Thứ Sáu, 16 tháng 1, 2015

Nghiên cứu Phân loại: ngành khoa học đang chết dần?

hyaline-cephonodes-hylas-linnaeus-via-Getty
 Sự nghiệp Quentin Wheeler có thể nói được bắt nguồn từ sự hấp dẫn của lớp váng trên ao đối với ông. Hiện nay ông là chủ tịch Đại học Khoa học Môi trường và Lâm nghiệp SUNY, Mỹ. Khi Wheeler 8 tuổi, lần đầu tiên ông nhìn qua một kính hiển vi và thấy các sinh vật đơn bào được gọi là động vật nguyên sinh nhấp nhô xung quanh. 
Các sinh vật này đã tạo cho ông trí tò mò, vì vậy ông bắt đầu thu thập các mẫu nước cho riêng mình từ các ao ở trung tâm Ohio và các suối gần nhà, đựng đầy các bình với hàng ngàn mẫu vật. Ông đã học cách làm ống nhỏ giọt với 1 cái đèn Bunsen và dẫn ra cốc trong một ống tóc dài và mảnh, mà sau đó ông đã sử dụng để cô lập các tế bào đơn động vật nguyên sinh. Khi ông vào trung học cơ sở, ông đã bán kiến thức của mình cho các lớp sinh học thuộc trung học phổ thông ở địa phương. 

Đối với một cậu bé, thì việc đó là tìm kiếm và xác định những sinh vật rất nhỏ. Sau đó, ông đã mở rộng sự quan tâm của mình trở thành chuyên gia đặt tên cho các loài mới - thật đặc biệt, trong trường hợp của ông thì đó là các loài bọ cánh cứng - và để thiết lập vị trí của chúng trong cây phân loại. 

Trái đất đang đối mặt với khủng hoảng về đa dạng sinh học và đang mất khoảng hơn 10 nghìn loài mỗi năm. Hiểu rõ các loài, bao gồm việc xác định chính xác tên loài, vị trí phân loại của chúng, là công việc đầu tiên cần thiết để có thể bảo vệ chúng trước mối đe dọa bị tuyệt diệt. Quan điểm của nhiều nhà khoa học cho rằng vấn đề đối mặt thực sự có mức độ quan trọng vượt xa giá trị bản thân các loài sinh vật. Chúng ta đang dần mất đi những nhà khoa học thực sư, như Wheeler, những người được gọi là "NHÀ PHÂN LOẠI".

Phân loại học được hình thành từ năm 1758 bởi nhà Tự nhiên học Thụy Điển Carl Linnaeus. Đây là ngành khoa học khám phá, mô tả và xác định vị trí phân loại các loài; là sự tìm hiểu về nguồn gốc và lịch sử tiến hoá của các nhóm và đặt chúng vào nơi phù hợp trong cây phân loại; là ngành khoa học nghiên cứu thuyết tiến hoá của Darwin về sự thích nghi của sinh vật theo thời gian. Và đó là việc ngồi ở một bảo tàng châu Âu nào đó, đọc trang sách tuổi 200 năm trên một chiếc lông cánh màu đỏ của con chim két - hoặc trong trường hợp của Wheeler, một con bọ gỗ - phát hiện ra trong các mẫu vật lưu trữ. 

"Nó giống như đến thăm chiến trường Gettysburg," Wheeler nói. "Bạn cần có một kết nối giữa mẫu vật với các nhà khoa học trước đây, thậm chí trước hàng thế kỷ. Đó là một sự ràng buộc khoa học rất đặc biệt đi qua các thế hệ khác nhau. Thực sự là một công việc rất thú vị".

Tuy nhiên, việc giảm đi số lượng các nhà phân loại học theo lối cổ điển, đồng nghĩa với việc chúng ta đang mất đi các kiến thức về những nhóm sinh vật cụ thể, như côn trùng, chim hay thực vật. Việc áp dụng các trình tự DNA và các siêu máy tính để xác định và phân loại các loài sinh vật trong tự nhiên đang được xem là tác động lớn nhất đối với ngành phân loại học truyền thống, Wheeler cho biết.

Darwin’s-finches-chim-se-darwin
Charles Darwin thu thập mẫu một số loài chim sẻ trong chuyến đi của ông tới quần đảo Galapagos. Bản vẽ này đã được gọi là "chim sẻ Darwin." Mỏ của chúng khác nhau về hình dạng và kích thước, tiến hoá phù hợp nhất tuỳ theo loại thức ăn của từng loài. Minh họa lấy từ "Voyage của Beagle" 1839 của Darwin

Ông đưa ra ví dụ về những mã vạch DNA, đây là kỹ thuật dựa trên một đoạn DNA ngắn đã được tiêu chuẩn hóa (giống như một loại vân tay di truyền) để xác minh một loài đã được thành lập.

"Chúng ta thật sự khâm phục về sự thông minh của con người khi giải mã bộ gen", Wheeler nói, "Và nhiều người nghĩ rằng khoa học này chắc chắn tốt hơn so với việc tài trợ cho các nhà phân loại tập trung ngồi viết mô tả với những cặp kính bác học"

Mã DNA có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các thông tin về sinh vật, và đặc biệt dễ tiếp cận hơn với công chúng, Mark Stoeckle - nghiên cứu viên cao cấp Chương trình Môi trường Con người, Đại học Rockefeller nói. Nó đang được sử dụng để tạo ra một thư viện tham khảo điện tử khổng lồ về các loài, và đặc biệt một loài chỉ sử dụng một quả trứng, một hạt giống, hoặc thậm chí 1 phần hoặc miếng của một sinh vật - như chân của một con côn trùng chẳng hạn để giải mã các đoạn DNA. 

"Bạn cần DNA để làm điều đó," Stoeckle nói. "Đó không phải là công việc dành cho các nhà phân loại. DNA có trong tất cả các bộ phận. Nó ở trong rễ, trong lá, hoặc trong những hạt giống".

Stoeckle hiểu rất rõ về điều này vì ông đã từng hướng dẫn cô con gái 17 tuổi của nhà khoa học Kate và bạn của cô. Họ đã trở nên nổi tiếng thông qua việc sử dụng mã vạch DNA để phơi bày một ngành công nghiệp sushi giả. Hai cô gái thu thập thịt cá từ siêu thị Thành phố New York và nhà hàng sushi. Họ đã phát hiện ra rằng một phần các mẫu này đã được người bán xác định nhầm tên. Cá ngừ trắng thực sự là cá rô phi. Nile Perch - một loài cá nước ngọt từ châu Phi đã được giả mạo là cá diêu hồng, hoặc cá nước mặn từ biển Caribbean.

meo-gau-Olinguito
Mùa hè năm ngoái, các nhà khoa học phát hiện ra loài động vật ăn thịt mới đầu tiên ở Mỹ trong 35 năm qua - Mèo gấu Olinguito, . Ảnh chụp Mark Gurney ở Smithsonian, thông qua Getty Images.

"Đó là ứng dụng mạnh mẽ nhất của mã vạch DNA," Stoeckle nói. "Một philê cá, nếu nó màu trắng, bạn không thể mang chúng đến một nhà phân loại. Thông thường những điều chúng ta muốn biết là trong các mẩu và miếng nhỏ"

Sau đó, Stoeckle sử dụng mã vạch DNA cùng với một nhóm học sinh trung học để kiểm tra các loại trà thảo dược. Họ tìm thấy trong trà hoa cúc lại không có hoa cúc mà có các loài cỏ dại và cỏ chân ngỗng. Một lần nữa, mã di truyền đã xác định loài chỉ từ một mảnh của sinh vật ban đầu.

Robert DeSalle là người phụ trách cho cho Viện Sackler về So sánh Gen tại Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Mỹ nói. "(Mã DNA) hoạt động vì các gen được chọn đủ để phản ánh sự thay đổi giữa các loài động vật và vì những thay đổi này được thừa hưởng" ông nói. "Các mã DNA giống nhau trên một loài đó là sự di truyền lưu giữ những đặc điểm tốt, như là đặc điểm nói lên loài đó chính là loài đó, mà không phải loài khác"

Một mã vạch DNA trên một lon soda không thể nói cho bạn biết mọi thứ trong đó, trừ khi có cơ sở dữ liệu để có thể so sánh, ông tiếp tục. Cũng tương tự, việc sử dụng mã ADN để xác định loài đã mô tả sẽ không thể làm giảm đi tầm quan trọng của các nhà phân loại.

Nhưng đây là chỗ mà cuộc xung đột có xu hướng tăng.

Mã vạch DNA cũng muốn sử dụng DNA để làm phân loại, DeSalle nói, và đây là chỗ mà phân loại cổ điển và phân loại bằng mã DNA sẽ xảy ra xung đột. Để tiếp tục ẩn dụ mã vạch DNA, điều này giống như quét mã vạch trên một lon soda, phát hiện ra rằng nó không có trong cơ sở dữ liệu, và nói rằng đó là một loại mới của soda. Nói cách khác là sử dụng mã vạch để tạo ra một giả thuyết về sự tồn tại của loài mới. Và tất nhiên, bạn sẽ vẫn cần phân loại cổ điển để xác minh nó, ông nhấn mạnh.

Mặc dù vậy, Wheeler nghĩ đây là điều yếu nhất của việc sử dụng mã vạch DNA. Hãy xem xét một bức tranh của Leonardo Da Vinci, ông nói. Công nghệ này chỉ cần một đốm sơn từ một bộ sưu tập kiệt tác của Da Vinci, và bằng cách phân tích các đồng vị hóa học, xác định và thậm chí đặt các lớp sơn theo thứ tự thời gian. Nhưng làm việc này bạn đã mất đi một bức tranh lớn - chính là Mona Lisa.

Hay nói cách khác, hãy tưởng tượng nghiên cứu DNA của một con hươu cao cổ và một con tê giác, mà không so sánh điểm đặc biệt là cái cổ hoặc mũi của chúng, và không bỏ thời gian để nghiên cứu sự khác nhau bên trong và giữa các quần thể của các loài động vật đối với sự tiến hóa phức tạp, ông nói. Và sau đó hãy tưởng tượng khẳng định đã tìm thấy một loài mới chỉ dựa trên DNA.

"Đó là một chiến thắng không có ý nghĩa ở giữa cuộc khủng hoảng đa dạng sinh học" ông nói.

Có một số người cho rằng, nếu bảo phân loại học cổ điển đang suy giảm thì là một điều sai lầm. Ví dụ, trong một bức thư được công bố trên số mới nhất của tạp chí New Phytologist, một nhóm nhà khoa học viết rằng "đang có nhiều người mô tả loài mới cho khoa học hơn bao giờ hết" và sau đó, nhà phân loại được định nghĩa là "bất kỳ tác giả có tên trong việc công bố một loài mới". Một nhóm các nhà khoa học Anh trong cùng tạp chí cho rằng sự gia tăng về số lượng tác giả phản ánh một xu hướng ngày càng tăng các học sinh, kỹ thuật viên và những người khác tham gia vào việc phát hiện loài sinh vật mới.

Vậy cái chúng ta đang thiếu là các biện pháp để có thể chứng minh vai trò toàn diện và không thể phủ nhận của phân loại học. 

"Tôi mong ước có con số tốt hơn, và nó (bài báo) thậm chí còn gây nhiều tranh cãi là ai được xem là một nhà phân loại" Wheeler đã viết trong một email.

Stoeckle nói "thẳng thắn mà thừa nhận rằng phân loại cổ điển đã giảm - Ít sinh viên mới, ít vị trí toàn thời gian, và ít tổ chức dành kinh phí để thu thập các bộ mẫu"

"Chúng ta sẽ bị sốc khi nói rằng chúng ta đang mất dần chuyên môn này," DeSalle nói. Thêm vào đó, Dennis Stevenson - Phó chủ tịch phụ trách nghiên cứu thực vật tại Vườn Thực vật New York cho biết "phân loại mà chúng ta đã làm trong thế kỷ 19 được coi là kỳ lạ và là kiểu cũ . Có vẻ như thế hệ trẻ ít quan tâm hơn đến điều đó"

Tuy nhiên, Wheeler nói, việc mất dần chuyên môn phân loại ít nhận được sự bảo vệ từ các nhà phân loại. Tiếng nói của họ là quá nhỏ và ảnh hưởng của họ quá yếu. Điều đó có nghĩa, các trường, viện sẽ ít dạy phân loại cổ điển, ít nhu cầu cần các giáo sư, và giảm nguồn tài trợ cho các vị trí phân loại. Ngày càng khó để tìm những nơi trao giải cho tiến sĩ trong phân loại, ông nói. Và nếu bạn có được một bằng cấp, thì ngày càng khó để tìm một công việc.

Sau cùng Stevenson và DeSalle thống nhất quan điểm rằng sinh viên ngày nay cần phải học cả hai. Họ cho rằng cách này là chuẩn đào tạo về phân loại học hiện đại. Nhưng câu hỏi là "Có phải vật liệu DNA thu được từ mẫu vật của phân loại cổ điển (từ các tiêu bản mẫu)?". Và De Salle cũng đặt ra nghi vấn rằng liệu sinh viên ngay nay có thiếu chuyên môn trong chuẩn giáo dục phân loại hiện đại?

Một bản minh họa lấy từ "Voyage của Beagle" 1839 của Darwin.

Vì số lượng các nhà phân loại đang giảm dần, vai trò của các nhà khoa học quần chúng trở nên quan trọng hơn, Stevenson nói. Ông ví dụ rằng mùa hè BioBlitz năm ngoái tại Công viên Trung tâm thành phố New York, khi các giáo sư, sinh viên, các nhà khoa học, cán bộ công viên và một số khác làm việc ở rừng công viên để tạo danh mục đa dạng sinh học vùng đó. Họ đã phát hiện ra gần 200 loài, bao gồm cả chim chích Wilson, một con rùa trượt tai đỏ, nhiều biến thể của địa y và bất ngờ hơn là một con cá mèo, và sóc chuột miền đông.

"Chúng tôi đang cố gắng để mọi người quan tâm nhiều hơn về lịch sử tự nhiên, để phát triển các công cụ dựa trên web mà họ có thể sử dụng trên iPhone khi ra ngoài đi bộ đường dài" Stevenson nói.

Wheeler không nói rằng sự phân loại đó là đi theo con đường của Woolly Mammoth. Ngược lại, các nhà khoa học đã dành toàn bộ sự nghiệp/thời gian tìm kiếm bọ cánh cứng hoang dã và bướm bướm, đào bới trong các bụi bẩn tìm côn trùng vô danh và sau đó kể về câu chuyện tiến hóa của chúng - những lối giải thích theo kiểu hiện đại của bức phác hoạ những loài chim sẻ dưới ánh nến. Những nhà khoa học này sẽ tiếp tục còn. Họ quá quan trọng. "Tôi hoàn toàn tin tưởng vào phân loại học. Nó sẽ được hồi sức hoặc tái sinh vào một ngày trong tương lai"

Thách thức trước mắt, ông nói, đó là vĩnh viễn mất đi các kiến thức về đa dạng sinh học. Nhiều loài chúng ta không kịp phát hiện ra, mô tả và phân loại ngay thì có thể không có một cơ hội thứ hai trong tương lai.

Sau cùng, Wheeler đùa mà rằng: "Tôi hy vọng các bé nào có sự đam mê với váng nước trên ao hồ có thể trở thành nhà phân loại giống như tôi chẳng hạn”. 
Theo JENNY MARDER/PBS.org

Biên tập: Phạm Văn Thế & Nguyễn Đức Anh

Thứ Tư, 14 tháng 1, 2015

Giống và loài ruồi mới Melastrongygaster orbitalis

Ruoi-den-Melastrongygaster-orbitalis-Credit_Shima-2
Một giống ruồi và một loài mới cho khoa học được phát hiện ở Việt Nam:
Tiến sỹ Hiroshi Shima thuộc Trường Đại học Kyushu, Nhật Bản vừa công bố một giống và 5 loài ruồi mới cho khoa học. Trong đó, có một loài mới được mô tả từ các mẫu vật thu ở Việt Nam. 


Giống Ruồi đen Melastrongygaster tộc Strongygastrini, họ Tachinidae, bộ Hai cánh (Diptera) được mô tả mới cho khoa học với loài chuẩn Melastrongygaster atrata từ Nhật Bản và Hàn Quốc, và 4 loài khác: M. chaoi và M. fuscata từ Trung Quốc, M. kambaitiana từ Miến Điện và M. orbitalis từ Việt Nam. 

Loài Ruồi đen trán tròn Megastrongygaster orbitalis được thu ở Bảo Lộc, Lâm Đồng, Việt Nam. Loài được phân biệt bởi các đặc điểm: cơ thể dài 5.5-6.4mm; đầu đen, tròn; có một rãnh đen sáng chạy từ mép trong của tấm tròn trước về sau; râu dài khoảng ¾ so với mặt; ngực có màu đen bóng. Cánh có màu nâu nhạt, nhưng đậm hơn ở phần gốc. 

Ruoi-den-Melastrongygaster-orbitalis-Credit_Shima-1
Loài Ruồi đen trán tròn: Melastrongygaster orbitalis từ Việt Nam. Ảnh Shima 

Tộc Strongygastrini trước đây chỉ gồm 2 giống Strongygaster và Arcona, với tổng số 10 loài phân bố trên thế giới. Việc phát hiện giống Megastrongygaster với các đặc điểm bổ sung về cơ quan giao phối đã khẳng định vị trí phân loại của tộc Strongygastrini trong phân họ Phasinae, họ Tachinidae

Đây là giống và loài ruồi mới đầu tiên phát hiện trong năm nay. Năm 2014 cũng đã có 9 loài Ruồi mới cho khoa học được phát hiện từ Việt Nam gồm:
- Bốn loài Ruồi đen Simulium mới ở Vĩnh Phúc
- Phát hiện hai loài Ruồi mới ở Lào Cai
- Ba loài ruồi đen mới phát hiện ở Thừa Thiên Huế

Nghiên cứu này được công bố trên tạp chí Zootaxa 3904 (3): 427–445 (7/1/2015)

Biên tập: Nguyễn Đức Anh

Zootaxa 3904 (3): 427–445 (7 Jan. 2015)

Melastrongygaster, a new genus of the tribe Strongygastrini (Diptera: Tachinidae), with five new species from Asia 

HIROSHI SHIMA
Kyushu University Museum, Kyushu University, Hakozaki, Fukuoka 812-8581, Japan. E-mail: shimarcb@kyudai.jp

Abstract. A new genus with five new species of the Tachinidae is described: Melastrongygaster gen. nov., M. atrata sp. nov. (type species) from Japan and South Korea, M. chaoi sp. nov. from China, M. fuscata sp. nov. from China, M. kambaitiana sp. nov. from Myanmar and M. orbitalis sp. nov. from Vietnam. Melastrongygaster belongs to the tribe Strongygastrini and the subfamilial position of the tribe is discussed.

Links: http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03904p445f.pdf
http://www.biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3904.3.9

Thứ Ba, 13 tháng 1, 2015

Hoa đá Việt - Loài thực vật mới cho thế giới

hoa-da-Sinocrassula-vietnamensis_credit-LeonidA
Hoa đá Sinocrassula là một chi thực vật nhỏ gồm 7 loài  đã biết thuộc họ Lá bỏng Crassulaceae, phân bố chủ yếu ở vùng Trung-Hymalaya bao gồm Bhutan, Nepal, đông bắc Ấn, Pakistan và Trung Quốc. Trong đó thì đã có 6 loài bản địa của Vân Nam và Tứ Xuyên. 


Gần đây nhất, một loài Hoa đá mới cho khoa học đã được phát hiện từ Việt Nam bởi các nhà khoa học Việt Nam và Nga. Đây là kết quả của đợt khảo sát thực vật ở Mường Chà và Tủa Chùa tỉnh Điện Biên năm 2010-2011. 

Loài thực vật mới có tên Hoa đá việt nam - Sinocrassula vietnamensis Aver. et V. Byalt

Đây là loài cây bụi mọc trên đất, hoặc đá, thân ngắn, hầu như không có nhánh. Lá mọc vòng kiểu xếp lợp, dầy (kiểu mọng nước), dài chừng 4cm. Chùm hoa xuất phát từ đỉnh thân, mang 80–120 hoa. Hoa nhỏ dưới 1cm, màu trắng lẫn xanh vàng nhạt. Ra hoa vào tháng 9-10, quả tháng 11-12. Chúng có thể trở thành loài cây cảnh khá đẹp!

hoa-da-Sinocrassula-vietnamensis_credit-Efimov
Hoa đá việt nam - Sinocrassula vietnamensis. Ảnh P. Efimov

Chúng được phát hiện trên các tảng đá thuộc khu vực rừng cây lá rộng thường xanh nguyên sinh và thứ sinh trên đá vôi. Loài này rất có thể là đặc hữu của Việt Nam, vì chưa phát hiện được ở nơi nào khác ngoài khu vực kể trên. 

Về mặt hình thái thì loài mới khác hoàn toàn với các loài đã biết. Công bố này vừa được đăng tải hồi cuối năm 2014 trên tạp chí Taiwania, 59(4): 348‒ 352, 2014.

Phạm Văn Thế

Sinocrassula vietnamenis (Crassulaceae), New Species and New Generic Record in the Flora of Vietnam

Leonid V. Averyanov (1, av_leonid@mail.ru; av_leonid@yahoo.com), Vyacheslav V. Byalt (1), The Van Pham (2, phamvthe@gmail.com), Nguyen Tien Vinh (3), Phan Ke Loc (4) and Nguyen Quang Hieu (3)
1- Komarov Botanical Institute, Russian Academy of Science, St. Petersburg. Prof. Popov Str. 2, Russia, 197376. 2- Institute of Ecology and Biological Resources, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet, Cau Giay, Ha Noi, Vietnam. 3- Center for Plant Conservation, No 25/32, lane 191, Lac Long Quan, Nghia Do, Cau Giay District, Ha Noi, Vietnam. 4- Hanoi University of Science, 334 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam.

ABSTRACT: New species, – Sinocrassula vietnamensis (Crassulaceae) discovered in the Northern Vietnam is described and illustrated. Standard citations of type specimens, description, name etymology, data on ecology, phenology and distribution, as well as short taxonomic remarks for the new species are provided. The species differs from its closest ally S. diversifolia in large well developed rosettes, hairy leaves, white flowers and long styles. The discovery of this species in Vietnam remarkably extends the geographical range of the genus southwards.

Thứ Hai, 12 tháng 1, 2015

Hai loài chuồn chuồn mới ghi nhận cho Việt Nam

chuon-chuon-indothemis-carnatica
90 loài Chuồn chuồn thuộc 60 giống, 15 họ đã được ghi nhận tại các Vườn Quốc gia Cúc Phương, Tam Đảo, Ba Bể và Trạm đa dạng sinh học Mê Linh (Vĩnh Phúc). Đó là kết quả khảo sát của các nhà khoa học gồm TS. Phạm Hồng Thái thuộc Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Mỹ thực hiện ở các địa điểm trên.

Trong đó, có hai loài mới chỉ ghi nhận lần đầu tiên ở Việt Nam:

Chuồn chuồn Car-na-tic Indothemis carnatica thuộc họ Libellulidae, được Fabricius mô tả khoa học đầu tiên năm 1798. Đây la một loài khá hiếm được ghi nhận bản địa tại một số vùng ở Ấn Độ, Sri Lanka, Thái Lan, và Malaysia. Do vùng phân bố bị giới hạn và thường xuyên bị thu hẹp bởi sự mở rộng của con người nên nó được đánh giá là Sắp bị đe dọa (NT) trong Danh lục đỏ thế giới của IUCN. Vì thế, phát hiện thêm vùng phân bố này có ý nghĩa đáng kể. Chúng được phát hiện tại môi trường gần các hồ, đầm lầy ở Vường Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình.

Chuồn chuồn Kat Macromia katae thuộc họ Macromiidae, được Wilson miêu tả khoa học đầu tiên năm 1993. Loài này hiện tại chỉ được biết đến ở bốn địa điểm trong rừng thứ sinh đất thấp ở Trung Quốc (Quảng Đông và Hải Nam) và Hồng Kông, và Lào gần biên giới Việt Nam. Chúng được đánh giá là Sẽ nguy cấp (VU) trong Danh lục đỏ thế giới của IUCN

chuon-chuon-Macromia-katae

Chúng sinh sống tại vùng suối dốc, có dòng chảy nhanh, nơi ấu trùng được tìm thấy bám vào rễ cây. Ngoài ra chúng cũng được tìm thấy ở các vùng nước tĩnh. Ở Việt Nam chúng được phát hiện tại Trạm Đa dạng Sinh học Mê Linh - Vĩnh Phúc. 

Công bố này được đăng tải trên tạp chí Check List 2015, 11(1): 1514

Phạm Văn Thế và Nguyễn Đức Anh 

Check List 11(1): 1514, January 2015 

First records of Macromia katae(Macromiidae) and Indothemis carnatica (Libellulidae) from Vietnam (Insecta: Odonata)

Natalia von Ellenrieder (1*), Martin Hauser (1), Stephen D. Gaimari (1) and Thai H. Pham (2)
1. Plant Pest Diagnostics Center, California Department of Food and Agriculture, 3294 Meadowview Road, Sacramento, CA 95832-1448, USA
2. Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet Street, Cau Giay, Hanoi, Vietnam
* Corresponding author. E-mail: natalia.ellenrieder@gmail.com

Abstract: In the course of two field trips to Northern Viet-nam during March 2012 and June 2014 the dragonflies and damselflies of three National Parks (Cuc Phuong, Tam Dao, and Ba Be) and one Biodiversity Station (Melinh) were sampled. A total of 90 species of odonates in 60 genera and 15 families was recorded, including two new records for Vietnam: Macromia katae (Macromiidae) and Indothemis carnatica (Li-bellulidae). Diagnostic illustrations for these two species are provided, as well as the listing of the species recorded from the surveyed areas.

For more details: doi: http://dx.doi.org/10.15560/11.1.1514
http://biotaxa.org/cl/article/view/11.1.1514

Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2015

Giống Ốc cạn Laotia và loài mới cho khoa học

Laotia-christahemmenaen-credit-Barna
Anh Barna Páll-GerGely, nghiên cứu sinh ở Khoa Sinh học, trường Đại học Shinshu, Nhật Bản, đã ghi nhận một giống Ốc cạn Laotia Saurin, 1953 cho khu hệ động vật Việt Nam, đồng thời mô tả một loài mới cho khoa học.

Loài Ốc cạn Christa Laotia christahemmenaen mô tả từ mẫu vật thu được ở Vườn Quốc Gia Ba Vì, Hà Nội, có sự sai khác với loài L. pahiensis Saurin, 1953 (mô tả ở Lào) ở các đặc điểm: có kích thước gần gấp đôi (chiều cao vỏ: 2,6mm; đường kính vỏ: 4,4mm); vỏ có các rãnh, và có vùng trơn nhẵn ngay sau miệng. 

Hiện nay, giống Laotia Saurin, 1953 mới chỉ ghi nhận được 2 loài: L. pahiensis và L. christahemmenaen. Tuy nhiên, vị trí phân loại của giống Laotia vẫn chưa được xác định rõ ràng, liệu thuộc về họ Diplommatinidae hay họ Alycaeidae. Và cần phải có các nghiên cứu bổ sung để làm rõ vị trí phân loai của giống này.

Ốc cạn Christa Laotia christahemmenaen. Ảnh Barna Páll-GerGely

Loài này được công bố trên tạp chí Folia Malacologica (2014) 22: 289-292

Nguyễn Đức Anh sưu tầm

Description of the second Laotia Saurin, 1953; a genus new to the fauna of Vietnam (Gastropoda: Cyclophoroidea)

Barna Páll-Gergely, e-mail: pallgergely2@gmail.com Department of Biology, Shinshu University, Matsumoto 390-8621, Japan

Abstract. This paper reports the second species of the genus Laotia Saurin, 1953. L. pahiensis Saurin, 1953 was described from Laos, Pa Hia, whereas the new species, L. christahemmenae n. sp. was collected in Ha Noi Province, Vietnam, approximately 350 km NE of the type localty of the Laotian species. The new species is approximately twice larger than its congener, and has a ribbed shell with a smooth area behind its aperture. In contrast, L. pahiensis is ribbed until the peristome or the ribbing stops very close to the peristome. It is uncertain if Laotia should be placed in Diplommatinidae or in Alycaeidae.

For more detail, please see at: http://dx.doi.org/10.12657/folmal.022.025
File PDF: http://www.foliamalacologica.com/download.php?ma_id=1374

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2015

Mai vàng thắm đượm tình xuân

mai-vang-Ochna-integerrina
Hoa mai vàng còn có tên là huỳnh mai, là một loài cây của vùng nhiệt đới châu Á. Ở nước ta, thường thấy mai vàng ở khu vực phía Nam. Mai vàng nở vào cuối đông đầu Xuân, thường là dịp tết. Ở miền Trung và Nam bộ nước ta hiếm khi có hoa đào, hoa mai trắng, người ta xem hoa mai vàng là hoa ngày tết.

Những cây mai vàng với hoa rực rỡ lúc xuân sang trông thật là nên thơ. Chúng cũng có dáng cây xù xì như mai, đào và cũng thanh lịch với vóc dáng dịu dàng. Một luồng gió lạnh thổi qua, một vài cánh hoa dễ rụng nhè nhẹ rơi lướt trong gió như tô điểm cho trời xuân thêm đẹp, làm cho cảnh xuân càng tăng vẻ nên thơ. Từ cây mai trồng trong vườn, người ta cắt cành mai vào cắm trong độc bình vào ngày tết, mai nhìn càng xinh xắn một cách lộng lẫy hơn. Người ta thường chọn những cành mai có hương thơm thoang thoảng để chơi được lâu và hương thơm làm cho bầu không khí trong nhà thêm ấm cúng.

Mai vàng luôn luôn là sắc hoa thân thiết trong cuộc sống hằng năm của đồng bào các tỉnh phía nam, nhưng có lẽ không đâu như ở Huế, mai đã trở thành linh hồn của thành phố lúc xuân về. Hoa mai với người Huế, cũng như hoa đào với người Hà Nội, hoa mimosa với người Đà Lạt. Nó không còn là tạo vật bên ngoài mà đã lẩn sâu vào bên trong thành một nỗi lòng. Vườn Huế nào cũng trồng dăm ba cây mai, thậm chí nếu khu vườn nhỏ chỉ đủ chỗ cho một cây thôi thì đó chính là cây mai. Mùa đông ở Huế mưa lạnh kéo dài, cảnh vật như bị xóa đi trong màu xám của mưa dầm, và vì thế khi nhìn thấy cây mai nở vàng trước ngõ, con người cảm nhận được niềm vui đương trỗi dậy trong cõi lòng cùng với trời đất thay đổi. Người Huế thương cây mai ở chỗ đó, và không hiểu nó rút chất liệu gì từ cái mùa đông nghiệt ngã của Huế để qua một vài đêm xuân, nó bỗng bừng rộ lên thành một áng thơ cuộc sống, chói lọi.

mai-vang-Ochna-integerrina-2
Cây Mai vàng đoạt giải đặc biệt năm 2012. Ảnh utvanut

Hoa mai đẹp và con người cũng đã dùng trí tuệ và bàn tay khéo léo của mình để làm cho hoa mai càng thêm đẹp hơn. Hoa của cây mai chính là những lá biến đổi. Người ta đã chứng kiến những biến đổi từ lá sang cánh hoa; như ở hoa sen, các lá đài màu xanh chuyển dần thành những cánh hoa màu hồng. Ở hoa trà mi cũng có sự chuyển tiếp từ các lá bắc qua các lá đài sang tới cánh hoa. Ở hoa mẫu đơn, người ta có thể thấy lá cây từ hình thức phức tạp chuyển dần sang những dạng đơn giản hơn rồi biến thành lá bắc, lá đài và cuối cùng thành cánh hoa.

Nhưng cũng có hiện tượng ngược lại là một số nhị hoa cũng có thể biến đổi thành cánh hoa trong trường hợp hoa có nhiều nhị. Hoa tầm xuân, một dạng nguyên thủy của hoa hồng, chỉ có năm cánh hoa, trong khi hoa hồng trồng làm cảnh có tới gần 100 cánh hoa, hoa dành dành cũng có nhiều cánh hoa màu trắng rất thơm. Hoa nhài cũng chỉ có 6-7 cánh hoa, còn hoa nhài trồng lại có nhiều cánh.

Người ta cũng gặp những sự biến đổi đó ở hoa mai vàng. Từ những cây mai 5 cánh, người ta đã tạo được những nòi có 9 cánh hoa, 12 cánh, 18 cánh, 32 cánh, 48 cánh, thậm chí tới 120 cánh. Người ta trồng mai ở vườn, trồng mai ở chậu, trồng mai trong chậu cạn làm bonsai, ghép mai để tạo cây có nhiều loại hoa, nhiều màu.

mai-vang-Ochna-integerrina-3
Hoa mai vàng nguyên bản (Ochna integerrina)

Mai vàng đã đi vào cuộc sống và tâm hồn người Việt, trở thành thân quen đối với mọi người những ngày cuối đông chuẩn bị cho mùa xuân. Cứ mỗi độ tết đến xuân về chúng ta lại không khỏi háo hức để được ngắm nhìn những sắc mai vàng lung linh, tỏa hương thơm thoang thoảng thanh khiết, mang đến cảm giác ấm áp và tô điểm cho không khí hạnh phúc sum vầy bên gia đình!

"Xuân này trong ấy ra sao nhỉ
Ngõ cũ hoa mai nở mấy cành?" 
(thơ Nguyễn Bính)

Hoài Vân (Tổng hợp)

Thứ Năm, 1 tháng 1, 2015

Quỹ Môi trường Thiên nhiên Nagao (NEF)

NAGAO-NATURAL-ENVIRONMENT-FOUNDATION
NAGAO NATURAL ENVIRONMENT FOUNDATION

Được thành lập từ năm 1989, Quỹ Môi trường thiên nhiên Nagao (NEF) là một tổ chức phi chính phủ hoạt động nhằm thúc đẩy việc bảo vệ thiên nhiên ở các quốc gia đang phát triển thông qua Tài trợ nghiên cứu, Học bổng, Tài trợ Nghiên cứu và Hoạt động bảo tồn.

Các hoạt động chính của NEF, bao gồm:

1. Chương trình tài trợ nghiên cứu 

NEF tài trợ cho các nhà khoa học địa phương tiến hành khảo sát thực địa và các hoạt động phù hợp khác trong phạm vi góp phần bảo vệ thiên nhiên ở các quốc gia đang phát triển, chủ yếu ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Các tài trợ này bao gồm cả việc hỗ trợ tài chính cho việc xuất bản các ấn phẩm khoa học từ các kết quả nghiên cứu của các ứng viên để tăng cường việc chia sẻ kiến thức về bảo vệ thiên nhiên. Đã có 382 đề xuất từ 25 quốc gia đã được nhận tài trợ (tính đến 1/7/2013)

2. Chương trình học bổng

NEF cung cấp các khoản học bổng cho các sinh viên Đại học và Cao học đối với các ngành liên quan đến bảo vệ thiên nhiên ở các quốc gia đang phát triển ở châu Á. Việc lựa chọn những người nhận học bổng sẽ được thực hiện bởi một hội đồng địa phương. Đến 1/4/2013, đã có 4.332 sinh viên ở 9 quốc gia châu Á được nhận học bổng của NEF.

3. Chương trình nghiên cứu và hoạt động bảo tồn

Hiện tại, chương trình này tập trung vào nghiên cứu đa dạng sinh học các loài cá, và các hoạt động để bảo tồn đa dạng sinh học ở lưu vực sông Mê Kong và Chao Phraya (Thái Lan). Chương trình này có sự hợp tác của các nhà khoa học, các chính phủ trung ương/địa phương, và cộng đồng địa phương ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam. 

4. Địa chỉ liên hệ: 
                           3-3-7 Kotobashi, Sumida-ku, Tokyo 130-0022 Japan 
Phone                  +81-3-6659-2070 
Fax                      +81-3-6659-2272 
URL                      http://www.nagaofoundation.or.jp/e/index.html
E-mail               secretariat ‘a’ nagaofoundation.or.jp (Please replace ‘a’ with @)