Hiển thị các bài đăng có nhãn insect. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn insect. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 16 tháng 5, 2015

Loài Ong cự mới cho khoa học từ Việt Nam: Phalgea maculata

Coleocentrus_excitator2_lindsey
Minh hoạ Ong cự trong phân họ Acaenitinae. Ảnh Wikipedia
Các nhà khoa học Việt Nam và Hà Lan vừa công bố 1 loài côn trùng mới cho thế giới được phát hiện từ Việt Nam. Thêm vào đó, 1 loài côn trùng khác cùng họ cũng lần đầu tiên được ghi nhận ở nước ta, trước đây chỉ thấy phân bố ở Trung Quốc.

Acaenitinae là một phân họ có trên 250 loài thuộc họ Ong cự Ichneumonidae. Mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu về sinh học của Acaenitinae nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng phân họ này bao gồm các loài ngoại ký sinh của các loài sâu sống trong gỗ. 

Ong-cu-Ichneumonidae_Wiki
Minh hoạ Ong cự họ Ichneumonidae. Ong cự thường có thân nhỏ, mảnh và dài, râu dài. Ảnh Wikipedia

Phalgea là một giống ong nhỏ chỉ gồm hai loài được ghi nhận trước đây ở Ma-lai-xia và Trung Quốc. 

Dựa trên các mẫu vật thu được gần đây, cả hai loài thuộc giống ong này đã được phát hiện ở Việt Nam, chúng bao gồm Phalgea maculata và P. melaptera

Trong đó loài Ong cự Phalgea maculata Pham & Achterberg là loài mới cho khoa học. 

Về mặt hình thái, P. maculata tương đối giống với loài P. melaptera Wang ở Trung Quốc. 

Tuy nhiên loài mới ở Việt Nam có thể phân biệt với loài ở Trung Quốc bởi sự xuất hiện của một đốm vàng trên ô marginal của cánh trước, đồng thời hai đốm trong trên gân 2m-cu của cánh trước hoàn toàn phân tách với nhau. 

Đây là những đại diện đầu tiên của phân họ Acaenitinae được ghi nhận ở Việt Nam. Công bố này được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3947 (1): 146–150.

Biên tập: TS. Phạm Thị Nhị (ptnhi2@yahoo.com)- Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, VAST


A review of the genus Phalgea Cameron (Hymenoptera: Ichneumonidae: Acaenitinae) with description of a new species from Vietnam

NHI THI PHAM, CEES VAN ACHTERBERG
Abstract: 
In this paper, the genus Phalgea is reviewed. A new species, Phalgea maculata sp. nov., is described and illustrated from Vietnam. In addition, P.melaptera Wang 1989 is recorded as new for the country. It is the first time the subfamily Acaenitinae is reported from Vietnam.

Keywords: 
Phalgea, new species, new record, parasitoid, Vietnam

Links: http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3947.1.11
http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03947p150f.pdf

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Loài Ve sầu mới phát hiện ở Ninh Bình

Ve-Sau-Pomponia-brevialata-1
 Một loài ve sầu mới cho khoa học, có tên là Pomponia brevialata, đã được phát hiện ở Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.

Gần đây, các nhà khoa học của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Trường Đại học Connecticut, Hoa Kỳ và Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ đã nghiên cứu về phân loại học của giống ve sầu Pomponia ở Việt Nam và Cămpuchia. Kết quả nghiên cứu đã công bố 1 loài mới cho khoa học và ghi nhận thêm 1 loài mới cho khu hệ ve sầu của Cămpuchia.

Loài ve sầu mới cho khoa học được đặt tên là Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015. Loài này được phân biệt với các loài khác của nhóm loài Pomponia linearis bởi các đốm vệt màu nâu trên gân r, r-m, và m của cánh trước; bụng con đực hình phễu. Loài này giống với loài Pomponia cinctimanus (Walker, 1850) và loài Pomponia ramifera (Walker, 1850) (cả hai loài đều phân bố ở Sylhet, Bănglađét). Tuy nhiên, loài này phân biệt với hai loài trên bởi các gai của clasper hẹp hơn và dài hơn rõ rệt cũng như các đốm vệt màu nâu trên cánh trước.

Ve-Sau-Pomponia-brevialata
Hình 1: Loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, cơ thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bụng. E, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Mẫu vật nghiên cứu của loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015 được thu tại Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật nghiên cứu được lưu giữ tại Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Với việc công bố thêm loài mới này đã nâng số tổng loài thuộc giống Pomponia lên 36 loài. Trong đó Việt Nam có 5 loài. 

Loài ve sầu ghi nhận mới cho khu hệ ve sầu Cămpuchia là loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009. Loài này được công bố là loài mới cho khoa học từ năm 2009 với mẫu vật thu được ở Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ve-Sau-Pomponia-backanensis
Hình 2: Loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Nguồn tin: Phạm Hồng Thái
Theo Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

Tóm tắt nội dung bài báo được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3925 (4): 562–572 

Cicada genus Pomponia Stål, 1866 (Hemiptera: Cicadidae) from Vietnam and Cambodia, with a new species, a new record, and a key to the species 

HONG-THAI PHAM1,4, YOUNG JUNE LEE 2 & JEROME CONSTANT 3 
1 Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet St, Hanoi, Vietnam. E-mail: phamthai@vnmn.vast.vn 
2 Department of Ecology and Evolutionary Biology, University of Connecticut, 75 North Eagleville Road, Storrs, CT 06269, USA 
3 Royal Belgian Institute of Natural Sciences, Department of Entomology, Vautierstreet 29, B-1000 Brussels, Belgium 
4 Corresponding author 

Abstract 
The genus Pomponia Stål, 1866 from Vietnam and Cambodia is reviewed . Pomponia brevialata Lee & Pham, sp. nov. is described from Vietnam. Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009 is added to the Cambodian cicada fauna. A key to the seven Vietnamese and Cambodian species of the genus Pomponia Stål, 1866 is provided: P. linearis (Walker, 1850), P. backanensis Pham & Yang, 2009, P. brevialata Lee & Pham, sp. nov., P. subtilita Lee, 2009, P. piceata Distant, 1905, P. daklakensis Sanborn, 2009, and P. orientalis (Distant, 1912). Synonymic lists, information on geographical distributions, and material examined for the Vietnamese and Cambodian species of Pomponia are provided. 

Key words: Auchenorrhyncha, Psithyristriini, Pomponia brevialata, Pomponia backanensis, Pomponia linearis, Pomponia subtilita, Pomponia piceata, Pomponia daklakensis, Pomponia orientalis, distribution.
For final version: http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03925p572f.pdf

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

Giống và loài ruồi mới Melastrongygaster orbitalis

Ruoi-den-Melastrongygaster-orbitalis-Credit_Shima-2
Một giống ruồi và một loài mới cho khoa học được phát hiện ở Việt Nam:
Tiến sỹ Hiroshi Shima thuộc Trường Đại học Kyushu, Nhật Bản vừa công bố một giống và 5 loài ruồi mới cho khoa học. Trong đó, có một loài mới được mô tả từ các mẫu vật thu ở Việt Nam. 


Giống Ruồi đen Melastrongygaster tộc Strongygastrini, họ Tachinidae, bộ Hai cánh (Diptera) được mô tả mới cho khoa học với loài chuẩn Melastrongygaster atrata từ Nhật Bản và Hàn Quốc, và 4 loài khác: M. chaoi và M. fuscata từ Trung Quốc, M. kambaitiana từ Miến Điện và M. orbitalis từ Việt Nam. 

Loài Ruồi đen trán tròn Megastrongygaster orbitalis được thu ở Bảo Lộc, Lâm Đồng, Việt Nam. Loài được phân biệt bởi các đặc điểm: cơ thể dài 5.5-6.4mm; đầu đen, tròn; có một rãnh đen sáng chạy từ mép trong của tấm tròn trước về sau; râu dài khoảng ¾ so với mặt; ngực có màu đen bóng. Cánh có màu nâu nhạt, nhưng đậm hơn ở phần gốc. 

Ruoi-den-Melastrongygaster-orbitalis-Credit_Shima-1
Loài Ruồi đen trán tròn: Melastrongygaster orbitalis từ Việt Nam. Ảnh Shima 

Tộc Strongygastrini trước đây chỉ gồm 2 giống Strongygaster và Arcona, với tổng số 10 loài phân bố trên thế giới. Việc phát hiện giống Megastrongygaster với các đặc điểm bổ sung về cơ quan giao phối đã khẳng định vị trí phân loại của tộc Strongygastrini trong phân họ Phasinae, họ Tachinidae

Đây là giống và loài ruồi mới đầu tiên phát hiện trong năm nay. Năm 2014 cũng đã có 9 loài Ruồi mới cho khoa học được phát hiện từ Việt Nam gồm:
- Bốn loài Ruồi đen Simulium mới ở Vĩnh Phúc
- Phát hiện hai loài Ruồi mới ở Lào Cai
- Ba loài ruồi đen mới phát hiện ở Thừa Thiên Huế

Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Zootaxa 3904 (3): 427–445 (7/1/2015)

Biên tập: Nguyễn Đức Anh

Zootaxa 3904 (3): 427–445 (7 Jan. 2015)

Melastrongygaster, a new genus of the tribe Strongygastrini (Diptera: Tachinidae), with five new species from Asia 

HIROSHI SHIMA
Kyushu University Museum, Kyushu University, Hakozaki, Fukuoka 812-8581, Japan. E-mail: shimarcb@kyudai.jp

Abstract. A new genus with five new species of the Tachinidae is described: Melastrongygaster gen. nov., M. atrata sp. nov. (type species) from Japan and South Korea, M. chaoi sp. nov. from China, M. fuscata sp. nov. from China, M. kambaitiana sp. nov. from Myanmar and M. orbitalis sp. nov. from Vietnam. Melastrongygaster belongs to the tribe Strongygastrini and the subfamilial position of the tribe is discussed.

Links: http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03904p445f.pdf
http://www.biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3904.3.9

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Hai loài chuồn chuồn mới ghi nhận cho Việt Nam

chuon-chuon-indothemis-carnatica
90 loài Chuồn chuồn thuộc 60 giống, 15 họ đã được ghi nhận tại các Vườn Quốc gia Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Bể và Trạm đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc). Đó là kết quả khảo sát của các nhà khoa học gồm TS. Phạm Hồng Thái thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Mỹ thực hiện ở các địa điểm trên.

Trong đó, có hai loài mới chỉ ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam:

Chuồn chuồn Car-na-tic Indothemis carnatica thuộc họ Libellulidae, được Fabricius mô tả khoa học đầu tiên năm 1798. Đây la một loài khá hiếm được ghi nhận bản địa tại một số vùng ở Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, và Malaysia. Do vùng phân bố bị giới hạn và thường xuyên bị thu hẹp bởi sự mở rộng của con người nên nó được đánh giá là Sắp bị đe dọa (NT) trong Danh lục đỏ thế giới của IUCN. Vì thế, phát hiện thêm vùng phân bố này có ý nghĩa đáng kể. Chúng được phát hiện tại môi trường gần các hồ, đầm lầy ở Vường Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình.

Chuồn chuồn Kat Macromia katae thuộc họ Macromiidae, được Wilson miêu tả khoa học đầu tiên năm 1993. Loài này hiện tại chỉ được biết đến ở bốn địa điểm trong rừng thứ sinh đất thấp ở Trung Quốc (Quảng Đông và Hải Nam) và Hồng Kông, và Lào gần biên giới Việt Nam. Chúng được đánh giá là Sẽ nguy cấp (VU) trong Danh lục đỏ thế giới của IUCN

chuon-chuon-Macromia-katae

Chúng sinh sống tại vùng suối dốc, có dòng chảy nhanh, nơi ấu trùng được tìm thấy bám vào rễ cây. Ngoài ra chúng cũng được tìm thấy ở các vùng nước tĩnh. Ở Việt Nam chúng được phát hiện tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc. 

Công bố này được đăng tải trên tạp chí Check List 2015, 11(1): 1514

Phạm Văn Thế và Nguyễn Đức Anh 

Check List 11(1): 1514, January 2015 

First records of Macromia katae(Macromiidae) and Indothemis carnatica (Libellulidae) from Vietnam (Insecta: Odonata)

Natalia von Ellenrieder (1*), Martin Hauser (1), Stephen D. Gaimari (1) and Thai H. Pham (2)
1. Plant Pest Diagnostics Center, California Department of Food and Agriculture, 3294 Meadowview Road, Sacramento, CA 95832-1448, USA
2. Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet Street, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
* Corresponding author. E-mail: natalia.ellenrieder@gmail.com

Abstract: In the course of two field trips to Northern Viet-nam during March 2012 and June 2014 the dragonflies and damselflies of three National Parks (Cuc Phuong, Tam Dao, and Ba Be) and one Biodiversity Station (Melinh) were sampled. A total of 90 species of odonates in 60 genera and 15 families was recorded, including two new records for Vietnam: Macromia katae (Macromiidae) and Indothemis carnatica (Li-bellulidae). Diagnostic illustrations for these two species are provided, as well as the listing of the species recorded from the surveyed areas.

For more details: doi: http://dx.doi.org/10.15560/11.1.1514
http://biotaxa.org/cl/article/view/11.1.1514

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2014

Bốn loài Cánh cứng chân chạy mới phát hiện

Amphimenes-guttatus
Tiến sỹ Fedorenko D.N. thuộc Viện các Vấn đề về Sinh thái và Tiến hóa Liên bang Nga đã phát hiện và công bố bốn loài cánh cứng chân chạy mới cho khoa học ở Việt Nam. Các loài mới thuộc hai giống Amphimenes và Taridius, họ Cánh cứng chân chạy (Carabidae), bộ Cánh cứng (Coleptera).


Loài cánh cứng Amphimenes guttatus Fedorenko, 2014 phát hiện ở VQG Cát Bà, Hải Phòng. Loài có chiều dài từ 5,9-7,2 mm, màu sắc khá nổi bật, màu đen trên lưng, các mép bên của tấm cổ và cánh có màu vàng hung (vàng hơi đỏ). Trên mỗi cánh, có hai đốm vàng hung, đốm trước tròn, hơi nghiêng về rãnh lưng, đốt sau hình elip, nằm sát đường lưng. Đầu và tấm cổ có màu xỉn, cánh có màu sáng hơn. Mắt lớn, hình bán cầu điển hình. Râu khá dài. Tấm cổ nằm ngang, có chiều rộng gấp 1,48 lần chiều dài, và rộng gấp 1,56 lần so với đầu; phần rộng nhất của tấm cổ ở ngay tơ bên. Cánh có hình tứ giác, với chiều dài gấp 1,45 lần so với chiều rộng; chỗ rộng nhất ở chính giữa.

Loài cánh cứng Amphimenes planipennis Fedorenko, 2014 phát hiện ở VQG Xuân Sơn, Phú Thọ. Loài có cơ thể hơi mập, màu đen; dài khoảng 5,3-6,2 mm. Đầu thường đen nâu hoặc nâu đen, với phần trán hơi đỏ; các mép bên của tấm cổ, cánh có mầu đỏ sẫm (đỏ đen); chân, râu có màu vàng hung. Đầu và tấm cổ hơi xỉn mầu, cánh có màu sáng hơn. Mắt hơi dẹt. Râu tương đối dài. Tấm cổ có dạng hình chữ nhật hoặc hình trái tim, với chiều rộng gấp 1,37 lần chiều dài, và gấp 1,45 lần chiều rộng của đầu; rộng nhất ở phần tơ bên. Cánh có dạng hình trái xoan lớn, chiều dài gấp 1,36 lần chiều rộng, có chiều rộng gấp 1,66 lần so với tấm cổ.
Amphimenes-micros
Loài cánh cứng Amphimenes micros Fedorenko, 2014 phát hiện ở VQG Chư Yan Sin, Đắk Lắk. Loài có cơ thể thon và nhỏ, dài khoảng 4,7 mm. Đầu và tấm cổ có màu xỉn, cánh có màu sáng hơn. Mắt nhỏ và hơi dẹt. Râu ngắn, và không dài quá tấm cổ. Tấm cổ hình trái tim, có chiều rộng gấp 1,29 lần chiều dài, và gấp 1,47 lần so với đầu; rộng nhất ở phần có tơ bên. Cánh có hình chữ nhật, có chiều dài gấp 1,40 lần chiều rộng, và chiều rộng của cánh gấp 1,54 lần so với tấm cổ.
Taridius-marginipennis


Loài cánh cứng Taridius marginipennis Fedorenko, 2014 phát hiện ở Lâm Đồng. Loài có cơ thể dẹt, dài từ 6,8-7,7 mm, màu đen hoặc đen nâu; chân, các mép bên của tấm cổ có màu vàng hung; tấm cổ có màu hung (đỏ) ở phần đầu và đuôi. Mắt lồi khá rõ. Tấm cổ nằm ngang, hình trái tim; chiều rộng gấp 1,41 lần, và gấp 1,29 lần so với đầu, chỗ rộng nhất ở cách đỉnh 1/3. Cánh có hình trái xoan nằm nghiêng, chiều dài gấp 1,46 lần chiều rộng, và có chiều rộng gấp 1,65 lần so với tấm cổ. 

Hai giống Amphimenes và Taridius mới chỉ ghi nhận được 20 và 19 loài tương ứng, và là các giống còn ít được nghiên cứu. Việc phát hiện các loài này càng làm rõ tính đa dạng sinh học và đặc hữu của khu hệ động vật Việt Nam



 (Nguồn: Fedorenko, 2014: http://kmkjournals.com/upload/PDF/REJ/23/ent23_4_305_315_Fedorenko_for_Inet.pdf)

Thứ Tư, 24 tháng 12, 2014

Loài Côn trùng cánh nửa mới ở Lâm Đồng

Caliscelidae-credit-kiwipedia
Một giống và loài côn trùng cánh nửa mới Annamatissus tami vừa được các nhà khoa học phát hiện mới cho thế giới ở Việt Nam. (Ảnh minh hoạ)

Chúng được các nhà khoa học Nga và Pháp tìm thấy tại khối núi Bì Đoúp - Lâm Đồng. Sau khi phân tích kỹ lưỡng các đặc điểm hình thái, các nhà khoa học đã quyết định chúng là một giống mới và đặt tên là Annamatissus

Loài mới được đặt tên là Annamatissus tami nhằm kỷ niệm TS. Trương Quang Tâm (Tp. Hồ Chí Minh), người đã tổ chức chuẩn bị các giấy tờ cho chuyến điều tra của nhóm tác giả kể trên

Như vậy giống mới này là giống thứ hai thuộc phân tông Caliscelini, đồng thời là giống thứ 10 của họ Côn trùng cánh nửa Caliscelidae ở Việt Nam.

Trong 10 giống của họ Côn trùng cánh nửa này ở Việt Nam thì có 8 giống thuộc phân họ Ommatidiotinae và 2 giống thuộc phân họ Caliscelinae.

Công bố này được vừa được tạp chí chuyên khảo Zootaxa đăng trên số 3900(2), trang 255–262 

DOI: http://dx.doi.org/10.11646/zootaxa.3900.2.5

A new genus of the tribe Caliscelini (Hemiptera, Fulgoroidea, Caliscelidae) from Vietnam 

VLADIMIR M. GNEZDILOV, THIERRY BOURGOIN, ADELINE SOULIER-PERKINS

Abstract: A new genus Annamatissus Gnezdilov et Bourgoin gen. nov., including the new species, Annamatissus tami Gnezdilov et Soulier-Perkins sp. nov. is described in the family Caliscelidae from the Bi-Doup massif in Lam Dong Province of Vietnam. The new taxon represents only the second genus of the tribe Caliscelini known from Vietnam. An identification key to separate Gelastissus Kirkaldy from Annamatissus gen. nov. is provided together with a check list of the Caliscelidae of Vietnam and their distribution. New distribution data in Vietnam are given for Cicimora sicildia Emeljanov, 1998 and Gelastissus hokutonis (Matsumura, 1916).

For more detail please go:  http://www.mapress.com/zootaxa/2014/f/z03900p262f.pdf
http://www.biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3900.2.5

Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

Loài côn trùng mới dài thứ hai thế giới

Loài côn trùng mới dài thứ hai 

Một phân loài bọ que có kích thước dài thứ hai trong thế giới côn trùng. Chúng có chiều dài cơ thể lên đến 32 cm, tính cả râu thì lên đến nửa mét. Nó được các nhà khoa học phát hiện ở Đông Bắc Việt Nam.






Hai nhà sinh vật học là tiến sĩ Joachim Bresseel và tiến sĩ Jerome ở Viện Khoa học Tự nhiên Hoàng gia Bỉ đã phát hiện ra hai loài bọ que mới và là một phân loài mới của Bộ Bọ que từ các khu rừng của Việt Nam.



Phân loài mới là Bọ que yên tử được đặt tên Phryganistria heusii yentuensis, là côn trùng thứ hai dài nhất được biết cho đến nay.





Tiến sỹ Joachim Bresseel đang cầm 1 con Bọ que yên tử cái Phryganistria heusii yentuensis dài 31,7-cm . Ảnh: Joachim Bresseel / Jerome Constant.



Loài côn trùng giữ kỷ lục dài nhất trên thế giới thuộc về loài bọ que Phobaeticus chani. Nó được tìm thấy trên đảo Borneo của Indonesia với chiều dài cơ thể lên đến 36 cm.



Theo nhóm nghiên cứu, Bọ que yên tử Phryganistria heusii yentuensis được phát hiện tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử nằm ở huyện Lục Nam và Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, cách Hà Nội khoảng 150 km về phía Đông Đông Bắc. Một mẫu khác của của Bọ que yên tử cũng được tìm thấy tại núi Mẫu Sơn, cách thành phố Lạng Sơn khoảng 30 km về phía Đông



Hai loài mới cho khoa học khác được phát hiện từ Việt Nam là: 



Bọ que trụ Phobaeticus trui được phát hiện tại miền trung Việt Nam


Loài Bọ que trụ Phobaeticus trui, con đực. Ảnh: Joachim Bresseel / Jerome Constant.



và loài Bọ que tam đảo Phryganistria tamdaoensis được phát hiện tại Vườn Quốc Gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.








Loài bọ que tam đảo Phryganistria tamdaoensis, con đực. Ảnh: Joachim Bresseel / Jerome Constant.






Côn trùng bọ que được biết đến xuất hiện đầu tiên trong các hoá thạch cách đây khoảng 40 triệu năm trước đây và có liên quan đến gián, bọ ngựa và xa hơn là châu chấu và dế.



Hiện nay trên thế giới có khoảng 3000 loài được biết đến, chủ yếu sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi một số loài có thể dài đến 30 cm.



Chúng là những loài côn trùng di chuyển chậm chạp, và có những hành vi khó hiểu được cho là phù hợp với lối sống của nó. Khi bị phát hiện, hoặc nguy hiểm thì chúng thường thả mình xuống đất và bất động, rất ít khi chúng bay đi mất. Một số loài khi nguy hiểm có thể rụng chân đánh lừa, sau đó các chân này mọc lại theo thời gian.



Tất cả các loài côn trùng bọ que đều là động vật ăn thực vật, kể cả con non lẫn trưởng thành thường ăn lá cây, cỏ.



Mô tả chi tiết về hai loài và một phân loài bọ que mới này được công bố trên tạp chí mở European Journal of Taxonomy, tập 104.



Đây là công bố thứ hai sau loài bọ que gai kỳ dị được phát hiện ở Thừa Thiên Huế ở Viêt Nam trong năm 2014.
 Theo http://www.sci-news.com/



European Journal of Taxonomy. No 104 (2014): pp. 1-38
Giant Sticks from Vietnam and China, with three new taxa including the second longest insect known to date (Phasmatodea, Phasmatidae, Clitumninae, Pharnaciini)Joachim Bresseel, Jérôme Constant



Abstract: Two new species and one subspecies of Pharnaciini, belonging to two different genera, are described from Vietnam: one species and subspecies of Phryganistria Stål, 1875 and one species of Phobaeticus Brunner von Wattenwyl, 1907. Two species currently attributed to the genus Ramulus Saussure, 1862, Ramulus magnus (Brunner von Wattenwyl, 1907) and R. chinensis (Brunner von Wattenwyl, 1907), are transferred to Baculonistria Hennemann & Conle, 2008 comb. nov. Phobaeticus longicornis Bi & Wang, 1998 and Phobaeticus yuexiensis Chen & He, 1993 represent the male and female of Baculonistria magnus (Brunner von Wattenwyl, 1907) syn. nov. A lectotype is designated for Baculonistria chinensis (Brunner von Wattenwyl, 1907). The genus Baculonistria now contains three species. Nearchus bachmaensis Ta & Hoang, 2004 is transferred to Phryganistria and the new combination Phryganistria bachmaensis (Ta & Hoang, 2004) comb. nov. is proposed. The species is redescribed and the authors’ attribution corrected, the egg is described and figured for the first time. Phryganistria tamdaoensis sp. nov. is described and figured from both sexes and the egg. Females of P. tamdaoensis sp. nov. are easily recognised by the conspicuously enlarged lanceolate cerci, a character previously unknown in this tribe. The distribution range of Phryganistria heusii heusii (Hennemann & Conle, 1997) is extended to Tam Dao National Park. A new subspecies Phryganistria heusii yentuensis subsp. nov. is described from Tay Yen Tu Nature Reserve from adult males and females and the eggs. Males can easily be distinguished from the nominal subspecies by their colouration. This huge subspecies represents the second longest insect recorded to date. A key to the species of the genus Phryganistria is provided. Phobaeticus trui sp. nov. is described from central Vietnam. It is the first species of Phobaeticus recorded from Vietnam. Adults of both sexes are illustrated.



For more detail please see at http://dx.doi.org/10.5852/ejt.2014.104
thế giới

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Ruồi bọ cạp và 'hôn nhân bạo lực'

scorpionfly_nocredit
Quá trình tiến hóa ở một trong số các loại ruồi bọ cạp khiến con đực biết dùng một kỹ năng rất tinh quái để níu giữ con cái và kéo dài thời gian giao phối.


Ruồi bọ cạp là loại côn trùng có ngòi giống như ngòi bọ cạp ở phần bụng dưới, nhưng ngòi của chúng không có ngạnh.

Ở ruồi bọ cạp thuộc nhóm Dicerapanorpa, các con đực cũng có một cặp “sừng hậu môn” to bè, nằm lui lên trên cái ngòi một chút.

Nghiên cứu khoa học cho thấy cặp sừng này giúp các con đực bám chặt được vào con cái, khiến bạn tình không thể chống cự hoặc chạy thoát.

Để tìm hiểu tính năng của cặp sừng, ông Văn Trọng và các đồng nghiệp tại Đại học Nông Lâm Tây Bắc ở Dương Lăng, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, đã nuôi loài côn trùng này trong phòng thí nghiệm.

scorpionfly-2
Con đực dùng cặp sừng khóa chặt phần bụng con cái, không cho bạn tình bỏ chạy (Hìnht: Wen Zhong/Wiley)

Họ theo dõi hai nhóm, mỗi nhóm gồm 80 con đực giao phối với các con cái.

Sừng của các con ở một nhóm bị bọc kín bởi keo dính và đất sét, khiến bộ phận này không hoạt động được.

Ở nhóm không bị bọc sừng, có 78 trong số 80 con đực giao phối thành công, trong khi ở nhóm kia, tỷ lệ chỉ đạt 37.

Điều này cho thấy cặp sừng ở hậu môn là một công cụ rất quan trọng cho việc giao hoan và kiểm soát bạn tình.
Lãng mạn

Ông Văn Trọng phát hiện ra rằng việc tán tỉnh cũng là một mối quan hệ tốn nhiều thời gian đối với ruồi bọ cạp.

Đầu tiên, con đực tiết ra chất pheromones tình dục nhằm mời gọi, hấp dẫn con cái có thể đang quanh quẩn đâu đó.

scorpionfly-3

Con đực cũng đập cánh phành phạch để khoe mẽ và đung đưa cong lên hạ xuống phần bụng. Giai đoạn này có thể kéo dài tới hàng giờ đồng hồ.

Khi con cái tới gần, con đực dùng sừng hậu môn quặp lấy bụng con cái, khóa chặt cô nàng trong khoảng từ 70 đến 140 phút.

Lúc này, con cái sẽ xoay người cố rũ con đực ra và đập cánh gấp gáp.

Để kiểm soát tình hình và đưa con cái trở lại làm 'nhiệm vụ', con đực sẽ tặng con cái một 'món quà cưới' mà nó tiết ra từ tuyến nước bọt.

Quá trình giao phối tạm dừng để con cái nếm náp rồi thưởng thức món quà đặc biệt.

Sau đó, con đực lại tiếp tục việc chính còn con cái thì tiếp tục ăn.

Con đực lại quắp lấy con cái, lần này bằng cả sừng ở hậu môn lẫn một công cụ hỗ trợ trông giống như cái ngàm ở phía bụng trên.

scorpionfly-4

Bằng cách này, con đực có thể kéo dài thời gian giao phối cho tới cả sau khi con cái đã xơi hết món quà.

Sừng hậu môn và ngàm của con đực hoạt động rất hiệu quả, nên có lúc chúng không buồn quà cáp cho bạn tình.

Trong khoảng một nửa các cuộc giao phối, con đực tìm được cách bám chặt bất chấp con cái giãy giụa mà không bận tâm cho con cái chút quà gì.

Tuy vậy, bất chấp sự xảo quyệt của con đực, các con cái cũng có ít nhiều quyền quyết định chọn cha cho các con mình.

Một nghiên cứu khác cho thấy các con cái có thể đón nhận nhiều tinh trùng hơn từ các con đực có tặng quà.

Leif Engqvist từ Đại học Bern, Thuỵ Sỹ, đã nghiên cứu nhiều các nhóm ruồi bọ cạp khác nhưng nói những cái sừng này là điều mới mà ông chưa từng chứng kiến trước đây.

"Nhiều công cụ nhằm níu giữ đã được phát triển trong quá trình tiến hoá ở loài ruồi bọ cạp, liên quan tới chuyện tình dục," Engqvist nói.

scorpionfly-5
Cuộc giao phối thường bị gián đoạn chút ít khi con cái chấp nhận 'món quà cưới' từ con đực (Hình: Wen Zhong/Wiley)

Melissa Hogenboom at  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/