Belisana vietnamensis phát hiện được ở vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Loài này phân bố ở rừng tự nhiên, ở độ cao 386 mét so với mặt biển. Loài này có một cặp mấu lồi nhỏ trên chân kìm con đực, và một đôi túi dẹt trên cửa ngoài của bộ phận sinh dục cái.

16. Loài Nhện Belisana zhengi

Nhen-Belisana-zhengi
Loài Belisana zhengi phát hiện được ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Loài này phân bố ở sinh cảnh bụi rậm, ở độ cao 440 mét so với mặt biển. Loài này không có các mấu lồi trên chân kìm, nhưng có các mấu lồi dài màu đen thẫm xuất hiện trên hành của xúc biện con đực. 





17. Loài Nhện Khorata dangi

Nhen-Khorata-dangi
Loài Khorata dangi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này tương tự loài Khorata dongkou Yao & Li, 2010 nhưng khác loài Khorata dongkou do hành phân ra 2 lớp; có các vảy nhỏ trên chân kìm; có 2 gai hình lưỡi câu trên xúc biện con đực.



18. Loài Nhện Khorata huberi

Nhen-Khorata-huberi
Loài Khorata huberi phát hiện được ở động Puông, vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này khác biệt so với các loài khác của giống Khorata bởi sự có mặt của một cặp mấu lồi hình củ ấu ở hàm trên con đực; có 4 mấu lồi ở mặt dưới của bụng con cái.

19. Loài Nhện Khorata protumida

Nhen-Khorata-protumida
Loài Khorata protumida phát hiện được ở hang Bảy Tầng, vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình. Đây là có đời sống chuyên biệt trong môi trường hang động, là loài đặc hữu ở Việt Nam. Loài này giống loài Khorata khammouan Huber, 2005 nhưng khác loài Khorata khammouan do có các tấm la mel tạo hình vòm như tổ tò vò ở hàm dưới con đực; có 4 mấu lồi ở hàm trên; cửa ngoài bộ phận sinh dục cái hóa kitin cứng, nổi rõ thành bờ.

Bài và ảnh Phạm Đình Sắc (Photos by Pham Dinh Sac). Theo http://www.vast.ac.vn/

Zootaxa 3909 (1): 001–082

Pholcid spiders (Araneae: Pholcidae) from northern Vietnam, with descriptions of nineteen new species

ZHIYUAN YAO, DINH SAC PHAM, SHUQIANG LI

Abstract 
Five genera and 26 species belonging to two subfamilies Arteminae Simon, 1893 (one genus and one species) and Pholcinae C.L. Koch, 1850 (four genera and 25 species) are reported from northern Vietnam, including 19 new species of three genera: Belisana babensis sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. cheni sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. clavata sp. nov. (male; Ha Giang), B. curva sp. nov. (male; Vinh Phuc), B. decora sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. halongensis sp. nov. (male; Quang Ninh), B. phungae sp. nov. (male, female; Bac Kan), B. pisinna sp. nov. (male; Quang Ninh), B. triangula sp. nov. (male; Phu Tho), B. vietnamensis sp. nov. (male, female; Ninh Binh), B. zhengi sp. nov. (male; Vinh Phuc), Khorata dangi sp. nov. (male; Bac Kan), K. huberi sp. nov. (male, female; Bac Kan), K. protumida sp. nov. (male, female; Quang Binh), Pholcus bifidus sp. nov. (male, female; Quang Binh), P. caecus sp. nov. (male, female; Quang Binh), P. hochiminhi sp. nov. (male, female; Quang Ninh), P. phami sp. nov. (male, female; Bac Kan), and P. zhaoi sp. nov. (male; Ninh Binh). One genus Khorata Huber, 2005 and five species Belisana schwendingeri Huber, 2005, B. sepaku Huber, 2005, Khorata digitataYao & Li, 2010, Leptopholcus podophthalmus (Simon, 1893), and Pholcus bangfai Huber, 2011 are reported from Vietnam for the first time. Additional new records are given for two species Leptopholcus huongson Huber, 2011 and Physocyclus globosus (Taczanowski, 1874).

Keywords: Taxonomy, morphology, new record, Arteminae, Pholcinae, Southeast Asia

For final version: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3909.1.1
http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03909p082f.pdf

Thứ Năm, 18 tháng 12, 2014

Thực vật Hạ Long và loài mới Munronia petiolata

Munronia petiolata
Vịnh Hạ Long thuộc tỉnh Quảng Ninh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, cách Hà Nội 165 km. Phía Bắc bị án ngữ bởi các dãy núi thấp ở Bãi Cháy và Hòn Gai, phía Tây và Nam giáp với các đảo lớn thuộc quần đảo Cát Bà, ngoài khơi xa phía Đông là các dãy đảo lớn thuộc quần đảo Trà Bản.
Vùng Vịnh này là một biển đảo thuộc thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và huyện Vân Đồn, có diện tích 1553 km2 bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ tong đó 980 hòn đã có tên. Khu vực được UNESCO công nhận là Di sản Thiên nhiên Thế giới bao gồm 788 hòn đảo, có diện tích là 434 km2 trong đó 460 hòn đã có tên.
Địa hình khu Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long là các đảo, núi xen kẽ giữa các trũng biển, là vùng bằng cát mặn có sú vẹt mọc và những đảo đá vôi vách đứng rất tương phản nhau.
limestone-in-ha-long-bay
Địa hình thường thấy ở các đảo đá vôi Vịnh Hạ Long. Ảnh Đỗ Tiến Thành (BQLVHL)
Nghiên cứu thực vật ở Vịnh Hạ Long xưa nhất có lẽ thuộc về công trình Thực vật chí Đại cương Đông Dương (Flore Generale de l’Indo-Chine) do Lecomte chủ biên xuất bản từ 1907 tới 1950. Trong công trình khoa học này, các nhà thực vật Pháp đã thu mẫu và thống kê được 73 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc về 35 họ, 58 chi phân bố ở khu vực này.
Chirita-halongensis
Khổ cử hạ long (Chirita halongensis), là loài mới được tìm thấy năm 2000 và cũng là loài đặc hữu của Vịnh Hạ Long. Ảnh Đỗ Tiến Thành (BQLVHL)
Trong năm 1999 , dưới sự giúp đỡ và tài trợ về kinh phí của Ban quản lý Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long, Đại sứ quán Vương quốc Hà Lan, tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tại Việt Nam, một nhóm gồm hai chuyên gia thực vật là TS. Nguyễn Tiến Hiệp của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, TS. Ruth Kiew của Vườn thực vật Singapore và hoạ sỹ Wendy Gibb đã tiến hành nhiều đợt khảo sát thực địa tại khu di sản. Kết quả của sự hợp tác nghiên cứu này là đã xuất bản cuốn sách nhỏ về Thực vật tự nhiên ở Vịnh Hạ Long giới thiệu 38 loài thực vật phổ biến có hình vẽ màu minh hoạ của Vịnh Hạ Long và công bố 7 loài thực vật mới cho khoa học từ Vịnh Hạ Long.

Cycas-tropophylla
Loài thiên tuế hạ long (Cycas tropophylla), loài đặc hữu và mới phát hiện ở Vịnh Hạ Long năm 2004. Ảnh Đỗ Tiến Thành (BQLVHL)
Vào năm 2003, trong luận văn tốt nghiệp đại học của Phạm Văn Thế đã ghi nhận 450 loài thực vật phân bố tại khu vực một số đảo đá vôi Vịnh Hạ Long. Các loài thực vật này thuộc 3 nghành đó là: Ngành thực vật không hạt ( Thực vật khuyết, Dương xỉ) - Polypodiophyta; Nhành Hạt trần - Gymnospermae ; Nghành Hạt kín - Magnoliophyta- Angiospermae. Luận văn này cũng ghi nhận vùng phân bố mới của loài Địa lan tím Zeuxinella vietnamica và bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam loài Cỏ xuyên lá bóng Phyllocyclus lucidissimus.

Gần đây nhất, các nhà thực vật học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật Việt Nam (VAST) và Vườn Thực vật Hoàng gia Anh đã phát hiện và mô tả một loài thực vật mới cho thế giới vốn được tìm thấy tại khu vực đảo đá vôi Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh. Công bố này vừa mới được đăng tải bởi tạp chí Blumea của Hà Lan.
Loài cây mới có tên khoa học là Munronia petiolata N.T.Cuong, D.T.Hoan & Mabb., tạm gọi là Mung rô cuống lá dài
Munronia petiolata-2
Loài mới Munronia petiolata trong môi trường tự nhiên. Ảnh tư liệu của BQL Vịnh Hạ Long.
Loài thực vật này thuộc họ Xoan (Meliaceae). Chúng là loài có dạng cây bụi nhỏ, cao 30-60 cm, hoa trắng, điểm đặc biệt là cuống lá dài đến 4,5 cm và được dùng làm tính ngữ đặt tên loài. Chúng được tìm thấy mọc tại một số đảo đá vôi Vịnh Hạ Long, nơi các loài khác phổ biến như Huyết giác (Dracaena cambodiana), Màng kiêng (Pterospermum truncatolobatum), Sảng (Sterculia lanceolata)
Phạm Văn Thế ghi chép
Về bài báo mới công bố loài mới:
Blumea 59, 2014: 139–141
Munronia petiolata (Meliaceae), a new species from Vietnam
N.T. Cuong (cuongntc1979@yahoo.com); D.T. Hoan; D.J. Mabberley
Abstract: The genus Munronia (Meliaceae) is briefly reviewed and its representation in Vietnam discussed. In consequence a new species, Munronia petiolata, is described; so far known only from Ha Long Bay, it is distinct from all known simple-leaved species, most strikingly, in its long petioles.
For more detail please see: DOI: http://dx.doi.org/10.3767/000651914X685834