Thứ Hai, 11 tháng 5, 2015

Ra mắt ứng dụng di động WildScan: nhận dạng các loài động vật hoang dã

WildScan -1
Đây là một ứng dụng di động với các chức năng nhận biết thông minh có thể giải đáp về các loài động vật hoang dã.

Phần mềm được thiết kế với mục đích hỗ trợ cho việc chống lại nạn buôn lậu, động vật hoang dã. Phần mềm WildScan được tích hợp với thư viện gần 300 loài động vật đang bị buôn bán phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. 

Đây là phần mềm miền phí và chạy trên nền tảng hệ điều hành Android. Mọi người quan tâm có thể tải ứng dụng theo địa chỉ cung cấp ở dưới cùng bài viết:

WildScan -2

Description: 

WildScan is a comprehensive species identification and response mobile application designed to combat wildlife trafficking. The application is designed to help front-line enforcement agencies, wildlife conservation officers, and the general public correctly identify, report and handle marine, freshwater and terrestrial animals caught in illegal wildlife trade. WildScan places critical information on endangered species at the fingertips of those who need it most and provides a tool to report wildlife crime. WildScan contains a comprehensive species library with more than 250 endangered animals commonly smuggled into and throughout Southeast Asia, a global hotspot for wildlife trafficking. The application will be available for free on Android devices with multiple platform and language support available in 2015.

https://play.google.com/store/apps/details?id=org.freeland.wildscan
http://www.freeland.org/#!wildscan/chp2

Thứ Bảy, 9 tháng 5, 2015

Một loài tôm nước ngọt mới cho khoa học trong hang động của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng


Hai nhà khoc học Đỗ Văn Tứ và Nguyễn Tống Cường thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phát hiện một loài tôm càng nước ngọt mới. Điều thú vị là loài tôm mới được phát hiện trong một số hang động của Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Phát hiện mới được công bố trên Tạp chí Sinh học, số 36(3) trang 301-308

Loài tôm Phong Nha, Macrobrachium phongnhaense có đặc điểm đặc trưng bởi cơ thể trong suốt, mắt bị tiêu giảm, chân bò thứ hai mịn và thanh mảnh, không có gai trước hậu môn. Loài này sống trong các suối và vùng nước đọng ở trong các hang động, có thể xa cửa hang tới 4-5 km như trong hang Va. Tại đây, hoàn toàn không có ánh sáng và nước trong hang chủ yếu là nước thấm từ các khe đá và nền đá. Nền đáy có thể là đáy bùn hoặc bùn pha lẫn cát.




Hình. Ảnh mẫu vật sống loài tôm Macrobrachium phongnhaense 
(Nguồn: TS. Đỗ Văn Tứ)


Cho tới nay, loài mới chỉ được tìm thấy trong một số hang động (hang Va, hang 35, hang Sơn Đoòng) tại Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng, tỉnh Quảng Bình
Loài tôm mới chỉ được thu được trong 3 hang động tại vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. Theo nhận xét bước đầu của Ts. Đỗ Văn Tứ, số lượng của các loài này trong các hang động không nhiều, ước tính số lượng tối đa dưới 1000 cá thể. Các mối đe dọa hiện tại và trong tương lai đối với loài này là khai thác nước ngầm, du lịch, ô nhiễm môi trường nước. Với khu vực phân bố rất hẹp, số lượng cá thể ít, cùng với các mối đe dọa tiềm tàng, loài này đủ tiêu chuẩn để có thể đưa vào thứ hạng Sẽ nguy cấp theo tiêu chí VU D1 trong Danh lục đỏ của IUCN
  
Đến nay, giống tôm nước ngọt Macrobrachium ở Việt Nam có 22 loài, vùng Đông Phương có 123 loài.

Xử lý tin: Đức Anh
Cung cấp thông tin: TS. Đỗ Văn Tứ

Nguồn tài liệu: Tạp Chí Sinh học, số 36(3): http://vjs.ac.vn/index.php/vjbio/article/view/5969 

Thứ Hai, 4 tháng 5, 2015

International Symposium on Conservation and Utilization of Forest Resources for Sustainable Livelihoods


Forest-Symposium-2015

International Symposium on Conservation and Utilization of Forest Resources for Sustainable Livelihoods: Malaysia 26-29/10/2015


FAO and Forest Departments of various countries have since long been involved in providing livelihood opportunities to forest dwellers and rural households through some direct intervention and also through research and development initiatives. But it is strongly felt that there are many grey areas where still a lot is needed to be done. Further, many good things are happening around the globe in the field of Forests resources particularly NWFP management related issues. There are plenty of success stories regarding sustainable livelihood through Forest resource utilization. V Sivaram Research Foundation and Universiti Teknologi MARA (UiTM) will be organizing the Symposium which provides platform and opportunity for researchers, policy makers, managers, professionals from different private sectors in Asia and other regions of the world to exchange and share methodologies, approaches, information on products, market and lessons learnt from Forest resource conservation and development initiatives.
Forests are essential for human survival and well being. They harbour two thirds of all terrestrial animal and plant species. They provide us with food, oxygen, shelter, recreation, and spiritual sustenance, and they are the source for over 5,000 commercially traded products, ranging from pharmaceuticals to timber and clothing. The biodiversity of forests the variety of genes, species, and forest ecosystems underpins these goods and services, and is the basis for long term forest health and stability. Promoting strategies and ways to use forest biodiversity in a sustainable way, and with clear social and economic benefits for the poor, is the purpose of scheduled meeting.


TECHNICAL SESSIONS

  1. Wildlife Management, Environmental Education and Ecotourism
  2. Forest Biomass and Bioenergy
  3. Forest Products as Food and Medicine
  4. Forest Conservation strategies and Afforestation programmes
  5. Causes and consequences of Deforestation
  6. Climate Change on Biodiversity and Ecosystem
  7. Research and Development in Forest Management

ABSTRACT SUBMISSION

All abstracts should be written in English and submitted on or before July 30, 2015through on-line abstract system. The abstract must be in the Microsoft Word format (paper size: A4). The title of the paper should be 16 pt Times New Roman and the Name and Address must be cantered with 14 pt Times New Roman. The main text should be single-spaced, in 12 pt Times New Roman with Key words at the end. The number of words in the abstract should be maximum 400.
All submissions will be reviewed in terms of quality, impact and relevance to the Conference by subject experts. The notification will be directed to the corresponding author by August 15, 2015.


http://forestsymposium.com/

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2015

Loài rêu mới Neckera praetermissa từ bắc Việt Nam

Reu-Neckera
Minh hoạ chi rêu Neckera
Các nhà khoa học vừa mô tả một loài rêu mới cho thế giới phát hiện từ miền bắc Việt Nam và được đặt tên là Neckera praetermissa.

Loài rêu này có đặc điểm giống với loài Neckera undulatifolia do có chung đặc điểm lá bẹ hình trứng và lá mọc đối với răng cưa thô. 

Tuy nhiên loài Neckera undulatifolia có thân dài đến 10 cm và một gân chính dài đến 5/6 chiều dài lá, trong khi thân của N. praetermissa dài khoảng 3 cm và lá không có gân chính hoặc gân chính dài nhất đến 1/6 chiều dài lá.

Có thể xem chi tiết mô tả loài rêu mới Neckera praetermissa trên tạp chí Phytotaxa 195-2: 178-182
Phytotaxa 195 (2): 178–182

A new species of Neckera (Neckeraceae, Bryophyta) from northern Vietnam

Johannes Enroth, ANDRIES TOUW

Abstract


Neckera praetermissa Enroth & Touw spec. nov. (Neckeraceae) is described from northern Vietnam. It is morphologically closest to the SE Asian N. undulatifolia (Tix.) Enroth, with which it shares the similar, ovate-ligulate and symmetric leaves with coarsely dentate apices, and strongly incrassate and porose leaf cell walls. However, N. undulatifolia has the stems up to 10 cm long and a distinct costa reaching to 5/6 of leaf length, while the stems of N. praetermissa are to c. 3 cm long and the leaves are ecostate or with a weak costa reaching to 1/6 of leaf length at most.

Keywords


Taxonomy, Pleurocarpous mosses, New species, Tropics

http://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.195.2.7
http://www.mapress.com/phytotaxa/content/2015/f/p00195p182f.pdf

Hoàng tinh Polygonatum annamense mới và đặc hữu của dãy Trường Sơn

Hoang-tinh-Polygonatum
Ảnh 1 loài Hoàng tinh
Một loài Hoàng tinh đặc hữu của dãy Trường Sơn vừa được mô tả và công bố mới cho khoa học với tên: Polygonatum annamense



Việc mô tả loài mới này dựa trên các mẫu vật được lưu ở phòng tiêu bản mẫu thực vật, các dữ liệu sinh học phân tử và mẫu cây trồng.

Loài Hoàng tinh Polygonatum annamense phân bố ở miền nam Việt Nam, mà chủ yếu ở khu vực cao nguyên Đà Lạt, Lâm Đồng.

Bài báo khoa học này được công bố trên tạp chí Phytotaxa (197-2: 125-131). Trong đó, nó cũng được so sánh và chỉ ra những đặc điểm khác nhau của các loài gần gũi như P. punctatum, P. mengtzense, P. punctatum, và P. urceolatum
Phytotaxa 197 (2): 125–131

A new Polygonatum (Asparagaceae) endemic to the Trường Sơn of southern Vietnam

Aaron Jennings Floden

Abstract


A new species of Polygonatum, P. annamense based on evidence from herbarium studies, molecular data, and cultivated material is described and illustrated from upper elevations of the southern Annamite ecoregion where it occurs disjunctly in both the Central Highlands and the Đà Lạt Plateau, Vietnam. It is compared to the morphologically similar P. punctatum with which it has been confused, and its relationship to P. mengtzense, P. punctatum, and P. urceolatum is discussed.

Keywords

Annamites, endemic, Sino-Himalaya

http://biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.197.2.5
http://www.mapress.com/phytotaxa/content/2015/f/p00197p131f.pdf

Chủ Nhật, 12 tháng 4, 2015

Phân loại thực vật nhìn từ vấn đề cây Mỡ

Cay-Mo-Magnolia-chevalieri-1
Thực tế rất nhiều quyết định của Bộ Nông nghiệp, Cục và chi cục Kiểm lâmcác trường đại học Nông, Lâm, các Viện và thậm chí cả luận án tiến sỹ đã có sự không thống nhất tên khoa học của loài Mỡ...

Ngày nay với sự phát triển của công nghệ thông tin khiến cho công việc phân loại thực vật (xác định tên khoa học) trở lên dễ dàng hơn trước rất nhiều. Các nhà phân loại hoặc những người làm công việc liên quan không còn phải ôm những quyển sách đồ sộ, thay vào đó là những tài liệu điện tử được lưu vào trong máy tính hoặc từ những trang web tin cậy trên internet.

Mặc dù vậy, một số nhà phân loại hiện nay vẫn chưa bỏ được thói quen đó là tra cứu ngược và sự bằng lòng chấp nhận. Có nghĩa là chúng ta thường tra tên một loài bằng việc tra từ tên Việt Nam sau đó suy luận ra tên khoa học mà không so sánh với mẫu vật chuẩn hoặc phần mô tả hình thái của chúng từ tài liệu chuyên ngành. Sự bằng lòng chấp nhận thể hiện ở khía cạnh chúng ta thường chấp nhận tên khoa học đó ngay cả khi có một vài sự sai khác về các đặc điểm mô tả hình thái. Hiển nhiên cách này là không đúng trong công việc định loại tên khoa học.

Một ví dụ điển hình có thể thấy từ sự việc gây tranh cãi trong cộng đồng về vấn đề Hà Nội trồng câyMỡ hay cây Vàng tâm ở đường Nguyễn Chí Thanh trong hạ tuần tháng trước. Nó đã đặt ra câu hỏi rằng những cây Mỡ hiện đang được nhân trồng rộng rãi ở phía Bắc Việt Nam có tên khoa học chính xác là gì?

Thực tế rất nhiều quyết định của Bộ Nông nghiệp, Cục và chi cục Kiểm lâmcác trường đại học Nông, Lâm, các Viện và thậm chí cả luận án tiến sỹ đã có sự không thống nhất tên khoa học của loài Mỡ. Có tài liệu nói tên khoa học của chúng là Manglietia conferaManglietia glauca hoặc Manglietia phuthoensisnhưng cũng có nơi dùng cả 2 tên khoa học của 2 loài khác nhau để chỉ một cây. Điều này có thể dẫn đến những hiểu lầm về quy trình nhân giống, trồng và chăm sóc, và đánh giá giá trị thương phẩm của loài đó.

Mỡ có tên khoa học là Manglietiaconfera (hiện trở thành tên đồng nghĩa của loài Magnolia conifera) là tên khá phổ biến được sử dụng trong các cuốn “Tên cây rừng Việt Nam” (nhiều tác giả - Nhà xuất bản Nông nghiệp, 2000), “Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam” của GS. Võ Văn Chi (NXB Giáo Dục, 2007),và trong một loạt các văn bản, tài liệu, báo cáo, luận văn (luận án) khác nhau. Có thể ví dụ như “Quyết định ban hành Danh mục các loài cây chủ lực cho trồng rừng sản xuất và Danh mục các loài cây chủ yếu cho trồng rừng theo các vùng sinh thái lâm nghiệp” số 4961/QĐ-BNN-TCLN ban hành ngày 17/11/2014 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; hay Luận án Tiến sỹ “Nghiên cứu nâng cao chất lượng gỗ Mỡ (Manglietia conifera Dandy) rừng trồng bằng phương pháp biến tính hóa học” của TS. Đào Xuân Thu (Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam) hoàn thành năm 2011.
Mỡ có tên khoa học là Manglietia glauca (hiện nay trở thành tên đồng nghĩa của dưới loài Magnolia sumatrana) cũng được dùng khá phổ biến, điển hình như trong “Giáo trình thực vật rừng”của thầy Lê Mộng Chân và cô Lê Thị Huyền (NXB Nông Nghiệp, 2000), bảng Phân loại nhóm gỗ Việt Nam của Bộ Lâm nghiệp ban hành trong Quyết định số 2198/CNR ngày 26/11/1977; và cũng được đề cập trong một loạt các báo cáo, văn bản, tài liệu, luận văn khác nhau. Ví dụ như Luận án Tiến sỹ “Chuyển hoá rừng trồng Mỡ (Manglietia glauca Dandy) và Sa mộc (Cunninghamia lanceolata Hook) sản xuất gỗ nhỏ thành rừng trồng cung cấp gỗ lớn ở miền Bắc Việt Nam” của TS. Nguyễn Hữu Thiện (Trường Đại Học Lâm nghiệp Việt Nam) hoàn thành năm 2012.
Mỡ có tên khoa học là Manglietia phuthoensis (nay trở thành tên đồng nghĩa của loài Magnolia chevalieri.) được dùng trong “Cây cỏ Việt Nam” của GS. Phạm Hoàng Hộ (NXB Trẻ, 1999), và là loài được trồng khá nhiều nơi ở Bắc Việt Nam.

Cay-Mo-Magnolia-chevalieri
Ảnh quả loài Mỡ Magnolia chevalieri được chụp từ một cây trồng ở Tuyên Quang. Tên khoa học loài đã được đoàn công tác (gồm ThS. Nguyễn Quang Hiếu, TS. Nguyễn Tiến Hiệp, GS. Phan Kế Lộc, ThS. Nguyễn Sinh Khang và ThS. Phạm Văn Thế) xác nhận. Hiện mẫu vật lưu tại Trung tâm Bảo tồn Thực vật Việt Nam. Đây là kết quả của chương trình điều tra các loài Ngọc lan và Thông do quỹ “People Resources and Conservation Việt Nam” tài trợ năm 2011. Ảnh Phạm Văn Thế
Ở một khía cạnh khác, hầu hết phần mô tả loài Mỡ hiện đang được gây trồng ở Việt Nam được khá nhiều cơ quan, tổ chức sử dụng rất giống với mô tả loài Mỡ phú thọ Magnolia chevalieri. Vậy phải chăng tất cả các cây Mỡ hiện đang được nhân giống, gây trồng ở miền Bắc Việt Nam đều thuộc một loài và chính là Magnolia chevalieri? Nếu đúng vậy thì rõ ràng chúng ta đang có một sự nhầm lẫn nghiêm trọng. Sự nhầm lẫn xảy ra có thể là do sự xác định nhầm tên khoa học của một số tác giả, các tài liệu sau lại trích dẫn lại của các tài liệu trước mà không hề kiểm định mẫu vật.
Ngoài cây Mỡ ra thì liệu còn bao nhiêu loài cây khác hiện đang bị nhầm lẫn đó là câu hỏi rất khó lời chính xác. Tuy nhiên chúng ta có thể khắc phục được bằng việc thu thập mẫu vật và kiểm chứng thông qua phần mô tả hình thái ở tài liệu chuyên ngành và so sánh với mẫu chuẩn, đó mới là quy trình của phân loại thực vật thực sự.

Quản trị viên Phạm Văn Thế

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2015

Có thể bảo tồn các loài động vật nguy cấp không?

Threatened-Species_AZE
Các hành động bảo tồn phải được tiến hành ngay lập tức và cần một khoản chi phí ước tính 1,3 triệu đô la Mỹ cho mỗi loài sẽ làm tăng đáng kể cơ hội sống sót cho các loài động vật có xương sống đang đứng trên bờ vực tuyệt chủng.


Gần đây, một bài báo công bố trên tạp chí Current Biology đã kết luận rằng một tập hợp nhỏ các loài động vật có xương sống đang bị đe dọa có thể được bảo vệ, nhưng chỉ khi các nỗ lực bảo tồn phải được thực hiện ngay lập tức và với vốn đầu tư ước tính khoảng 1,3 triệu đô la Mỹ cho mỗi loài trong mỗi năm để đảm bảo quản lý và bảo vệ môi trường sống của các loài đó.

Các nhà nghiên cứu đã phát triển ra một "chỉ số cơ hội bảo tồn" (conservation opportunity index) sử dụng các chỉ số đo lường được để định lượng khả năng bảo tồn thành công đạt được của một loài, cả trong môi trường sống tự nhiên của nó và bằng cách thiết lập các quần thể bảo đảm trong các vườn thú. Họ đã tính toán chi phí, và cơ hội bảo tồn cho 841 loài động vật có vú, bò sát, chim và động vật lưỡng cư được liệt kê bởi Alliance for Zero Extinction (AZE; www.zeroextinction.org), bao gồm các loài có giới hạn phân bố duy nhất một điểm và các hạng mục như là Nguy cấp hoặc Cực kỳ nguy cấp dựa trên Danh lục đỏ IUCN về các loài bị đe dọa toàn cầu.

Ho-Panthera-tigris-altaica

 Hổ Siberi Panthera tigris altaica, loài đang được xếp vào tình trạng Nguy cấp của IUCN.
Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%95_Siberi 

"Các điểm AZE được cho là những nơi hơn nhất không thể thay thế cho các khu vực bảo tồn đa dạng sinh học quan trọng," Tiến sĩ A. Dalia Conde, tác giả chính của bài báo và là trợ lý giáo sư tại Trung tâm Odense Max-Planck, Đại học Nam Đan Mạch cho biết. "Những đánh giá cơ hội bảo tồn đã cho chúng ta thấy tính cấp bách của việc thực hiện các hành động quản lý trước khi quá muộn. Nó là khẩn thiết để xác định hợp lý các hoạt động bảo tồn đối với các loài, những loài mà chúng tôi đã thấy chúng có cơ hội bảo tồn thành công thấp nhất trong môi trường sống tự nhiên và vườn thú."

Trong khi nghiên cứu chỉ ra rằng 39% các loài có chỉ số cơ hội bảo tồn cao, thì cũng cho thấy ít nhất 15 loài AZE sắp có nguy cơ tuyệt chủng dựa trên chỉ số cơ hội bảo tồn thấp của chúng. Chỉ số thấp này là do một hoặc kết hợp của các yếu tố khác nhau như: khả năng đô thị hoá môi trường sống tự nhiên của chúng ngày càng cao, sự bất ổn chính trị trong các khu vực và/hoặc chi phí bảo vệ và quản lý môi trường sống cao. Ngoài ra, cơ hội thiết lập một quần thể đảm bảo trong các vườn thú cho 15 loài đó là thấp, hoặc là do chi phí cao hoặc thiếu chuyên môn về nhân nuôi các loài đó.

Ước tính tổng chi phí để bảo tồn 841 loài động vật có xương sống đó trong môi trường sống tự nhiên của chúng đã được tính toán là khoảng hơn 1 tỷ USD mỗi năm. Các chi phí hàng năm cho quản lý bổ sung trong các vườn thú là 160 triệu USD.
"Mặc dù chi phí có vẻ cao, nhưng việc bảo vệ những loài này là điều cần thiết nếu chúng ta muốn giảm tỷ lệ tuyệt chủng vào năm 2020," Giáo sư Hugh Possingham từ Đại học Queensland cho biết. "Khi so sánh với chi tiêu của các chính phủ trên toàn cầu về các lĩnh vực khác (ví dụ như nhỏ hơn 500 lần so với chi tiêu quốc phòng của Mỹ) thì khoản đầu tư này trong việc bảo vệ các điểm có giá trị đa dạng sinh học cao là nhỏ."

Các nhóm nghiên cứu đa ngành được dẫn đầu bởi Tiến sĩ A. Dalia Conde và Giáo sư John E. Fa từ Imperial College London (trước đây làm ở Durrell Wildlife Conservation Trust) và các nhà khoa học từ Trung tâm Odense Max-Planck tại Đại học Nam Đan Mạch, Đại học Queensland, Đại học Texas A&M, American Bird Conservancy, Nhóm Chuyên gia Bảo tồn Giống IUCN SSC (Conservation Breeding Specialist Group), Hệ thống Thông tin Loài Quốc tế (International Species Information System), và Hiệp hội Vườn thú và Bể nuôi Thế giới (World Association of Zoos and Aquariums - WAZA).
Giáo sư John E. Pa cho biết, "Nỗ lực của chúng tôi mang lại cho chúng ta hy vọng bảo tồn được nhiều loài bị đe doạ cao khỏi sự tuyệt chủng, nhưng các hành động cần được thực hiện ngay lập tức, và đối với những loài bị giới hạn ở một vị trí thì một cách bảo tồn tích hợp tiếp cận là cần thiết."

Bài báo đã chỉ ra tầm quan trọng của việc tích hợp bảo vệ những nơi các loài cụ thể sống với các chương trình bảo đảm quần thể ở vườn thú bổ sung. Theo Tiến sĩ Onnie Byers, Chủ tịch Nhóm Chuyên gia Bảo tồn Giống IUCN SSC, "Câu hỏi đặt ra không phải là bảo vệ một loài trong trong tự nhiên hoặc vườn thú. Cách tiếp cận One Plan -. Kế hoạch tích hợp hiệu quả và việc sử dụng tối ưu các giới hạn tài nguyên, thông qua chuỗi quản lý từ tự nhiên đến sở thú - là điều cần thiết nếu chúng ta muốn có một hy vọng đạt được các mục tiêu Aichi Biodiversity Targets (Công ước Đa dạng Sinh học)".

Tiến sĩ Nate Flesness, Giám đốc Khoa học Hệ thống Thông tin Loài Quốc tế nhấn mạnh: "Chúng tôi muốn cảm ơn hơn 800 vườn thú ở 87 quốc gia đã đóng góp dữ liệu động vật và sưu tập cho Hệ thống Thông tin Loài Quốc tế, nơi mà các dữ liệu toàn cầu được thu thập cho phép nghiên cứu chiến lược bảo tồn như thế này. "

Tiến sĩ Markus Gusset ở Hiệp hội Vườn thú và Bể nuôi Thế giới thêm rằng "Những hành động bảo vệ môi trường sống để thành lập các quần thể bảo đảm trong các vườn thú là cần thiết nếu chúng ta muốn tăng cơ hội sống sót của loài."

Theo WAZA (http://www.waza.org/) / Dịch bởi nhóm BIODIVN (http://www.biodivn.com/)

Tài liệu tham khảo: Dalia A. Conde, Fernando Colchero, Burak Güneralp, Markus Gusset, Ben Skolnik, Michael Parr, Onnie Byers, Kevin Johnson, Glyn Young, Nate Flesness, Hugh Possingham & John E. Fa (2015) Opportunities and costs for preventing vertebrate extinctions. Current Biology 25(6): R219-R221.