
Gần đây có nhiều
tranh luận về tên các loài cây Mỡ và Vàng tâm, và đã có nhiều chuyên gia về phân
loại thực vật lên tiếng về tên khoa học chính xác của chúng.
Tuy nhiên, không ít người vẫn còn nhầm lẫn, thậm chí trang Từ điển Bách khoa trực tuyến mở Wikipedia cũng chưa rõ ràng về các loài cây này. Vậy để làm rõ hơn, xin mời quý vị độc giả đọc chi tiết những thông tin được cung cấp dưới đây.
Tuy nhiên, không ít người vẫn còn nhầm lẫn, thậm chí trang Từ điển Bách khoa trực tuyến mở Wikipedia cũng chưa rõ ràng về các loài cây này. Vậy để làm rõ hơn, xin mời quý vị độc giả đọc chi tiết những thông tin được cung cấp dưới đây.
Những loài Cây
cảnh, Bóng mát nào nên trồng ở đường phố Hà Nội
Trong bài này,
tên tiếng Việt được trích dẫn từ cuốn sách Cây Cỏ Việt Nam (CCVN) của GS. Phạm
Hoàng Hộ, Sách Đỏ Việt Nam 2007 (SĐVN) và dựa trên lý lịch mẫu được lưu tại Bảo
tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. Tất cả các tên khoa học đã được chấp nhận bởi Vườn
Thực vật Hoàng gia Anh và Vườn Thực vật Mít-xu-ri Hoa Kỳ đăng tải trên trang
‘The Plantlist’.
- Vàng tâm
[1]: Magnolia conifera (Dandy) V.S.Kumar [2,
9]
Tên đồng nghĩa: Magnolia
conifera var. conifera
Manglietia
conifera Dandy
Tình trạng bảo tồn: Danh lục đỏ quốc tế mức LC (Ít lo ngại)
[6]


Ảnh mẫu tiêu bản chuẩn (Holotype) và lý lịch
loài Vàng tâm Magnolia
conifera (Ảnh MNHN)
Theo tìm hiểu của
tác giả thì tên gọi ‘Vàng tâm’ trong nhân dân chính là loài này và có tên khoa
học là Magnolia conifera. Tên tiếng
Việt ‘Vàng tâm’ này đã được nhắc đến trong cuốn
sách của GS. Phạm Hoàng Hộ. Và quan trọng hơn nó được ghi rõ ràng trong lý lịch
tiêu bản mẫu chuẩn (Holotype) của loài được thu bởi F. Fleury ngày 2
tháng 6 năm 1918 tại Ba Vì, Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội). Mẫu này mang số hiệu của
người thu mẫu là 37817, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204406 và hiện đang
được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. F. Fleury cũng ghi rõ tên địa
phương chúng được gọi là ‘hông hit’. Ban đầu mẫu này được
định loại nhầm là Manglietia glauca (nay tên
này trở thành tên đồng nghĩa của loài Magnolia
sumatrana var. glauca). Nhưng H.P.
Nooteboom năm 1987 đã định loại chúng chính là loài Manglietia
conifera, và được xác nhận lại bởi Chen Bao Liang vào năm
1991.
Đây là loài mọc
tự nhiên ở Việt Nam (Lào Cai, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Lâm Đồng, Bình
Định, Hà Nội (Ba Vì)) [1, 6], và Trung Quốc [1, 5, 6]. Chúng được xếp vào nhóm
cây trang trí, làm thuốc và lấy gỗ đóng đồ gia dụng [5, 6]. Như vậy trải qua gần
thế kỷ, tên gọi ‘Vàng tâm’ vẫn đúng với loài Magnolia
conifera.
-
Dạ hợp dandy [1], Vàng tâm (4): Magnolia
dandyi Gagnep. [3, 9]
Tên đồng nghĩa: Magnolia megaphylla (Hu &
W.C.Cheng) V.S.Kumar
Manglietia
dandyi (Gagnep.) Dandy
Manglietia megaphylla Hu
& W.C.Cheng
Manglietia
sinoconifera F.N.Wei
Tình trạng bảo tồn: Danh lục đỏ quốc tế mức LC (Ít lo
ngại) [7]; Sách đỏ Việt Nam 2007 mức VU (Sẽ nguy cấp) [4].

Ảnh mẫu tiêu bản chuẩn (Holotype) loài Dạ hợp
dandy Magnolia
dandyi (Ảnh MNHN)
Loài Magnolia
dandyi này trong SĐVN gọi là ‘Vàng tâm’,
còn trong CCVN gọi là ‘Dạ hợp dandy’. Mẫu chuẩn (Holotype) loài này được
thu bởi E. Poilane tại Luang Prabang, Lào ngày 4 tháng 4 năm 1932. Mẫu này mang
số hiệu của người thu mẫu là 20714, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204418
và hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. Chúng được định
loại là Manglietia dandyi bởi GS. Nông Văn Tiếp
năm 1978 và được xác nhận lại bởi Chen Bao Liang năm 1990. Rất tiếc, mẫu này
không phải thu tại Việt Nam nên không có tên tiếng Việt đi
kèm.
Loài này có mọc
tự nhiên ở Việt Nam (Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh
(Đầm Hà), Thanh Hoá, Nghệ An (Quỳ Châu), Quảng Bình (Ba Rền)) [4], Trung Quốc
[1, 5, 7]; và Lào [5,7]. Theo Danh lục đỏ của IUCN quốc tế (IUCN) thì
loài Vàng tâm này được dùng làm nắp sáo diều ở
Việt Nam [7] (khu vực Hà Tây cũ – tác giả). Chúng được xếp vào nhóm cây trang
trí, lấy gỗ dùng trong xây dựng, đóng đồ gia dụng và làm củi [5,
7].
-
Mỡ phú thọ [1]: Magnolia chevalieri (Dandy)
V.S.Kumar [2, 9]
Tên đồng nghĩa: Magnolia phuthoensis (Dandy ex
Gagnep.) V.S. Kumar
Manglietia
chevalieri Dandy
Manglietia phuthoensis Dandy ex
Gagnep.
Tình trạng bảo tồn: Danh lục đỏ quốc tế mức
DD (Thiếu dẫn liệu) [8]

Ảnh mẫu tiêu bản chuẩn (Holotype) loài
Mỡ Magnolia chevalieri (Ảnh
MNHN)
Loài ‘Mỡ’ này có
tên khoa học là Magnolia chevalieri, trong CCVN gọi là
‘Mỡ phú thọ’. Mẫu chuẩn (Holotype) loài này được thu bởi A.J.B. Chevalier
tại Langbian (Lâm Đồng) ngày 30 tháng 4 năm 1919. Mẫu này mang số hiệu của người
thu mẫu là 40404, mã số ở phòng tiêu bản là MNHN-P-P00204394 và hiện đang được
lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Pháp. Ban đầu chúng được định loại nhầm
là Manglietia glauca (nay tên này trở thành tên
đồng nghĩa của loài Magnolia
sumatrana var. glauca). Sau đó Chen Bao
Liang vào năm 1991 đã định loại chúng chính là loài Manglietia chevalieri. Tuy
nhiên lý lịch mẫu này không ghi tên gọi tiếng Việt.


Ảnh mẫu tiêu bản và lý lịch loài Mỡ với
tên Manglietia phuthoensis
Một điều rất thú
vị là trên một số tiêu bản mẫu được thu bởi “Service Forestier Tonkin” ngày 7
tháng 10 năm 1924 tại Phú Thọ, có số hiệu của người thu mẫu là 15, mã số ở phòng
tiêu bản là MNHN-P-P00204464, đã được ghi lại với tên tiếng Việt là “Mở”.
Mẫu này ban đầu cũng được định loại nhầm là Manglietia
glauca. Và chúng chính là mẫu
mà Dandy định loại là Manglietia
phuthoensis và
còn ghi chữ “Typus” (Mẫu chuẩn) lên
đó vào năm 1927 (nay trở thành tên đồng nghĩa của Magnolia
chevalieri). Như vậy có thể
khẳng định loài này được người dân địa phương gọi
là Mỡ.
Đây là loài phân
bố tự nhiên và cũng được trồng rộng rãi ở phía Bắc Việt Nam, ngoài ra còn có ở
Lào; và Trung Quốc [8]. Chúng được xếp vào nhóm cây trang trí, lấy gỗ dùng trong
xây dựng, và đóng đồ gia dụng [5, 8]. Ngoài ra chúng cũng được
trồng ở đường phố và vườn cây do có thời gian ra hoa
dài [8].
Một khía cạnh
khác, theo một số chuyên gia thì những cây Mỡ trồng ở phía Bắc
đã và đang được gọi nhầm tên khoa học là Magnolia
conifera (Vàng tâm) trong khi tên thật của chúng
là Magnolia chevalieri. Việc nhầm lẫn này
có thể dẫn đến áp dụng những quy trình nhân giống và chăm sóc, xác định giá trị
thương phẩm gỗ của loài Vàng tâm cho loài Mỡ.
Qua những dẫn
liệu ở trên thì có thể thấy được Vàng tâm gồm
hai loài có tên khoa học là: Magnolia
conifera và Magnolia
dandyi, còn Mỡ là
loài có tên khoa học là Magnolia
chevalieri
Phạm Văn Thế
(Phòng Tài nguyên Thực vật – Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh
vật)
Theo NGƯỜI ĐÔ
THỊ Online
Tài liệu tham
khảo:
1. Phạm
Hoàng Hộ, Cây cỏ Việt Nam – An Illustrated Flora of Vietnam, 1999. Tập 1:
230-232. NXB Trẻ
2. Kew
Bull. 61: 183, 2006.
3.
Flore Générale de l'Indo-Chine [P.H. Lecomte et al.] Suppl.: 38 (1938), gallice;
et in Humbert, Not. Syst. viii. 63 (1939), latine.
4. Sách
đỏ Việt Nam - Phần II.Thực vật: tr.270-271, 2007. NXB Khoa học tự nhiên và Công
nghệ
5.
Flora of China, Vol. 7: 50-60
6.
Khela, S. 2014. Magnolia conifera. The IUCN Red List of Threatened Species.
Version 2014.3. <www.iucnredlist.org>. Downloaded on 28 March
2015.
7.
Rivers, M.C. & Wheeler, L. 2014. Magnolia dandyi. The IUCN Red List of
Threatened Species. Version 2014.3. <www.iucnredlist.org>. Downloaded on
28 March 2015.
8.
Rivers, M.C., Wheeler, L. & Khela, S. 2014. Magnolia chevalieri. The IUCN
Red List of Threatened Species. Version 2014.3. <www.iucnredlist.org>.
Downloaded on 28 March 2015.
9. The
Plantlist, Royal Botanic Gardens, Kew and Missouri Botanical Garden
<http://www.theplantlist.org>. Downloaded on 28 March
2015.



08:05
oneillhekhih6165
Posted in:
0 nhận xét:
Đăng nhận xét