Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Kinh doanh trong sự Tuyệt chủng: Buôn bán vật nuôi đang giết chết nhiều loài động vật như thế nào



Suy giảm đa dạng sinh học toàn cầu không chỉ là kết quả từ sự phá hủy môi trường sống tự nhiên, hay thậm chí săn bắn các loài động vật làm thức ăn. Một số lượng lớn các loài đang bị đe dọa là do buôn bán vật nuôi – ở cả hai trường hợp dạng sống như vật nuôi cảnh hay để trưng bày, hoặc bị giết chết vì giá trị sử dụng trong các loại thuốc.


Mặc dù mọi người ngày càng nhận thức được mối đe dọa của việc buôn bán các loài có giá trị cao như ngà voi, và các động vật khác như hổ, tê giác, và tê tê trong y học, ít người nhận ra rủi ro do buôn bán vật nuôi gây ra đối với tương lai sống còn của nhiều loài chưa được biết đến rộng rãi.

Tham quan một vườn thú hay một cửa hàng bán vật nuôi, bạn có thể thấy được rằng những con bò sát hay lưỡng cư trong cửa hàng đang được chăm sóc trong điều kiện nuôi nhốt. Nhưng rất nhiều trong số các con vật này được nhập khẩu về đây khi còn sống. Trên thực tế 92% của 500.000 chuyến hàng động vật sống trong giai đoạn 2000-2006 tới Hoa Kỳ (tương đương 1.480.000 con vật) là cho mục đích buôn bán vật nuôi và 69% trong số đó có nguồn gốc từ Đông Nam Á.

Việc buôn bán này là hợp pháp?

Rất nhiều vườn thú, hồ cá cảnh và các nhà buôn bán vật nuôi ban đầu đều là các nhà nhân giống có chứng chỉ ở nhiều nơi trên Thế giới (đặc biệt là ở Đông Nam Á và Nam Mỹ) nhằm cung cấp nguồn vật nuôi và phục vụ mục đích triển lãm. Tuy nhiên số vật nuôi bây giờ được đem ra triển lãm chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số các con vật thực tế đang bị nuôi nhốt. Phần lớn vật nuôi được săn bắt từ thiên nhiên và được chuyển qua dạng hợp pháp

Một trong những loài như vậy là Tắc kè (Gecko gecko), trong trường hợp loài này ở Indonesia có thể xuất khẩu hợp pháp đến 3 triệu cá thể sống hàng năm (theo công ước CITES quy định về hạn ngạch xuất khẩu hợp pháp của tất cả các loài có giá trị thương mại quốc tế) và thêm hơn 1,2 triệu mẫu khô có giá trị về mặt dược liệu.

Tắc kè - Jonathan Searle/Reuters
Tuy nhiên việc nhân giống 3 triệu cá thể tắc kè đòi hỏi ít nhất 420.000 cá thể cái và 42.000 cá thể đực; 90.000 thùng ấp trứng và 336.000 lồng nuôi; thêm vào đó là thức ăn và hàng trăm nhân viên phục vụ. Tất cả các chi phí bỏ ra cần được bù đắp với mưc giá bán ra dưới 1,90 dollar/ 1 con tắc kè, và đó là chưa đề cập đến tỉ lệ chết và thêm 1,2 triệu con được bán ra dưới dạng khô. Do đó, phần lớn nguồn tắc kè vẫn được săn bắt ngoài tự nhiên.

Tình trạng này cũng đúng cho ước tính khoảng 160 loài bò sát. Khoảng 80% số lượng loài Trăn cây Indonesia ( Morelia viridis) (hơn 5.337 cá thể hàng năm) ước tính bị xuất khẩu bất hợp pháp, và hầu hết toàn bộ quần thể loài rùa Palawan đã bị đánh bắt bởi một nhóm duy nhất để xuất khẩu trong khu vực. Bởi vì các nhà sưu tầm có nhu cầu tìm kiếm các loài mới và quý hiếm. Toàn bộ các quần thể có thể bị khai thác thông qua sử dụng thông tin từ các công bố khoa học đề cập tới các loài động vật ngay khi chúng đã được mô tả. Ít nhất 21 loài bò sát đã trở thành mục tiêu theo cách này và các quần thể trong tự nhiên có thể đứng bên bờ vực tuyệt chủng sớm sau khi khi chúng được phát hiện ra và đó là 1 thực tế. Các viện nghiên cứu đã bắt đầu di dời vị trí chính xác của các loài mới ra khỏi các công bố của họ để ngăn chặn tình trạng này.

Nhu cầu sưu tầm đã đưa một số loài đến nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên, bao gồm loài tắc kè hổ Trung quốc (Goniuorosaurus luii) và rất nhiều loài tắc kè khác chỉ được biết đến bởi các nhà sưu tầm và các nhà khoa học. Tuy những loài này tuyệt chủng trong tự nhiên, mức độ cực kì nguy cấp và khó phân loại lại dễ dàng có sẵn trong tay những kẻ buôn bán vô đạo đức tại Mỹ và Châu Âu, thông qua Internet hay các hội chợ đen. Những mối đe dọa này đặc biệt nguy hiểm với bất kì loài bò sát nào mới được mô tả, đặc biệt là các loài bò sát đến từ Châu Á hay New Zealand , Madagascar.

Đối với phần lớn các loài này, buôn bán hợp pháp chẳng bao giờ được cấp phép quốc tế; tất cả các con vật có sẵn đều đến từ hàng hóa bất hợp pháp, và có thể tương đương với quần thể trên toàn cầu đối với một số loài.
Trăn cây - Claro Cortes/Reuters

Một ước tính cho thấy 50% số bò sát còn sống xuất khẩu là thông qua bẫy bắt trong tự nhiên bất chấp thực tế là chưa tới một nửa trong tổng số 10.272 loài bò sát được mô tả hiện nay còn trong tự nhiên được đánh giá nằm trong tình trạng bảo tồn.

Chỉ khoảng dưới 8% các loài buôn bán thương mại được kiểm soát để ưu tiên phát triển, nhưng các hạn ngạch hay các hướng dẫn quản lý gần như không có

Tuy nhiên tình trạng khai thác này không chỉ giới hạn đối với các loài bò sát hay lưỡng cư. Bất kì loài nào cũng có thể rơi vào bẫy của những tay sưu tầm, đối với các loài linh trưởng, và các loài lan hay chim đều chịu chung số phận. Hơn 212 loài lưỡng cư đã bị khai thác quá mức đã được phân loại cho đến nay, với ít nhất 290 loài đã trở thành mục tiêu cho buôn bán vật nuôi quốc tế.

Nhiều cuộc điều tra tại Thailand cho thấy có hơn 347 loài phong lan được buôn bán chỉ trong một chợ. Những loài này đến từ khắp các khu vực và bao gồm cả những loài chưa được mô tả, cũng như các loài được vận chuyển trái phép vào Thailand 

Những loài này chịu chung số phận với các loài bò sát, với nhiều khám phá mới được khai thác từ thị trường này, thỉnh thoảng được khuyến khích bởi các nhà nghiên cứu. Chúng rất dễ dàng có sẵn qua Internet, kết quả là sự tuyệt chủng của các loài này có thể chỉ dựa riêng vào hoạt động buôn bán và những mối đe doạ do thương mại này gây ra bị từ chối chấp nhận.

Nhiều loài chim bị đe doạ tuyệt chủng do bị buôn bán làm vật nuôi - James Akena/Reuters

Rất nhiều loài chim cũng chịu mối đe dọa tuyệt chủng hàng loạt từ các hoạt động buôn bán vật nuôi. Các loài này bao gồm hàng ngàn loài chim tại Nam Mỹ, và một ước tính cho thấy có tới 3,33 triệu cá thể chim bị buôn bán hàng năm tại Đông Nam Á (1,3 triệu cá thể chỉ tính riêng tại Indonesia)

Áp lực lên các loài chim lại Indonesia nghiêm trọng đến mức mà chỉ trong 1 ngày tại 1 chợ đã có hơn 16.160 cá thể chim thuộc 206 loài ghi nhận được bán ra, chiếm tới 98% tất cả các loài chim bản địa của Indonesia, và 20% trong số đó là đặc hữu.

Các loài cá cũng có số liệu thống kê tương tự. Hơn 98% trong số chúng tại các hồ cá cảnh được đánh bắt từ các rạn san hô tự nhiên và đối mặt với tỉ lệ chết 98% trong một năm. Do đó, các quần thể cá trong tự nhiên, như loài cá Hề , đã suy giảm tới 75% quần thể.

Ai sẽ chịu trách nhiệm ?

Buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp là hoạt động buôn bán lớn thứ tư trên toàn cầu, có giá trị khoảng 20 tỉ dollars hàng năm. Một nửa trong đó đến từ Đông Nam Á.

Không giống với các hoạt động buôn bán bất hợp pháp khác, rất nhiều hoạt động buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp không bị che dấu trong những trang Web đen. Tính thực thi pháp luật thường rất lỏng lẻo cho phép những kẻ buôn bán các loài động thực vật có thể hoạt động công khai và ít lo sợ bị trừng phạt.

Đạo luật Lacey tại Mỹ cấm việc nhập khẩu các sinh vật sống từ các nước có loài này là bản địa, nhằm mục đích ngăn chặn sự qua mặt buôn bán động vật hoang dã. Nhưng ở Châu Âu chưa có các đạo luật tương tự, điều đó cung cấp một cầu nối đến điểm cuối của hoạt động thương mại.

Những quần thể cá tự nhiên, ví du như cá hề đã bị suy giảm 70% - Pichi Chuang/Reuters

Phần lớn nhu cầu về các loài này, và đặc biệt là các loài quý hiếm đến từ các nhà sưu tập Châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ của trong quá trình buôn bán này được quy định (2% buôn bán quốc tế đối với động vật lưỡng cư, và 10% đối với buôn bán bò sát trên toàn cầu), những hành động khẩn cấp là cần thiết để bảo vệ các loài dễ bị tổn thương khỏi quá trình tuyệt chủng.

Do nhiều loài bò sát, lưỡng cư và các loài lan chưa được liệt kê vào danh sách cần bảo vệ của CITES (do thiếu thông tin, hay chỉ mới được phát hiện gần đây) nên không có một quy định thực sự nào áp dụng được trong buôn bán động vật hoang dã. Và các nhân viên hải quan cũng không có khả năng phân biệt giữa một loài lan hay loài ếch thông thường hay quý hiếm. Vì vậy cần có những hạn chế đơn giản hơn để ngăn chặn mối nguy hại tiềm tàng gây ra bởi hoạt động buôn bán này.


Vô tội đến khi được chứng minh là có tội?

Các loài lan cũng bị suy giảm mạnh bởi các
 nhà sưu tập - Guillermo Granja/Reuters
Đối với nhiều loài không được phân loại theo tiêu chuẩn của CITES có lẽ những gì chúng ta cần làm là chỉ cho phép những loài đã được phân loại và được chứng nhận buôn bán trên thị trường. Điều đó có nghĩa rằng tất cả các mẫu không có chứng chỉ này sẽ không thể được vận chuyển quốc tế

Hiện tại việc theo dõi toàn bộ các nhóm buôn bán là rất khó khăn ngay cả đối với các tổ chức đảm nhận vị trí này, ví dụ như Tổ chức Hải quan Thế giới cũng không theo dõi được các hồ sơ về động vật lưỡng cư.

Rất nhiều loài tại Phương tây chỉ có thể đến thông qua các tuyến đường bất hợp pháp, thế nhưng việc tiêu thụ các loài này một lần nữa lại không hạn chế. Các hệ thống chứng nhận hay cung cấp chứng chỉ cần phải được tạo ra như một phần bắt buộc của việc bán bất kì đơn vị phân loại loài nào dễ bị tổn thương do khai khác. Với hình thức tịch thu vá áp dụng các mức xử phạt để hỗ trợ cho việc tuân thủ thực thi pháp luật

Các nhà sưu tập các loài động vật sống thường là những người có sở thích, vì vậy phần lớn trong số họ sẽ không có khả năng vượt qua một quãng đường dài để mua mẫu vật nếu mức độ thực thi pháp luật được thúc đẩy. Những hành động như vậy cũng cần được mở rộng để cuối cùng hạn chế việc buôn bán thông qua Internet đối với những loài hiện đang bị đe dọa.

Mặc dù nhiều cam kết đã được thực hiện bởi các Chính phủ Châu Âu nhằm hạn chế việc buôn bán động vật hoang dã trái phép, những nỗ lực này thường thất bại trong việc giải thích một số lượng lớn các loài đang có nguy cơ trở thành vật nuôi hay các mẫu tiêu bản sống. Do sự qua mặt và tham nhũng, nên cần thiết hạn chế nhập khẩu từ người tiêu dùng ở các quốc gia.

Nếu chúng ta muốn có tương lai tốt đẹp cho các quần thể động vật hoang dã, thì hành động quyết liệt là cần thiết để kiểm soát việc buôn bán quốc tế và buôn bán trong nước. Nếu không có những hành động như vậy, chúng ta sẽ có thể thấy được sự mất đi của nhiều loài quý hiếm chỉ vì lòng tham của loài người.
----------------------------------------
Tác giả: Alice Catherine Hughes, Associate Professor in Landscape Ecology & Conservation, Chinese Academy of Sciences
Bài gốc: Trading in extinction: how the pet trade is killing off many animal species
Dịch bởi: Đào Công Anh - Đại học Lâm Nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

Phạm Hoàng Hộ - Giáo sư đầu ngành về thực vật Việt Nam đã qua đời

Pham Hoang Ho

GS. Phạm Hoàng Hộ, tác giả của công trình khoa học nổi tiếng "Cây Cỏ Việt Nam - An Illustrated Flora of Vietnam" đã qua đời lúc 10g30 tối ngày 29/1/2017 (mùng hai tết nguyên đán 2017) tại nhà riêng ở Montreal, Canada.
GS. Phạm Hoàng Hộ sinh ngày 3-8-1931 tại Cần Thơ, mất ngày 29-1-2017 tại Canada hưởng thọ 86 tuổi.

Cay co Viet nam

Ông là tác giả của nhiều công trình khoa học về thực vật nổi tiếng như:
- Cây cỏ miền nam Việt Nam 1960
- Rong Biển Việt Nam 1969
- Tảo Học 1972
- Sinh Học Thực Vật (in kỳ tư 1973)
- Hiển Hoa Bí tử ( in kỳ nhì 1975 )
- Cây Có Vị Thuốc Ở Việt Nam ( 2006)

Đặc biệt ông là tác giả bộ sách rất nổi tiếng mà bất kỳ ai quan tâm đến Hệ thực vật của Việt Nam bao gồm từ sinh viên, giáo viên đến các nhà nghiên cứu thực vật đều biết đó là bộ "Cây Cỏ Việt Nam - An Illustrated Flora of Vietnam" gồm 6 tập xuất bản năm 1991-1993, tái bản có sửa chữa 3 tập năm 1999-2003.

Đây là bộ sách mô tả tương đối chi tiết đi kèm hình vẽ minh hoạ của khoảng 10500 loài thực vật trên toàn đất nước Việt Nam. Có thể nói rằng đây là bộ Thực vật chí Việt Nam đầy đủ nhất cho đến thời điểm hiện tại.
Quý độc giả có thể tìm hiểu bộ sách tại đây: http://www.biodivn.com/2013/12/bo-sach-cay-co-viet-nam-phh.html

R.I.P 

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2017

Võ Quý - Người cha của Bảo tồn thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã qua đời

Vo Quy


Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Võ Quý sinh năm 1929 là nhà giáo, nhà sinh học Việt Nam đã qua đời sáng ngày 10/01/2017 hưởng thọ 87 tuổi.

Ông là người tiên phong và đạt nhiều thành tựu trong nghiên cứu bảo vệ môi trường. Ông là người đầu tiên của Châu Á được trao giải thưởng Hành tinh xanh của IUCN

Ông là một trong những người sáng lập Khoa sinh học, Đại học Tổng hợp Hà Nội và là Chủ nhiệm Khoa sinh học trong suốt 10 năm (1980-1990). 

Từ năm 1985, ông cùng các cộng sự sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường trực thuộc Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường). Ông giữ chức vụ Giám đốc trung tâm trong 10 năm liền (1985 - 1995) và từ 1995 tới nay là Chủ tịch danh dự của Trung tâm.

Vo Quy
GS. Võ Quý (ở giữa) đang làm việc tại Vườn Quốc Gia Vũ Quang năm 1996

Ông đã là tác giả của 14 cuốn sách, tiêu biểu như: "Chim Việt Nam" (tập 1, 2), "Cuộc sống các loài chim", "Danh mục các loài chim Việt Nam"...; là dịch giả chính của nhiều cuốn sách về môi trường đồng thời cũng là tác giả của hơn 100 công trình khoa học đã công bố trong nước và quốc tế.

- Năm 1988: GS Võ Quý được tặng Huy chương vàng về thành tích bảo vệ động vật hoang dã và xây dựng khu bảo vệ thiên nhiên do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF) trao tặng.
- Năm 1992: GS là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất cho đến ngày hôm nay nhận bằng Danh dự của Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc.
- Năm 1994: GS nhận huy chương của Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN) và giải thưởng hạng nhất của Đức về bảo vệ môi trường sinh thái.
- Năm 1995: Nhận giải thưởng về môi trường của Trường đại học Michigan (Mỹ).
- Năm 2003: Nhận phần thưởng "Hành tinh mau xanh" do IUCN trao tặng với những giải pháp cải tạo môi trường thế giới và dự báo về sự phát triển môi trường trong tương lai. Trị giá giải thưởng là 50 triệu yên, tương đương 6 tỷ đồng Việt Nam. Đây là một giải thưởng quốc tế lớn nhất về môi trường, có giá trị tương đương với giải thưởng Nobel (vì Nobel không có phần thưởng dành cho môi trường) được trao cho những cá nhân và tổ chức đã có thành tích nổi bật trong lĩnh vực này.
- Nhà giáo Nhân dân của Việt Nam.[Theo Wikipedia]

Link:1. https://www.nytimes.com/2017/01/11/world/asia/vietnam-vo-quy-dead.html?rref=collection%2Fsectioncollection%2Fobituaries&action=click&contentCollection=obituaries&region=stream&module=stream_unit&version=latest&contentPlacement=1&pgtype=sectionfront&_r=0
2. http://dantri.com.vn/su-kien/gs-vo-quy-nha-sinh-hoc-hang-dau-viet-nam-da-qua-doi-20170112091117605.htm
3. http://www.nhandan.com.vn/khoahoc/nhan-vat/item/31803602-giao-su-vo-quy-%E2%80%93-nha-bao-ton-thien-nhien-hang-dau-viet-nam-qua-doi.html

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

Nghiên cứu bảo tồn thực vật ở Việt Nam

Mới đây truyền hình VTC10 trong trương trình NETVIET đã nói về công việc của một nhà nghiên cứu trẻ đang làm việc tại Viện Sinh thái va Tài nguyên Sinh vật - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đây là chương trình phát sóng ở hơn 100 quốc gia và có phụ đề bằng tiếng Anh.
Video đã đề cập các vấn đề như nghiên cứu phân loại thực vật, tầm quan trọng của phòng lưu trữ tiêu bản khô, bảo tồn thực vật và nghiên cứu sinh học sinh sản.
The link below had showed a work of a researcher who is working on Botany including plant taxonomy, conservation and reproductive biology in Institute of Ecology and Biological Resource - Vietnam Academy of Science and Technology (English subtitle)





http://netvietvtc10.com/chuong-trinh/16552/pham-van-the-nhung-nghien-cuu-bao-ton-thuc-va
Copied link: https://youtu.be/2DZl72ZWUt8

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016

Trà mi thưởng - Camellia thuongiana: Loài mới cho khoa học phát hiện ở Lâm Đồng

Camellia-thuongiana_9
Camellia thuongiana sp.nov(For English please see at the end!)
Các nhà thực vật là Lương Văn Dũng (ĐH Đà Lạt) và cộng sự vừa công bố một loài hoa trà mới cho khoa học phát hiện tại huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng.

Anh Lương Văn Dũng hiện đang là nghiên cứu sinh và là người tâm huyết với nghiên cứu khoa học đặc biệt là Thực vật học. Anh đã có kinh nghiệm nhiều năm theo đuổi nghiên cứu các loài hoa Trà hoang dại của Việt Nam. Gần đây anh và đồng nghiệp cũng mới vừa công bố loài Đa tử trà lá nhỏ Polyspora microphylla mới cho thế giới, phân bố ở khu vực Hòn giao, Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà

Trà mi thưởng - Camellia thuongiana Luong, Anna Le & Lau. 
Camellia-thuongiana_8
Mô tả:

Cây bụi, cao 3-5 m; chồi non màu nâu đỏ, có lông thưa, sau không lông. 

Lá hình bầu dục hoặc hình trứng thuôn, hơi cong, dài 9-17 cm, rộng 4-6,5 cm; gốc lá tù hoặc gần tròn, hơi lệch; đầu lá có đuôi nhọn dài 1,5-2 cm; mép lá có răng cạn, thưa, xẻ gần hết toàn bộ lá; gân chính và gân bên lõm mặt trên, nổi mặt dưới, 12-13 cặp gân bên; cuống lá dài 0,8-1,1 cm, không lông. 

Hoa 1- 3(4) ở nách lá hoặc đầu cành, đường kính 4,5-5 cm; cuống hoa 0,8-1 cm, không lông. Lá bắc nhỏ 3-4, hình nêm hoặc elip, dài 2-4,5 mm, rộng 2-4 mm, hai mặt không lông, rìa mép có lông, lá bắc nhỏ sớm rụng. Lá đài 5, hình gần tròn, cao 6-10 mm, rộng 7-11 mm, hai mặt không lông, lá đài tồn tại. Cánh hoa 11-13, màu vàng, xếp xoắn ốc thành 2 vòng; vòng ngoài 4 - 5, hình elip, cao 1,4-1,9 cm, rộng 1,3-1,5 cm, hai mặt không lông, gốc không dính nhau, sớm rụng; vòng trong 7 - 8, hình elip hoặc trứng ngược, cao 1,9-2,2 mm, rộng 1,3-1,4 cm, hai mặt không lông, gốc dính nhau. Bầu hình trứng, 3 ô, cao 4-4,5 mm, rộng 4-5 mm, có lông; vòi nhụy dài 8-9 mm, xẻ 3 đến ½, không lông. Nhị 290 - 340, 6-7 vòng, dài 1,3-1,4 cm, không lông, vòng nhị ngoài dính gốc thành dạng cốc, chiều cao dính 4-5mm và dính với gốc cánh hoa. 

Vật hậu: Hoa vào mùa đông và mùa xuân

Sinh thái: Trà mi thưởng được tìm thấy ở rừng thường xanh hỗn giao với tre nứa ở độ cao 500-800 so với mực nước biển.

Từ nguyên: Loài này được đặt tên kỷ niệm ông Lầu Quốc Thưởng - Công ty Kim Hoa Trà
Bài báo được công bố trên tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt bằng tiếng Anh, Tập 6, số 3, 2016, Trang 338-344.
Ảnh: Lương Văn Dũng
Camellia-thuongiana_7
Camellia-thuongiana_6
Camellia-thuongiana_5
Camellia-thuongiana_4
Camellia-thuongiana_3
Camellia-thuongiana_2


Camellia-thuongiana_1

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2016

Chúng ta biết chính xác loài Tê giác java ở Việt nam tuyệt chủng như thế nào!

Javan rhinos
Vào tháng 4 năm 2010. Xác cá thể Tê giác cuối cùng của Việt Nam đã được tìm thấy tại Vườn Quốc Gia Cát Tiên. Đây là câu chuyện của người đã điều tra về cái chết đó, được viết nhân ngày Tê Giác Thế Giới 21 tháng 9.



Bài viết của Chris Baraniuk / trên BBC, Ngày 21 tháng 9 năm 2016/ Bài dịch bởi Đào Công Anh - ĐH Lâm Nghiệp

Trong những cánh rừng mưa nhiệt đới dày đặc ở phía Tây Nam Việt Nam, đã có một cá thể Tê giác từng đi lang thang. Cá thể cái này là thành viên cuối cùng của Phụ họ tê giác tại Việt nam và nơi đây là ngôi nhà của nó.

Cát Lộc - một khu vực phía bắc của VQG Cát tiên là một phần của thế giới từng gánh chịu sự tàn phá của Chất độc màu da cam trong chiến tranh ở Việt Nam. Ngày nay, nơi đây được biết đến nhiều hơn nữa như là một trung tâm bảo tồn về động vật hoang dã, nhưng cũng là nơi mà một trong những nỗ lực bảo tồn đó đã thất bại.

Cá thể Tê giác cuối cùng đã trải qua những ngày rong ruổi trên khắp hàng ngàn hecta rừng, một phạm vi thật rộng lớn so với một loài ăn cỏ như nó. Nhưng sau cùng cá thể cái này cũng trở lại nơi đây. Nơi đã từng có rất nhiều con suối và những dòng sông mà nó có thể đằm mình với rất nhiều thức ăn - như song mây, 1 loài dây deo thân gỗ có thể tìm thấy ở khắp mọi nơi.
Nhưng rồi một ngày, một tên thợ săn đã nhìn chằm chằm vào nó qua ống ngắm của khẩu súng bán tự động và bóp cò. 
Chúng ta không biết được rằng liệu nó có nhìn thấy gã sát thủ và cũng không thể nào biết được đã bao nhiêu lần nó rơi vào tầm ngắm. Nhưng khi tiếng súng của gã thợ săn xé toạc khu rừng thì sự tuyệt chủng của loài Tê giác java (Tê giác một sừng) tại Việt nam đã được xác định, mặc dù nó không diễn ra ngay tức khắc. Cá thể Tê giác mặc dù bị thương vẫn cố gắng lẩn trốn. Một lúc sau, nó đã biến mất vào cánh rừng dày, nhờ sự che chắn của rừng già.

Cat Tien NP
Hồ Cá sấu, VQG Cát Tiên (Credit: Anders Blomqvist/Alamy)
Vận mệnh của loài Tê giác java tại Việt nam (một phụ họ có tên là Rhinoceros sondaicus annamiticus) đã được theo dõi rất chặt chẽ cùng thời gian đó bởi Sarah Brook. Brook đã và đang làm việc với vai trò là một nhà bảo tồn của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới WWF. Cô ấy đã giành hết thời gian trong ngày của mình cố gắng vượt qua những địa hình khó khăn của Cát Lộc - những ngọn đồi dốc đứng và những cánh rừng ngút ngàn với môt chú chó chuyên đánh hơi theo mùi phân của loài Tê giác.

Trong gần 6 tháng kể từ khi Brook tiến hành thu thập mẫu phân Tê Giác, trên những tuyến đường mòn trong khu vực, để xác nhận chính xác rằng chỉ còn đúng duy nhất một cá thể Tê giác ở khu vực này. Cô ấy đã làm việc rất nghiêm túc với các cán bộ kiểm lâm của Vườn Quốc Gia và đặt các bẫy ảnh.

Nhưng thời gian đó đã là quá muộn, các bẫy ảnh chẳng bao giờ chụp được một con Tê giác nào nữa, bản thân Brook chưa từng một lần được chứng kiến chúng còn sống. Rừng Cát lộc thật rộng lớn, và/nhưng ngược lại cá thể Tê giác này lại cô độc trong đó.

Javan rhino
Một bức ảnh chụp Tê giác java ở Vườn thú London vào thế kỷ 19 (Credit: T. Dixon/ZSL)
Không lâu sau, đầu năm 2010, những tin tức đau buồn đã ập đến.

Một người Kiểm lâm đã đưa cho Brook một tấm ảnh chụp một bộ xương của Tê giác được chụp vào tháng 4. Một bức ảnh của hộp sọ, bị tách ra khỏi phần còn lại của xương con vật, rõ ràng rằng cái sừng đã bị lấy đi. Sự thực nó đã bị lấy đi một cách thô bạo bởi bọn săn trộm.

Vườn Quốc Gia đã ban hành một tuyên bố cho rằng cái chết của tê giác là kết quả của tự nhiên, nhưng Brook không cho là vậy. Cô ấy đã kiểm tra những chiếc xương một vài tuần sau đó. Vào tháng 5, cô ấy đã phát hiện ra rằng có một viên đạn găm vào chân trước bên trái.

“Chúng tôi đã muốn tìm ra thực sự chuyện gì đã xảy ra và tìm ra sự thật”, Cô ấy nhớ lại, “Vào lúc đó chúng tôi đã nghi ngờ về cái chết của cá thể tê giác cuối cùng này rồi”

Brook đã bắt tay ngay vào việc điều tra của mình và bắt đầu cố gắng tìm ra đúng người để giúp đỡ.

Vết tích do đạn gây ra ở xương chân Tê giác (Credit: Ed Newcomer)

Cô ấy gửi 1 email cho Ulrike Streicher, một bác sĩ thú y về đông vật hoang dã, người đã có rất nhiều năm làm việc tại Việt Nam. Bà ấy cũng biết về VQG Cát tiên và cũng là người đã tư vấn cho WWF trước đó.

Brook cũng đã liên hệ với Ed Newcomer, một chuyên gia đặc biệt đến từ Dịch vụ chăc sóc động vật hoang dã và Cá của Mỹ. Ông ấy đang làm việc ở Thái Lan tại thời điểm đó, nhưng đã nắm bắt cơ hội để tham gia vào cuộc điều tra về Tê Giác này.

John Cooper, một chuyên gia pháp y về động vật hoang dã đến từ Vương quốc Anh và Douglas Mc Carty, người đang làm cho các nhóm chống buôn bán động vật hoang dã của Freeland cũng gia nhập.

Vào tháng 9, 
một nhóm các chuyên gia đầu ngành đến từ khắp nơi trên Thế giới đã tìm kiếm và lắp ghép các mẫu tại Vườn Quốc Gia, 
trong một căn phòng đầy ắp những đồ tạo tác sinh học. Có rất nhiều khung trưng bày và các hộp với rất nhiều thứ từ khuôn đúc của chân Tê giác tới bản đồ của khu vực, Newcomer nhớ lại. Họ không có một khu vực chuyên biệt về thú y để làm việc nhưng đó là việc cần phải làm.

Nhiệm vụ đầu tiên là xem lại bộ xương Tê Giác đã được khôi phục.

Bộ xương Tê giác được sắp xếp lại (Credit: Ed Newcomer)

Theo như lời những người Kiểm lâm đã giao bộ xương cho nhóm Nghiên cứu, Cooper nhận xét rằng bộ xương trông như đã bị tẩy trắng.

“Họ nói rằng, ‘Ồ chúng tôi đã tẩy trắng chúng’, và tôi đã bảo ‘OK, có vẻ rất có tiềm năng để lấy mẫu”, và nói với Streicher ‘Những người duy nhất ở Việt nam biết cách xử lý về động vật hoang dã là những người làm việc trong các bảo tàng - và lời khuyên của họ về tẩy trắng xương”

Nếu không có khả năng lấy mẫu phân tích từ những chiếc xương, thì chắc chắn công việc tìm ra nguyên nhân gây ra cái chết cho Tê giác trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Tất cả mọi người đều đồng ý là 
cần đến nơi mà bộ xương Tê giác được tìm thấy. 
Điều đó có nghĩa là họ sẽ phải trải qua 7km đi bộ vào rừng sâu và 7km để quay trở về

Nhóm nghiên cứu đã thực hiện chuyến đi băng qua địa hình vào một ngày nóng và rất ẩm ướt. Một người dẫn đường, đi theo từng bước, phạt một con đường qua các cành cây và dây leo. "Nó rất là vất vả”, Newcomer nhớ lại

Bộ xương Tê giác được sắp xếp lại (Credit: Ed Newcomer)

Cuối cùng họ cũng đến được khe núi nơi tìm thấy Tê Giác xuất hiện trước đó. Trước mắt họ là một vách núi rất dốc, rừng dày nghiêng về phía bắc và thoải hơn về phía nam. Phía dưới là một con suối nhỏ chảy quanh từ Đông sang Tây.

“Vẫn còn dấu vết của Tê giác trong đám bụi bẩn” Newcomer nói. “Và phía bên trên nơi tìm thấy xác Tê giác là những cây tre (nứa) rất lớn - chúng có đường kính lên tới 10-15 cm - và chúng đã bị đẩy nghiêng hoàn toàn sang 1 bên giống như đã có một chiếc xe ủi đã đẩy chúng qua 1 bên vậy”

Newcomer đã tìm thấy một cây tre đã bị gãy dập thành hình chư U. Mọi người trong nhóm ngay lập tức tưởng tượng đến vết Tê giác đã nằm lên đó, có thể là sau khi bị rơi xuống và vướng lại.

“Nếu bụng của nó đã đè lên những cây tre thì nó có thể sẽ bị ngạt thở mà chết”, Newcomer nói

Dần dần một hình ảnh của cái chết đã bắt đầu lộ ra. Cá thể Tê giác này đã dịch chuyển xung quanh trước khi nó chết, nó đã vật lộn và cọ xát với thảm thực vật xung quanh.

Họ kiểm tra chỗ đó để tìm thấy bất kì chiếc xương nào nhưng rất tiếc không tìm được gì. Newcomer đã thực hiện một sơ đồ phác thảo nhanh cho khu vực, ghi chú lại những đặc điểm chính của vị trí như các dấu vết hay những nới mà bộ xương đã được tìm thấy so với con suối nhỏ.

Một cảnh của tội ác (Credit: Ed Newcomer)

Và khi rời khỏi hiện trường, Newcomer - người đi sau cùng - đã quay lại để chụp lại 1 tấm ảnh. Anh ấy biết chắc rằng sẽ không bao giờ quay lại đây lần nữa. Rất có thể đây là nơi cá thể Tê giác java ở Việt nam cuối cùng đã chết. Anh ấy đợi một vài giây, nhìn vào đám tre bị nghiền nát và con suối nhỏ bên dưới.
"Đó là ngày di chuyển không thể tưởng tượng được", anh ta nhớ lại "Giống như kiểu bạn bị đập bằng một viên gạch"
Nhóm nghiên cứu băng qua khu rừng quay trở lại. Trong buổi chiều đó trời đổ mưa và một số đoạn phải băng qua suối. Cuối cùng họ cũng ngấm mưa và kiệt sức

Trong suốt những ngày sau đó, nhiệm vụ tiếp theo là phải lắp ghép bộ xương tê giác trên sàn nhà sao cho càng chính xác càng tốt. Quan sát kĩ vào những chiếc xương có thể tiết lộ nhiều điều về sức khỏe của con vật trước khi chết.

Cooper vaf Streicher đã là chuyên gia trong rất nhiều lĩnh vực. Trong số những đặc điểm khác nhau, họ chú ý rằng đã có một sự thay đổi về khớp trong chân trước bên trái của con vật rất có thể là nguyên nhân gây ra sự đau đớn hay dẫn đễn cái chết. Cũng đã có một sự mòn đi trên móng chân này mà họ cho rằng nó đã hoạt động không bình thường.

Cooper đã viết về sự kiểm định này trong một cuốn sách gần đây, “Điều tra pháp y về động vật hoang dã” (Wildlife Forensic Investigation). “Nó rất có khả năng....là chấn thương do viên đạn gây ra, nặng nhất là gây ra cái chết, đau đớn,viêm khớp trái chân trước, rất dễ mắc phải ở các loài tê giác gây ra nhiều nguy hiểm, là yếu tố gây tử vong.”

Sau đó, Streicher đã lấy mẫu xương quan trọng này để chụp cắt lớp. Nó chỉ ra rằng có một lỗ hổng phía bên dưới và trên chỗ viên đạn găm vào, rất có thể nguyên nhân đến từ quá trình viêm xương. Trong 1 báo cáo của WWF, các nhà điều tra đã ghi nhận rằng quá trình này đã xãy ra ít nhất là trong 2 tháng, thậm chí lên tới 5 tháng.

Rừng mưa ở VQG Cát Tiên (Credit: Oscar Dominguez/Alamy)
Đây là một đầu mối quan trọng. Tê giác sẽ không chết sau chỉ vài ngày hay vài tuần sau khi bị bắn. Nó có thể là cả tháng trời. Và nó không chỉ bị thương trong một thời gian ngắn, mà sẽ bị tổn thương bằng cách bị gây trở ngại khi di chuyển và cuối cùng, dường như sẽ là nguyên nhân dẫn đến cái chết.

“Những loài động vật như tê giác hay Voi sẽ chẳng thể làm gì nếu không có chân”- Streicher giải thích. “Chúng quá nặng để đi khập khiễng”

Newcomer cũng lưu ý rằng, theo như điểm vào của đạn và quỹ đạo rõ ràng của nó, có khả năng viên đạn đã được bắn từ tên săn trộm ở vị trí phía dưới thấp hơn chỗ của đứng con Tê giác - có lẽ là trên một sườn đồi và rất có thể viên đạn đã nhắm tới tim con vật”

Có thể đã có nhiều hơn một viên đạn được bắn ra, tuy nhiên bất kì viên nào chỉ găm vào lớp mô mềm của con vật đã không thể tìm thấy bởi Nhóm điều tra. Tất cả những gì họ có chỉ là bộ xương.

Một câu hỏi chưa được lý giải là liệu có phải kẻ săn trộm sau khi bắn được con vật bị thương qua hàng tháng trời là người đã lấy đi chiếc sừng - hay một kẻ lang thang nào đó đã may mắn đi ngang qua và thừa hưởng thành quả. 

Đằng nào đi nữa, 
cho dù sừng tê giác có thể bán được hàng ngàn đô la, chiếc sừng của Tê giác java cũng chả phải lớn lắm
“Nó có thể đặt gọn trong lòng bàn tay - hay để vừa trong túi của bạn”, Newcomer đánh giá về những hoàn cảnh khốn khổ - Một phân loài bị đẩy đến chỗ tuyệt chủng chỉ vì một chiếc sừng nhỏ.

Một vài tháng sau đó, kết quả phân tích DNA cho thấy mẫu phân thu được trước đó của Brook là trùng khớp với bộ xương của con vật đã được giám định

Với rất ít bằng chứng thu thập được để tiến hành điều tra tiếp, điều đó là rất khó để đưa ra kết luận, tuy nhiên có những dấu hiệu chắc chắn để có thể dẫn đến chuỗi sự kiện: Một tay săn trộm đã bắn con Tê giác ít nhất là 1 lần; Viên đạn đã găm vào chân trước phía bên trái của con vật là nguyên nhân gây ra nhiễm trùng, viêm khớp và ngăn cản nó di chuyển; đây cũng có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp khiến con vật rơi ở khu rừng gần con suối nhỏ nơi mà con vật cuối cùng cũng đã chết.

Newcomer đã tuyên bố : “Viên đạn là nguyên nhân giết chết Tê giác”, “nó chỉ mất thời gian dài để khiến con vật chết đi”, 

Brook sau đó đã mô tả những gì xảy ra như một “thất bại của việc bảo tồn” tại Việt Nam.“Tôi đã bị ảnh hưởng bởi điều đó, và thực sự đã rất chán nản ngay sau những gì xảy ra”. Lý do chính của cô khi đến Việt Nam là nhằm điều tra quần thể Tê giác ở đây và bây giờ quần thể đó đã không còn nữa.

Cảnh sát phía Việt Nam đã hỗ trợ cho cuộc điều tra bằng cách đưa ra những phân tích về mẫu đạn thu được. Nó có thể được bắn ra từ 1 loại súng bán tự động, như AK 47.

Nhưng không một ai trong số những người điều tra trả lời với BBC nhận thức về vụ bắt giữ hay về sự kết tội tiếp theo. WWF cho biết rằng họ tin tưởng một cuộc điều tra chính thức vẫn sẽ được mở ra. 
Bất kể ai đã bắn Tê Giác và bất kì ai đã lấy đi chiếc sừng - bất chấp có cùng một người hay không.
Một bản vẽ minh hoạ loài Tê giác java (Credit: Paul D. Stewart/naturepl.com)
Vẫn còn một số ít các các thể Tê giác java tồn tại trên thế giới. Có 1 quần thể nhỏ ước tính có từ 40-60 cá thể ở Indonesia. Tuy nhiên chúng cũng đã được liệt vào mức cực kỳ nguy cấp của IUCN. Nhiều cuộc tuần tra được tổ chức bởi Quỹ Tê giác quốc tế và Quỹ Tê giác của Indonesia để canh phòng nghiêm ngặt quần thể Tê giác này, tuy nhiên những tổ chức này cũng đưa ra cảnh báo rằng phạm vi sinh cảnh sống tự nhiên của tê giác cần được mở rộng để đảm bảo sự sống của chúng tiếp tục tồn tại.

Ngày hôm nay, Ed Newcomer đang làm việc tại Botswana. Ông vẫn rất quan tâm tới số phận của những con Tê giác. Gần đó, tại vườn quốc gia South Africa’s Kruger, có 3 đến 4 cá thể Tê giác bị săn trộm mỗi ngày. Và luôn có một sự mỉa mai cay đắng cho những cái chết này.
“Những con Tê giác đã bị giết để phục vụ nhu cầu tại Việt nam” 
Tuy vậy cũng đã lóe lên một tia hy vọng, Một điều đã xảy ra như Newcomer đã đề cập. Con người đã thành công trong việc chiến đấu với nạn săn bắn trộm so với trước đó. 
Một lệnh cấm buôn bán Ngà voi đã giúp làm chậm, mặc dù chưa ngăn chặn được nạn săn bắn trộm voi lấy ngà.
hãy lấy ví dụ về việc Một lệnh cấm tương tự sẽ được đặt ra đối với sừng Tê giác, mặc dù vẫn còn có nhiều người vẫn đang thách thức với luật pháp địa phương.

Brook hiện đang làm việc cho Hội Bảo tồn Động vật hoang dã (WCS) đã đưa ra lưu ý cho nhiều nhà bảo tồn việt nam rằng sự mất mát của cá thể Tê giác java cuối cùng là một cú sốc lớn đối với họ. Điều đó là quá muộn để cứu vớt loài phụ Tê giác này, tuy nhiên cũng cẫn có những nỗ lực khác nhằm tập trung vào những loài nguy cấp khác tại việt Nam.

Một con Sao la (Pseudoryx nghetinhensis) (Credit: Reuters/Alamy)







Cô ấy cũng đưa ra ví dụ về loài Sao la - một trong những loaì thú có vú lớn hiếm nhất hành tinh. Nó trông giống như một con linh dương nhỏ, Sao la chỉ mới được phát hiện vào năm 1992 và là loài đặc hữu của Việt Nam và Lào.

“Những nhà bảo tồn Việt nam đã thay đổi cơ bản cách tiếp cận để bảo tồn loài này tại Miền trung Việt nam và đã thiết lập 1 thỏa thuận chung cùng quản lý với các khu bảo tồn mới thành lập - mà chủ yếu để bảo tồn Sao La” Brook giải thích. “Dự án này đang rất thành công về việc loại bỏ số lượng lớn các bẫy thú ra khỏi sinh cảnh sống của Sao la”

Chiếc sừng của cá thể Tê giác java cuối cùng tại Việt nam rất có thể đã bị tuồn vào thị trường chợ đen. Thậm chí nếu tìm ra nó, chúng ta cũng không thể xác nhận về mặt di truyền nó thuộc về cá thể Tê giác cuối cùng đó. Những thủ phạm của vụ săn trộm này sẽ chẳng bao giờ bị bắt.

Không những thế, trong những cánh rừng rậm của Đông nam châu Á, vẫn có rất nhiều sinh vật tuyệt vời đang sinh sống và phát triển mạnh mẽ. 
Sự mất đi loài Tê giác là một bi kịch đối với Cát Tiên, nhưng nhiệm vụ của VQG không vì thế mà dừng lại. 
Với khoảng 720 km2, khỉ, gấu, tê tê và hươu vẫn chưa thoát khỏi tình cảnh khó khăn. Có thể với may mắn nào đó, chúng sẽ tránh khỏi được tầm ngắm của những kẻ săn trộm ngoài kia, ở trong sâu thẳm bao la của rừng già.

http://www.bbc.com/earth/story/20160920-we-know-exactly-how-the-vietnamese-javan-rhino-went-extinct

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2016

Phát hiện một loài mới cho khoa học: Đa tử trà lá nhỏ Polyspora microphylla Luong, Nguyen et Truong

Đa tử trà lá nhỏ (Polyspora microphylla LuongNguyen et Truong) một loài mới thuộc họ Chè (Theaceae) ở Việt Nam



Các nhà khoa học thuộc Khoa Sinh học, Trường Đại học Đà Lạt và Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà vừa phát hiện một loài mới cho khoa học, và cũng bổ sung thêm thành phần loài cho khu hệ thực vật Việt Nam. 
Đa tử trà lá nhỏ - Polyspora microphylla  Luong, Nguyen et Truong, sp. nov. (Hình 1, 2)
Cây gỗ nhỡ; lá non và cành non màu đỏ nâu, không lông. Lá hình bầu dục rất hẹp đến hình giáo ngược, dài 4-7.5 cm, rộng 1.3-2 cm, hai mặt không lông; gân phụ mờ nhạt, gân chính nổi rõ mặt dưới; mép lá có răng tròn đến ½ lá, không gợn sóng; đầu lá tù, lõm ở giữa; gốc lá hình nêm hoặc hình mũi tên;  cuống lá dài 3-5 mm, không lông. Hoa 1 – 3 ở đầu cành, gần như không cuống, đường kính 2.5-3.5 cm; nụ hoa hình cầu, có lông, kích thước 7-8 mm. Lá bắc nhỏ 2-3, hình gần tròn, sớm rụng, cao 3-4 mm, rộng 3-4.5 mm, mặt ngoài có lông. Lá đài 5, hình gần tròn, cao 4-4.5 mm, rộng 4.5-5 mm, mặt ngoài có lông. Cánh hoa 5, hình trứng ngược, màu vàng nhạt, cao 1-2.2 cm, rộng 0.8-1.2 cm, mặt ngoài có lông. Bầu hình trứng, 5 ô, cao 3 mm, rộng 2.5 mm, có lông; vòi nhụy liền, dài 3-4mm, có lông ở gốc. Nhị nhiều, 70-80 nhị; 3 vòng, vòng ngoài dính ở gốc và dính với gốc cánh hoa; chỉ nhị vàng, dài 4-5 mm, không lông. Quả hình bầu dục, cao 1.6- 2 cm, rộng 8-9 mm, trụ giữa dài 1.3-1.5 cm; quả 5 ô, mở 5 mảnh, mỗi ô 3-5 hạt. Hạt hình elip có cánh, rộng 3-3.5 mm, dài 7-8 mm cả cánh.
Mùa hoa tháng 1-3; mùa quả tháng 10-12.
Sinh thái và phân bố: Rừng lá rộng thường xanh, mây mù, độ cao 1400-1500 m, khu vực Hòn giao, Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà (ranh giới tỉnh Lâm Đồng và Khánh Hòa). Đa tử trà lá nhỏ thường mọc với các loài Pơmu, Cồng nhám, Đỗ quyên đỏ, Thông tre.
           



Hình 1. Polyspora microphylla  Luong, Nguyen et Truong
A., B. Lá; C. Cành mang nụ hoa; D. Hoa; E. Lá bắc nhỏ; F. Lá đài; G. Cánh hoa; H. Nhị; I. Bầu; K. Quả; L. Quả mở; M. Hạt (người vẽ Lương Văn Dũng).





Hình 2. Polyspora microphylla  Luong, Nguyen et Truong


A. Cành mang nụ hoa; B. Hoa; C. Cành mang quả; D Hạt

Bài gửi bởi Trương Quang Cường - Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà