Thứ Năm, 9 tháng 4, 2015

Tâm tình cùng các nàng hoa Cẩm cù!

Cam-cu-Hoya-1
Tôi là kẻ mắc nợ cỏ cây! Hứa hẹn hoài, giờ cảm xúc mới ùa về để kể cho các bạn nghe về loài Hoya tôi yêu.

Cái loài hoa làm mê mẩn lòng người. Thơm hương mỗi khi mở cửa, gió lùa vào phòng, hương Cẩm cù quyện theo gió, quẩn quanh trong nhà, theo vào trong giấc ngủ. Ôi! cái mùi hương nồng nàn khó quên. 

Mật Cẩm cù sóng sánh mỗi sớm mai thức dậy. Mấy nàng KeriiMeliflua mật nâu vàng óng tựa màu hổ phách, nàng Carnosa, nàng Pachyclada lại khác, giọt mật trong veo. 

Màu hoa và màu mật lẫn mùi hương của loài Hoya thật phong phú. 

Mỗi lần hoa nở, thò tay, chấm mật, đưa vào miệng, mật tứa ra, tan trên đầu lưỡi, ngọt lịm! Chả thế mà lũ bướm ong say mật cứ ùa về làm tổ quanh vườn.

Ngày còn bé, nhà tôi trong khu tập thể, ông nội có trồng một giàn Hoya carnosa. Ngày ấy không biết chỉ gọi đơn giản là Cẩm cù. Giàn Cẩm cù của ông sai hoa lắm, leo tứ tung lên cả tầng trên. Bông hoa năm cánh nở chùm chùm, ấn tượng quá, nên lũ bạn tôi bây giờ gặp lại mới thú nhận rằng ngày xưa toàn bẻ trộm hoa của ông liếm mật.

Lớn lên, mê mải bon chen, lặn ngụp mọi nẻo đường. Thời gian dài lâu, những tưởng lớp lớp cánh hoa Cẩm cù đã chìm vào quên lãng, chợt một ngày kia tôi gặp lại loài hoa ấy được bầy bán bên vệ đường. Ký ức tuổi thơ ùa về, chợt đầy ăm ắp!
Cam-cu-Hoya
 Một số loài hoa Cẩm cù. Ảnh Quế Garden

Kể từ ngày đó tôi bắt đầu trồng lại loài hoa năm cánh dễ thương ấy. Tôi mon men đến những hàng cây cảnh, dừng lại bên các bà bán cây dọc đường, rồi bắt đầu ra nhập Hội Cẩm cù Việt nam. Từ đó, tôi bắt đầu xây dựng bộ sưu tập Hoya.

Cũng như nhiều người bạn sưu tầm Hoya, cây Cẩm cù đầu tiên tôi trồng lại là Hoya white carnosa. Cái bông trắng ánh hồng như ngọc. Bây giờ, khi cư dân trong vườn Cẩm cù của tôi lên đến hơn trăm loại, tôi vẫn thấy bông white carnosa đẹp một cách thuần khiết. Đã vậy lại siêng hoa, suốt bốn mùa tôi đều được hít hà cái hương thơm ấy.

Vào dịp lễ hai mươi tháng mười cách đây bốn năm, đang lang thang ở một vườn lan, để tự thưởng cho mình một giò lan, ngó ngang ngó dọc, bỗng thấy một chậu cây xum xuê, lá tròn như đồng xu, hoa chùm năm cánh nhỏ xíu, đứng cạnh mà mùi thơm sực nức như ai vừa đánh đổ lọ nước hoa. Ông chủ vườn lan thấy mình mê mẩn mùi hương quá bèn ngắt một nhánh tặng cho mình trồng thử. Đó chính là gốc gác của chậu Hoya nummularioides khủng nhà mình.

Ngày mới chơi Cẩm cù, mình cứ loay hoay hoài với đám cutting. Có những lần mua cả ký Cẩm cù, mà may mắn lắm sống được một hai cây là cùng. 

Được cái tính lì từ nhỏ, bây giờ lại có ích, làm cách này không thành công, mình lại loay hoay thử cách khác. Cuối cùng cũng tìm ra cách chinh phục nàng Hoya.

Khi cây lên mầm ra lá rồi, lại dài cổ chờ hoa nở. Cả năm trời cây cứ xanh rì một màu lá. Lại nhủ lòng: không ra bông thì lá cũng đẹp mà, ta chơi lá vậy. Thế là mấy chục loại Hoya trong vườn cho mình một bộ sưu tập lá phong phú.

Sưu tầm Cẩm cù, chơi Cẩm cù một thời gian mình mới ngộ ra: yêu loài hoa này, học thêm được chữ NHẪN.

Hoya là một loài hoa thật đặc biệt. Chờ mãi rồi cũng đến ngày hoa nở. Hoa trả ơn người chăm nó, nở bất ngờ nhất khi ta không trông đợi. Cả chùm hoa năm cánh ngào ngạt tỏa hương, lóng lánh, đọng mật vào sáng ngày hôm sau, những giọt tròn sóng sánh như mật ong, quyến rũ lũ côn trùng tham ăn xà đến.

Đặc biệt hơn nữa, hoa lại nở ngay lại trên cồi nụ cũ. Những chấm li ti nhỏ bằng đầu tăm lớn dần, lớn dần rồi lại nở ra những chùm hoa mới.

Cây càng già, càng nhiều cồi nụ, càng sai hoa. Mỗi khi ngắm giàn Cẩm cù đầy hoa, tôi mỉm cười và ngẫm thấy loài Hoya đầy tính nhân bản, biết trả công cho người biết chờ biết đợi.

Càng tạo điều kiện cho các nàng Hoya leo trèo, các nàng càng dễ đơm bông. Mình đã từng thấy những chùm Cẩm cù giăng hoa từ gốc đến ngọn một cây cổ thụ.

Trước kia mơ ước không biết đến bao giờ có được hơn trăm loại Cẩm cù. Có được rồi lại tiếp tục mơ thêm vài giấc mơ nữa! 

Lại mơ được sống thanh thản giữa khu rừng Cẩm cù ngát hương.
Hoa Mặt Trời Quế/Quế Garden

Phát hiện Phụ loài Ốc núi Garnieria mới ở Sơn La

Oc-nui-Garnieria-mouhoti-nhuongi-1
Phụ loài ốc núi (subspecies) mới có tên khoa học Garnieria mouhoti nhuongi Do, 2015, được phát hiện ở dãy núi đá vôi thuộc xã Mường Do, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La

Phụ loài thuộc cỡ lớn, hình trụ dài, màu nâu sẫm với nhiều vệt chỉ ngắn, trắng trên mặt vỏ; miệng vỏ hình ôvan, vành miệng dày và mở rộng; chiều cao vỏ dao động 37-42 mm, chiều rộng vỏ 8-9 mm, số vòng xoắn 10-11.

Phụ loài ốc núi này sống bám trên đá, ưa sống những nơi có độ ẩm cao như các khe, rãnh, chúng sử dụng thức ăn là rêu, tảo sống bám trên bề mặt đá hoặc các vụn hữu cơ lắng đọng. Chúng hoạt động mạnh vào các tháng mùa mưa (khoảng tháng 5 đến tháng 10 hàng năm), đây cũng là giai đoạn chúng có hoạt động sinh sản. Mật độ cá thể trong quần thể nơi phát hiện loài này khá cao, khoảng 3-4 cá thể/m2.

Oc-nui-Garnieria-mouhoti-nhuongi
Phụ loài ốc núi mới Garnieria mouhoti nhuongi Do, 2015

Phụ loài Garnieria mouhoti nhuongi và nhiều loài ốc núi khác ngoài giá trị tạo nên tính đa dạng sinh học, là mắt xích quan trọng trong các chuỗi và lưới thức ăn, một số còn được dùng làm thực phẩm (như nhóm loài ốc miệng tròn Cyclophorus, ốc núi Camaena, ốc sên Achatina), trong y học và sản xuất đồ thủ công, chúng còn được đề xuất như nhóm sinh vật chỉ thị đa dạng động vật không xương sống ở những sinh cảnh tự nhiên và coi chúng như chỉ số của sự xáo trộn cho lớp phủ thảm thực vật.

Hiện nay, một số hoạt động của con người như phá rừng lấy đất canh tác, làm đường giao thông hay xây dựng các thủy điện, hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng là những nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến môi trường sống của sinh vật nói chung và các loài ốc núi nói riêng. Năm 2014, Ủy Ban nhân dân và Hội đồng nhân dân tỉnh Sơn La đã có quyết định và nghị quyết về bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Sơn La đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, đây là một trong số nhiều biện pháp góp phần bảo tồn và gìn giữ tài nguyên sinh vật của tỉnh nhà.

Phụ loài mới Garnieria mouhoti nhuongi đã được tác giả Đỗ Đức Sáng và Đỗ Văn Nhượng công bố trên tạp chí chuyên ngành Ruthenica, Russian Malacologia Journal, Tập 25, Số 1, 2015.

Đỗ Đức Sáng (Trường Đại học Tây Bắc) <http://susta.vn>

Ruthenica, 2015, vol. 25, No. 1: 1-9. Published online February 16, 2015

The terrestrial snail family Clausiliidae (Gastropoda: Pulmonata) from Son La, Vietnam, with description of a new subspecies

DO DUC SANG - Department of Zoology, Faculty of Biology, Tay Bac University, Vietnam, E-mail: doducsangdhtb@gmail.com; 
DO VAN NHUONG - Faculty of Biology, Hanoi National University of Education, Vietnam 
urn:lsid:zoobank.org:pub:552854A9-D121-4508-AAFA-FC35D10FE65F

ABSTRACT. This paper reports the systematics of the Clausiliidae species occurring in Son La Province, Vietnam. Specimens of 15 species and subspecies of Clausiliidae from Son La were investigated based on their shell characteristics. The subspecies Garnieria mouhoti nhuongi subsp. nov. was collected in Phu Yen, Muong Do, approximately 200 km NE of the type locality of the nominotypical subspecies Garnieria mouhoti mouhoti. This is the first species of genus Garnieria Bourguignat, 1877 from Vietnam

http://www.ruthenica.com/documents/vol25_1-09_Do_Do


a

Hai loài Chân kép mới ở Lào và mô tả lại bốn loài ở Việt Nam

Hai loài chân kép (Cuốn chiếu) mới cho khoa học là Desmoxytes rhinoceros và Desmoxytes rhinoparva phát hiện ở Nam và Bắc Lào đã được các nhà khoa học Thái Lan và Nga mô tả và minh hoạ, và vừa được công bố trên tạp chí Zootaxa 3931 (4): 483–504.

Desmoxytes-enghoffi
Desmoxytes enghoffi Nguyen et al. 2005, từ Quảng Bình

Thêm vào đó 4 loài chân kép khác cũng thuộc giống Desmoxytes được công bố bởi Carl Attems năm 1938 ở Việt Nam đã được mô tả lại. Đó là: Desmocytes aspera, D. pilosa, D. spectabilis  D. cervaria


Giống chân kép Desmoxytes còn được gọi là chân kép rồng hay cuốn chiếu rồng (Dragon millipede) do hình dạng giống những con rồng trong truyền thuyết. Hiện nay, đã có 35 loài cuốn chiếu rồng đã được ghi nhận, phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á và miền Nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, đã gặp 13 loài chân kép rồng. 



Two new species of dragon millipedes, genus Desmoxytes Chamnerlin, 1923, from Laos (Diplopoda: Polydesmida: Paradoxosomatidae), with redescriptions of all four species of Attems from Vietnam

NATDANAI LIKHITRAKARN, SERGEI I. GOLOVATCH, SOMSAK PANHA

Abstract
Two new species of Desmoxytes are described and abundantly illustrated: D. rhinoceros sp. n. and D. rhinoparva sp. n., from southern and northern Laos, respectively. Illustrated redescriptions of all four Vietnamese Desmoxytes species proposed by Carl Attems are also provided, based on type material.

Keywords
Millipede, Desmoxytes, new species, Laos

http://biotaxa.org/Zootaxa/article/view/zootaxa.3931.4.2

http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03931p504f.pdf

Loài Vi tảo mới Mallomonas fimbriata phát hiện ở Cam Ranh

Vi-tao-Mallomonas
Ảnh minh hoạ Mallomonas
Một loài vi tảo mới cho khoa học mang tên Mallomonas fimbriata vừa mới được phát hiện ở các vũng nước thuộc Vịnh Cam Ranh tỉnh Khánh hoà bởi nhà khoa học Evgeniy Sergeevich Gusev và được công bố trên tạp chí Phytotaxa 195(4: 291-296).

Việc mô tả được thực hiện trên việc quan sát hình thái các vảy silica bằng kính hiển vi điện tử quét và truyền. Loài mới này có 3 loại vảy: vảy cơ thể hình bầu dục, những vảy đuôi thô, dài, phía trước tạo thành gai và kéo dài, phát triển rộng ra thành vảy đỉnh. Vảy dày, 3 lớp, cấu tạo mắt lưới bên trong. Vi tảo Mallomonas fimbriata có hình thái khá giống với M. fenestrata, và tạo thành một nhóm đặc biệt với các nét đặc trưng độc đáo của cấu trúc vảy, gần tổ Retrorsae và Quadratae.

Nhóm Biodivn biên tập

A new species of the genus Mallomonas (Synurales, Chrysophyceae), Mallomonas fimbriata, sp. nov.

Evgeniy Sergeevich Gusev

Abstract


Mallomonas fimbriatasp. nov. is described from bog pool, located in Cam Ranh Peninsula, Khanh Hoa Province, Central Vietnam. The description is based on silica-scale morphology studied by means of transmission and scanning electron microscopy. New species has 3 types of scales: oval body scales, caudal ones with robust, long, forward pointing spines and elongated, widened to distal part apical scales. Scales are thick, 3-layered, with inner reticulation. Mallomonas fimbriata and the similar M. fenestrata form a special group with unique features of scales structure close to the sections Retrorsae and Quadratae.

Keywords

Mallomonas, Synurales, Chrysophyceae, Mallomonas fimbriata, sp. nov., new species
http://www.biotaxa.org/Phytotaxa/article/view/phytotaxa.195.4.4

Thứ Bảy, 4 tháng 4, 2015

Tại sao chồn cưỡi trên lưng chim gõ kiến?

Chon-cuoi-chim-go-kien-1

Một bức ảnh tuyệt vời, ghi lại cuộc chiến giữa một con thú săn mồi và một con chim săn mồi đã lan truyền chóng mặt.


Theo BBC, bức ảnh của tác giả Martin Le-May chụp một con chồn cưỡi trên lưng một con chim gõ kiến đã được nhanh chóng chia sẻ sau khi xuất hiện trên mạng xã hội, và được nhiều hãng truyền thông thế giới đưa tin.

Không phải là đi quá giang nhờ con chim gõ kiến, mà con chồn thực sự vừa đánh chén xong một bữa ngon. Quả là một cảnh có lẽ vô cùng hiếm gặp.

Tiếng kêu quang quác đầy đau đớn, tắc nghẹn và một bóng xanh lướt qua đã khiến Martin Le-May và vợ, Ann, để ý. Khi đó, họ đang tản bộ quanh công viên Hornchurch Country Park ở London.

Núp sau thân cây và quan sát từ xa bằng ống nhòm, hai vợ chồng ông sửng sốt chứng kiến cảnh ẩu đả dữ dội giữa một con chim gõ kiến xanh và một con chồn.

Rồi một điều cực kỳ bất ngờ xảy ra: Chú chim gõ kiến bay lên trong lúc vẫn đang bị con chồn đeo bám trên lưng. Và cảnh tượng kỳ lạ đó đã được ghi lại vào ống kính máy ảnh.

Chon-cuoi-chim-go-kien-2

Chon-cuoi-chim-go-kien-3

"Tôi chưa từng bao giờ thấy cái gì như thế," Tiến sỹ Stuart Marsden từ khoa Sinh thái học của Đại học Manchester Metropolitan, Anh quốc nói. Ông là người nghiên cứu chuyên sâu về chim gõ kiến xanh.

Chồn là loài thú săn mồi hung dữ. Chúng thường tấn công các loài động vật có vú. Chúng có thể bắt được các con mồi lớn hơn chúng, thậm chí săn cả thỏ. Nhưng chúng rất hiếm khi tấn công các con chim.

"Tôi không nghĩ là chim gõ kiến hay bị chúng tấn công," Tiến sỹ Marsden nói. Tuy nhiên, chim gõ kiến là loài sống trên mặt đất, còn chồn thì hay tìm ăn trứng và con non của loài chim này; đôi khi các con chim bố mẹ tìm cách đánh lại để bảo vệ tổ.

Ông nghĩ rằng chim gõ kiến có lẽ đang kiếm ăn trong bụi cỏ thì bị phục kích. Thức ăn chủ yếu của loài chim này là kiến.

"Không giống như các loài chim khác, chúng chủ yếu bỏ thời gian kiếm mồi trên mặt đất, tìm thức ăn ở các tổ kiến."

"Con chồn sẽ ngồi rình và chờ cơ hội để săn được bất cứ con mồi nào nó ăn được. Chúng thực sự giảo hoạt và thông minh."

"Thật không may là trong trường hợp này, nó đã bị cho 'thăng thiên'," ông nói

Iolo Williams, nhà tự nhiên học đồng thời là một người hoạt động trong lĩnh vực truyền thông nói với BBC: "Đây quả thật là những bức hình tuyệt vời. Nên nhớ là chồn rất phàm ăn - tôi đã từng chứng kiến cảnh chúng săn được cả những con thỏ trưởng thành."

"Chúng là những con thú săn mồi rất đáng gờm, cho nên tôi không nghĩ là việc nó săn một con chim gõ kiến thì lại là chuyện đáng nói."

"Điều đáng nói ở đây là chuyện những gì diễn ra đã được ống kính máy ảnh ghi lại."
So sánh giữa chồn và chim gõ kiến

Chim gõ kiến xanh khi trưởng thành thì đạt khoảng 32cm chiều dài, còn chồn đực khoảng 20-22cm và chồn cái 15-18cm.

Về trọng lượng, chim gõ kiến xanh nặng từ 180g đến 220g, còn các con chồn trưởng thành thường nặng từ 106g đến 131g, nếu là chồn đực, và 55-69g nếu là chồn cái.

Tiến sỹ Marsden nói với BBC Earth: "Với một con chim như thế thì việc bay được lên khỏi mặt đất với một trọng lượng nặng như vậy trên lưng thì quả là rất ấn tượng."

Nhiều ảnh 'chế' cảnh chồn cưỡi chim đã được tung ra

Chon-cuoi-chim-go-kien-4
trong đó có cả hình Tổng thống Nga Vladimir Putin

Chon-cuoi-chim-go-kien-5
Tài tử điện ảnh John Travolta cũng xuất hiện cùng "cặp đôi" chim-chồn


Chon-cuoi-chim-go-kien-6

... và thêm nhiều ý tưởng ngộ nghĩnh khác

Theo BBC

Kỳ nhông khổng lồ sắp tuyệt chủng vẫn bị ăn

Ky-Nhong-Trung-Quoc-1

Loài lưỡng cư lớn nhất thế giới này thật là đặc biệt. Chúng là những gì còn sót lại từ thời khủng long, và các con đực là "sư phụ về hang" - bậc thầy về việc dùng hang, tổ - và có tiếng kêu như tiếng trẻ em khóc. Hiện chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng.

Không mấy khi ta nghe thấy có loài động vật nào được gọi là "sư phụ về hang". Nhưng kỳ giông khổng lồ Trung Quốc thì đúng là thế thật.

Chúng có những cái hang nuôi con dưới nước, thường là các hốc lớn dưới các tảng đá hay trong các khe, rãnh, nơi chúng để vài con cái chui vào đẻ các ổ trứng. Rồi "sư phụ về hang" sau đó sẽ canh gác và trông nom chỗ trứng trong vòng hơn một tháng, cho tới khi trứng nở.

Kỳ giông khổng lồ Trung Quốc là loài lưỡng cư lớn nhất còn lại trên thế giới. Chúng có thể dài tới 1,8m, chiều dài mà không phải con người ai cũng đạt được. Chúng cũng rất nặng, tới 50kg.

Ky-Nhong-Trung-Quoc-2

Thế nhưng nòng nọc khi mới nở từ trứng kỳ giông ra chỉ dài 3cm.

"Hãy tưởng tượng một con sa giông trong hồ cảnh ở vườn nhà bạn phát triển tới kích cỡ đó," Andrew Cunningham từ Hội Động vật học London, Anh quốc, nói. "Trông giống như là thấy một người trưởng thành bằng xương, bằng thịt vậy."

Chúng đã là nguồn cảm hứng cho rất nhiều sự tích, huyền thoại trong văn hóa Trung Quốc. Biểu tượng nổi tiếng Âm - Dương được cho là khởi nguồn từ hai con kỳ giông khổng lồ Trung Quốc quyện vào nhau.

Kỳ giông còn được gọi là "oa oa ngư", tức "cá hài nhi" do chúng khi tức giận có tiếng kêu giống như tiếng trẻ con khóc.

Chúng cũng thuộc về một giống cổ đại. Họ nhà kỳ giông, tên khoa học là Cryptobranchidae, tồn tại từ 170 triệu năm về trước.

Các con kỳ giông khổng lồ hiện đại thường được gọi là "hóa thạch sống" bởi chúng trông rất giống với các loài họ hàng cổ xưa. Chúng hầu như không thay đổi gì kể từ thời khủng long bạo chúa Tyrannosaurus rex tới nay, theo lời Cunningham.

Ky-Nhong-Trung-Quoc-3
Những con vật kỳ diệu này đang ngày càng trở nên hiếm hoi trong đời sống hoang dã. Kể từ thập niên 1950 tới nay, số lượng kỳ giông khổng lồ Trung Quốc đã giảm đi nhanh chóng. Hiện chúng được liệt vào danh sách các loài bị đe dọa nghiêm trọng, Danh sách Đỏ của Hội Bảo vệ Đời sống Hoang dã Quốc tế.

Ngành công nghiệp chăn nuôi kỳ giông ngày càng phát triển là lý do chính cho tình trạng trên, dẫu cho ngành này mới chỉ xuất hiện chừng một thập niên trở lại.

Kỳ giông được cho là rất ngon, bất chấp việc chúng thuộc nhóm động vật cần bảo vệ. Hơn nữa, kích cỡ to lớn khiến chúng là nguồn cung cấp thực phẩm rất hấp dẫn.

Do đó, kỳ giông trong đời sống hoang dã thường bị bắt đem về nuôi. Những kẻ săn bắt trộm kiếm được rất nhiều tiền từ việc này.

Càng bị săn bắt khỏi đời sống hoang dã, số lượng kỳ giông càng giảm mạnh một cách nhanh chóng bởi các kỳ giông non cần mất nhiều năm mới đạt được độ trưởng thành để giao phối, sinh sản.

Khi chúng còn nhiều thì việc săn bắt còn dễ dàng, theo Cunningham. Nhưng khi số lượng giảm nhiều thì người ta lại dùng các biện pháp tàn khốc hơn để săn bắt, như dùng tới thuốc nổ, giật điện, thuốc trừ sâu v.v... khiến hủy hoại hầu hết các sinh vật sinh sống ở đoạn sông có kỳ giông.
Ky-Nhong-Trung-Quoc-4

Đáng tiếc là các biện pháp trừng phạt đối với các đối tượng bị bắt về tội phạm này lại rất thấp, theo lời Cunningham. "Thậm chí còn có trường hợp cơ quan bảo vệ môi trường thực ra lại đi mua [kỳ giông] từ những kẻ săn bắt trộm rồi đem bán cho các trại chăn nuôi."

Bệnh dịch truyền nhiễm lan nhanh chóng tại các trang trại đó, đe dọa tới kỳ giông hoang dã. Nếu hai nhóm kỳ giông phối giống với nhau thì đó sẽ đem tai ương tới cho các kỳ giông hoang dã bởi những con được nuôi trong trang trại thường có xu hướng mắc bệnh bẩm sinh nhiều hơn.

Một cuộc điều tra gần đây cho thấy nếu số lượng kỳ giông tiếp tục bị đe dọa theo xu hướng hiện nay thì loài này sẽ sớm tuyệt chủng khỏi đời sống hoang dã.

Nhưng tin tốt là nhờ xác định được các mối đe dọa, nên các nhà bảo tồn thiên nhiên nói họ đang quyết tâm bảo vệ loài động vật này.

Đóng cửa các trang trại là điều không khả thi, theo lời Cunningham. "Ngành này quá lớn mạnh, và chính quyền Trung Quốc từ cấp trung ương, tỉnh tới địa phương đều đã đầu tư quá nhiều tiền vào nó."

Thay vào đó, ông nói các trang trại cần phải được quản lý tốt hơn. Chẳng hạn như các con kỳ giông bị đánh bắt sẽ không được thả lại vào đời sống tự nhiên.

Trước đây, chính quyền đã khuyến khích việc thả kỳ giông bị bắt nhằm nỗ lực tăng số lượng loài này trong đời sống tự nhiên. Thế nhưng việc đó gây hại nhiều hơn lợi, theo lời Cunningham.
Ky-Nhong-Trung-Quoc-5

Các con vật được thả ra thì không được kiểm tra về dịch bệnh, cho nên chúng có thể làm lây lan bệnh ra cho các con khác. Chúng cũng không được theo dõi để đánh giá xem liệu nỗ lực làm tăng dân số cho loài này có đem lại kết quả gì hay không.

Do đó, Cunningham và các đồng nghiệp của ông khuyến cáo các con kỳ giông hoang dã bị đánh bắt cần phải được giữ riêng biệt. Chúng cần phải được gắn microchips nhằm phân biệt với các con hoàn toàn hoang dã.

"Đây là một trong những loài động vật đặc biệt nhất trên hành tinh," Cunningham nói. "Trung Quốc cần phải học cách nâng niu loài vật này. Chỉ có vậy thì kỳ giông mới có tương lai."

Melissa Hogenboom - Theo BBC

Loài Ve sầu mới phát hiện ở Ninh Bình

Ve-Sau-Pomponia-brevialata-1
 Một loài ve sầu mới cho khoa học, có tên là Pomponia brevialata, đã được phát hiện ở Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam.

Gần đây, các nhà khoa học của Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Trường Đại học Connecticut, Hoa Kỳ và Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ đã nghiên cứu về phân loại học của giống ve sầu Pomponia ở Việt Nam và Cămpuchia. Kết quả nghiên cứu đã công bố 1 loài mới cho khoa học và ghi nhận thêm 1 loài mới cho khu hệ ve sầu của Cămpuchia.

Loài ve sầu mới cho khoa học được đặt tên là Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015. Loài này được phân biệt với các loài khác của nhóm loài Pomponia linearis bởi các đốm vệt màu nâu trên gân r, r-m, và m của cánh trước; bụng con đực hình phễu. Loài này giống với loài Pomponia cinctimanus (Walker, 1850) và loài Pomponia ramifera (Walker, 1850) (cả hai loài đều phân bố ở Sylhet, Bănglađét). Tuy nhiên, loài này phân biệt với hai loài trên bởi các gai của clasper hẹp hơn và dài hơn rõ rệt cũng như các đốm vệt màu nâu trên cánh trước.

Ve-Sau-Pomponia-brevialata
Hình 1: Loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, cơ thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bụng. E, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Mẫu vật nghiên cứu của loài Pomponia brevialata Lee & Pham, 2015 được thu tại Vườn quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật nghiên cứu được lưu giữ tại Viện Khoa học tự nhiên Hoàng gia Bỉ và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Với việc công bố thêm loài mới này đã nâng số tổng loài thuộc giống Pomponia lên 36 loài. Trong đó Việt Nam có 5 loài. 

Loài ve sầu ghi nhận mới cho khu hệ ve sầu Cămpuchia là loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009. Loài này được công bố là loài mới cho khoa học từ năm 2009 với mẫu vật thu được ở Vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và Vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.

Ve-Sau-Pomponia-backanensis
Hình 2: Loài Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009, con đực: A, cơ thể con đực nhìn từ mặt lưng. B, thể con đực nhìn từ mặt bụng. C, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên bụng. D, bộ phận sinh dục con đực nhìn từ mặt bên.

Nguồn tin: Phạm Hồng Thái
Theo Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam

Tóm tắt nội dung bài báo được đăng tải trên tạp chí Zootaxa 3925 (4): 562–572 

Cicada genus Pomponia Stål, 1866 (Hemiptera: Cicadidae) from Vietnam and Cambodia, with a new species, a new record, and a key to the species 

HONG-THAI PHAM1,4, YOUNG JUNE LEE 2 & JEROME CONSTANT 3 
1 Vietnam National Museum of Nature, Vietnam Academy of Science and Technology, 18 Hoang Quoc Viet St, Hanoi, Vietnam. E-mail: phamthai@vnmn.vast.vn 
2 Department of Ecology and Evolutionary Biology, University of Connecticut, 75 North Eagleville Road, Storrs, CT 06269, USA 
3 Royal Belgian Institute of Natural Sciences, Department of Entomology, Vautierstreet 29, B-1000 Brussels, Belgium 
4 Corresponding author 

Abstract 
The genus Pomponia Stål, 1866 from Vietnam and Cambodia is reviewed . Pomponia brevialata Lee & Pham, sp. nov. is described from Vietnam. Pomponia backanensis Pham & Yang, 2009 is added to the Cambodian cicada fauna. A key to the seven Vietnamese and Cambodian species of the genus Pomponia Stål, 1866 is provided: P. linearis (Walker, 1850), P. backanensis Pham & Yang, 2009, P. brevialata Lee & Pham, sp. nov., P. subtilita Lee, 2009, P. piceata Distant, 1905, P. daklakensis Sanborn, 2009, and P. orientalis (Distant, 1912). Synonymic lists, information on geographical distributions, and material examined for the Vietnamese and Cambodian species of Pomponia are provided. 

Key words: Auchenorrhyncha, Psithyristriini, Pomponia brevialata, Pomponia backanensis, Pomponia linearis, Pomponia subtilita, Pomponia piceata, Pomponia daklakensis, Pomponia orientalis, distribution.
For final version: http://www.mapress.com/zootaxa/2015/f/z03925p572f.pdf