Thứ Ba, 23 tháng 12, 2014

Loài Nhái cây mới phát hiện ở Tây Nguyên

Ruồi bọ cạp và 'hôn nhân bạo lực'


Kurixalus-motokawai-credit_Nguyen_Matsui_Eto-2014
Các nhà khoa học Việt Nam và Nhật Bản vừa công bố một loài nhái cây mới cho thế giới được phát hiện tại Tây Nguyên, Việt Nam.


Chúng thuộc giống Nhái cây Kurixalus được thu thập từ Kon Plông, Đắk Glei thuộc tỉnh Kon Tum, và K'Bang thuộc tỉnh Gia Lai. Việc mô tả dựa trên những phân tích phát sinh chủng loài sinh học phân tử và hình thái học. 

Loài mới Nhái cây mô tô ka wa được đặt tên là Kurixalus motokawai sp. nov. có hình thái khá giống với Nhái cây bà nà K. banaensis, nhưng trong trình tự DNA ty thể đã chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa chúng.

Tuy nhiên chúng thuộc nhóm cùng nhánh với nhau bao gồm loài Nhái cây mô tô ka wa mới này, Nhái cây bà nà, và Nhái cây xanh nhạt K. viridescens

Nhái cây mô tô ka wa khác với Nhái cây bà nà bởi đặc điểm kích thước cơ thể nhỏ hơn, tỷ lệ chiều dài chân so với chiều dài cơ thể cao hơn; khác với Nhái cây xanh nhạt ở đặc điểm con cái nhỏ hơn, lưng màu nâu và có những đốm đen. 

Công bố này vừa được tạp chí Russian Journal of Herpetology đăng tải trong tập 21(4), trang 295-302.

Russian Journal of Herpetology 21(4); 295-302.

A New Cryptic Tree Frog Species Allied to Kurixalus banaensis (Anura: Rhacophoridae) from Vietnam

Thien Tao Nguyen, Matsui Masafumi, Eto Koshiro

Abstract: A new species of the genus Kurixalus is described from the Central Highlands of Vietnam based on molecular phylogenetic and morphological analyses. Morphologically, Kurixalus motokawai sp. nov. is most similar to K. banaensis but they are clearly separated from each other in mitochondrial DNA sequences. In phylogenetic analysis the new species clustered in the same clade with Kurixalus banaensis and K. viridescens. However, the new species differs from K. banaensis by having a smaller body size, a higher ratio of forelimb length/SVL in both sexes, a smaller ratio of first toe length/SVL in males, snout tip less markedly pointed, and only weakly developed dermal appendages on the outer edges of fore- and hindlimbs. Kurixalus motokawai sp. nov. also differs from K. viridescens by having a smaller size in females and a brown dorsum with dark markings.

The origin version at: http://rjh.folium.ru/index.php/rjh/article/view/917

Loài côn trùng mới dài thứ hai thế giới

Loài côn trùng mới dài thứ hai 

Một phân loài bọ que có kích thước dài thứ hai trong thế giới côn trùng. Chúng có chiều dài cơ thể lên đến 32 cm, tính cả râu thì lên đến nửa mét. Nó được các nhà khoa học phát hiện ở Đông Bắc Việt Nam.






Hai nhà sinh vật học là tiến sĩ Joachim Bresseel và tiến sĩ Jerome ở Viện Khoa học Tự nhiên Hoàng gia Bỉ đã phát hiện ra hai loài bọ que mới và là một phân loài mới của Bộ Bọ que từ các khu rừng của Việt Nam.



Phân loài mới là Bọ que yên tử được đặt tên Phryganistria heusii yentuensis, là côn trùng thứ hai dài nhất được biết cho đến nay.





Tiến sỹ Joachim Bresseel đang cầm 1 con Bọ que yên tử cái Phryganistria heusii yentuensis dài 31,7-cm . Ảnh: Joachim Bresseel / Jerome Constant.



Loài côn trùng giữ kỷ lục dài nhất trên thế giới thuộc về loài bọ que Phobaeticus chani. Nó được tìm thấy trên đảo Borneo của Indonesia với chiều dài cơ thể lên đến 36 cm.



Theo nhóm nghiên cứu, Bọ que yên tử Phryganistria heusii yentuensis được phát hiện tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tây Yên Tử nằm ở huyện Lục Nam và Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, cách Hà Nội khoảng 150 km về phía Đông Đông Bắc. Một mẫu khác của của Bọ que yên tử cũng được tìm thấy tại núi Mẫu Sơn, cách thành phố Lạng Sơn khoảng 30 km về phía Đông



Hai loài mới cho khoa học khác được phát hiện từ Việt Nam là: 



Bọ que trụ Phobaeticus trui được phát hiện tại miền trung Việt Nam


Loài Bọ que trụ Phobaeticus trui, con đực. Ảnh: Joachim Bresseel / Jerome Constant.



và loài Bọ que tam đảo Phryganistria tamdaoensis được phát hiện tại Vườn Quốc Gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.








Loài bọ que tam đảo Phryganistria tamdaoensis, con đực. Ảnh: Joachim Bresseel / Jerome Constant.






Côn trùng bọ que được biết đến xuất hiện đầu tiên trong các hoá thạch cách đây khoảng 40 triệu năm trước đây và có liên quan đến gián, bọ ngựa và xa hơn là châu chấu và dế.



Hiện nay trên thế giới có khoảng 3000 loài được biết đến, chủ yếu sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nơi một số loài có thể dài đến 30 cm.



Chúng là những loài côn trùng di chuyển chậm chạp, và có những hành vi khó hiểu được cho là phù hợp với lối sống của nó. Khi bị phát hiện, hoặc nguy hiểm thì chúng thường thả mình xuống đất và bất động, rất ít khi chúng bay đi mất. Một số loài khi nguy hiểm có thể rụng chân đánh lừa, sau đó các chân này mọc lại theo thời gian.



Tất cả các loài côn trùng bọ que đều là động vật ăn thực vật, kể cả con non lẫn trưởng thành thường ăn lá cây, cỏ.



Mô tả chi tiết về hai loài và một phân loài bọ que mới này được công bố trên tạp chí mở European Journal of Taxonomy, tập 104.



Đây là công bố thứ hai sau loài bọ que gai kỳ dị được phát hiện ở Thừa Thiên Huế ở Viêt Nam trong năm 2014.
 Theo http://www.sci-news.com/



European Journal of Taxonomy. No 104 (2014): pp. 1-38
Giant Sticks from Vietnam and China, with three new taxa including the second longest insect known to date (Phasmatodea, Phasmatidae, Clitumninae, Pharnaciini)Joachim Bresseel, Jérôme Constant



Abstract: Two new species and one subspecies of Pharnaciini, belonging to two different genera, are described from Vietnam: one species and subspecies of Phryganistria Stål, 1875 and one species of Phobaeticus Brunner von Wattenwyl, 1907. Two species currently attributed to the genus Ramulus Saussure, 1862, Ramulus magnus (Brunner von Wattenwyl, 1907) and R. chinensis (Brunner von Wattenwyl, 1907), are transferred to Baculonistria Hennemann & Conle, 2008 comb. nov. Phobaeticus longicornis Bi & Wang, 1998 and Phobaeticus yuexiensis Chen & He, 1993 represent the male and female of Baculonistria magnus (Brunner von Wattenwyl, 1907) syn. nov. A lectotype is designated for Baculonistria chinensis (Brunner von Wattenwyl, 1907). The genus Baculonistria now contains three species. Nearchus bachmaensis Ta & Hoang, 2004 is transferred to Phryganistria and the new combination Phryganistria bachmaensis (Ta & Hoang, 2004) comb. nov. is proposed. The species is redescribed and the authors’ attribution corrected, the egg is described and figured for the first time. Phryganistria tamdaoensis sp. nov. is described and figured from both sexes and the egg. Females of P. tamdaoensis sp. nov. are easily recognised by the conspicuously enlarged lanceolate cerci, a character previously unknown in this tribe. The distribution range of Phryganistria heusii heusii (Hennemann & Conle, 1997) is extended to Tam Dao National Park. A new subspecies Phryganistria heusii yentuensis subsp. nov. is described from Tay Yen Tu Nature Reserve from adult males and females and the eggs. Males can easily be distinguished from the nominal subspecies by their colouration. This huge subspecies represents the second longest insect recorded to date. A key to the species of the genus Phryganistria is provided. Phobaeticus trui sp. nov. is described from central Vietnam. It is the first species of Phobaeticus recorded from Vietnam. Adults of both sexes are illustrated.



For more detail please see at http://dx.doi.org/10.5852/ejt.2014.104
thế giới

Thứ Hai, 22 tháng 12, 2014

Ghi nhận thêm hai loài lưỡng cư cho Việt Nam

Leptolalax-eos-credit-PhamVanAnh
Hai loài lưỡng cư là Cóc núi eos Leptolalax eos và Chàng đá Hylarana cubitalis ghi nhận mới cho Việt Nam được các nhà khoa học của Viện Sinh Thái và Tài nguyên sinh vật, Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Tây Bắc và Vườn thú Cologne – Đức công bố trên tạp chí Russian Journal of Herpetology (Tập 21, số 3, 2014).

Loài Leptolalax eos có chiều dài thân 32,7–34,8 mm ở con đực và 40,1–45,5 mm; mặt trên đầu và lưng nổi các nốt sần nhỏ; màng nhĩ không rõ ràng; phần trên mống mắt màu cam, phần dưới màu vàng; lưng màu nâu – xám với hình tam giác màu nâu nhạt trên đầu; bụng màu trắng hoặc màu kem. Loài này được Ohler mô tả năm 2011 với mẫu chuẩn thu ở Bắc Lào.

Leptolalax-eos
Cóc mắt eos Leptolalax eos – Ảnh: Phạm Văn Anh

Loài Hylarana cubitalis có chiều dài thân 51,8–58,8 ở con đực và 60,4 mm ở con cái; chai sinh dục ở con đực phát triển ở gốc ngón tay và bên trong cánh tay; da ở lưng và mặt trên đầu nhẵn, nếp da lưng sườn rõ; phần trên màu nâu vàng; môi trên trắng; màng nhĩ màu nâu; sườn màu xám với các đốm đen; bụng trắng. Loài này trước kia phân bố ở Trung Quốc, Lào, Myanmar và Cambodia.

Hylarana-cubitalis
Chàng đá Hylarana cubitalis – Ảnh: Phạm Văn Anh 

Trong quá trình khảo sát thực địa các nhà nghiên cứu đã phát hiện hai loài này có ở hai tỉnh Sơn La và Điện Biên thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, một khu vực cách Vườn Quốc gia Hoàng Liên (một trung tâm của đa dạng sinh học Việt Nam) không xa.
Phạm Văn Anh – Trường Đại học Tây Bắc; http://www.vncreatures.net/

Về bài công bố ghi nhận mới cho Việt Nam: Russian Journal of Herpetology, Vol 21, No 3 (2014)

First Records of Leptolalax eos Ohler, Wollenberg, Grosjean, Hendrix, Vences, Ziegler et Dubois, 2011 andHylarana cubitalis (Smith, 1917) (Anura: Megophryidae, Ranidae) from Vietnam

Anh Van Pham, Dzung Trung Le, Son Lan Hung Nguyen, Thomas Ziegler, Truong Quang Nguyen

Abstract: Two species of anurans are recorded for the first time from Vietnam: the megophryid Leptolalax eos from Dien Bien and Son La provinces and the ranid Hylarana cubitalis from Son La Province. These discoveries bring the total species number of amphibians to222 in Vietnam.

For more detail, please go http://rjh.folium.ru/index.php/rjh/article/view/862

Chủ Nhật, 21 tháng 12, 2014

Săn trộm tê giác cao kỷ lục ở Nam Phi

te-giac-nam-phi
JOHANNESBURG—Những con số đáng lo ngại

Các nhà bảo tồn của Nam Phi và các quan chức môi trường bước vào năm 2014 với niềm lạc quan về cuộc chiến chống những kẻ săn trộm tê giác. Nhưng khi năm 2014 khép lại, Nam Phi lập hai kỷ lục mâu thuẫn nhau: những vụ săn trộm tê giác và những vụ bắt giữ những người tình nghi là săn trộm lên đến mức cao nhất từ trước tới nay.


Khi năm 2013 khép lại với kỷ lục 1.004 con tê giác bị giết hại, Bộ trưởng Môi trường Edna Molewa đưa ra một cam kết nghiêm nghị đối với đất nước. "Tôi có thể bảo đảm rằng chúng tôi sẽ không cho phép tê giác bị tuyệt chủng dưới sự giám sát của chúng tôi," bà nói trong một cuộc diễu hành Ngày Tê giác Thế giới tại thủ đô của Nam Phi.

Nhưng năm 2014 cho thấy là năm xấu nhất từ trước tới giờ cho những sinh vật khổng lồ chỉ ăn cây cỏ.

Nhưng vào lúc hết năm 2014, ít nhất 1.215 con tê giác đã bị giết hại ở Nam Phi, một kỷ lục mới.

Đây là con số tính tới ngày 20 tháng 11, và ông Albi Modise, phát ngôn viên của Bộ Môi trường, cho biết con số chính thức cuối cùng có thể còn cao hơn.

"Rõ ràng chúng ta đang chứng kiến con số năm nay thực sự cao hơn so với năm ngoái, về số lượng tê giác bị giết hại," ông cho biết, mặc dù không đưa ra con số cuối cùng.

Điều gì khiến nhiều tê giác bị tàn sát như vậy? Sừng tê giác là loại thuốc cổ truyền quý hiếm ở châu Á - mặc dù không có bằng chứng khoa học cho thấy nó có bất kỳ tác dụng gì. Sừng tê giác có thể bán với giá tới 100.000 đôla mỗi kg, cuốn hút những nhóm tội phạm có tổ chức lao vào nỗ lực săn trộm.

Những chiến lược gây tranh cãi

Nhà bảo tồn Chris Galliers, Giám đốc Dự án Tê giác cho Hội Dã sinh và Môi trường của Nam Phi, nói năm 2014 là một năm tàn bạo đối với tê giác. Ông trả lời phỏng vấn của VOA từ một khu bảo tồn ở tỉnh KwaZulu Natal của Nam Phi.

"Đó là một năm rất khó khăn, và chúng tôi rõ ràng là rất lo ngại," ông nói. "Không phải là do thiếu nỗ lực của rất nhiều người làm công tác trên thực địa. Chúng tôi phải nói rằng họ làm việc cực kỳ chăm chỉ để đối phó với tình hình. Nếu không nhờ những nỗ lực đó thì tình hình sẽ tồi tệ hơn rất nhiều so với những gì chúng ta đang chứng kiến bây giờ. "

Ông Galliers ca ngợi việc gia tăng những vụ bắt giữ, nhưng lưu ý rằng đó chưa phải là hết chuyện: ông nói những vụ khởi tố chưa theo kịp với những vụ bắt giữ, nghĩa là nhiều tay săn trộm bị tình nghi đang thoát tội.

Đó là vấn đề lớn đối với nhà bảo tồn Dex Kotze. Ông nói rằng ông đã vận động cho việc thay đổi luật pháp nhưng không thành công. Ông nói không có sự thay đổi này, chính phủ Nam Phi vẫn chưa thực sự nghiêm túc về cuộc chiến chống nạn săn trộm.

"Họ phải thay đổi luật về thủ tục hình sự. Họ phải thay đổi luật pháp," ông nói. "Thẩm phán cần có thẩm quyền rõ ràng từ chính phủ để nói rằng nếu bị bắt, đó là những gì mà nghi phạm cần phải thấy. Chúng tôi đã có bảy năm liên tiếp, giờ là tám năm liên tiếp, tê giác bị giết hại hàng loạt mỗi năm. Vậy mà luật vẫn chưa thay đổi. Thật điên rồ."

Ông Galliers nói săn trộm tê giác không chỉ ảnh hưởng đến tê giác mà còn đến môi trường, sức khỏe và kinh tế của những cộng đồng địa phương, an ninh biên giới và hơn thế nữa. Ông nói tất cả những điều đó cần phải được xem xét.

te-giac-nam-phi-2
Một con tê giác cái bị những kẻ săn trộm dùng cưa lấy cắp sừng, Natal, Nam Phi, 9/11/2010. (Ảnh: Brent Stirton/WWF)

"Không có một sự can thiệp duy nhất nào sẽ ngừng được nạn săn trộm tê giác vào ngày mai," ông nói. "Đây là cuộc đấu tranh khó khăn và lâu dài, đây là cuộc chiến tranh mà chúng tôi đang phải đối mặt... Và nếu chúng ta không thể bảo tồn loài tê giác, một loài vật có sức thu hút, thì liệu có thể hy vọng gì cho những loài khác sống trên hành tinh này?"

Tội ác và trừng phạt không phải là những chiến thuật duy nhất mà Nam Phi có để sử dụng. Nam Phi đang bí mật di dời tê giác, cố gắng thiết lập những mối quan hệ hải quan và cảnh sát với các nước tiêu thụ ở châu Á, và qua việc mở rộng giáo dục.

Nam Phi cũng đang cân nhắc có nên hợp pháp hóa việc bán nguồn sừng tê giác hay không, một động thái mà ông Galliers nói ông thận trọng trong việc ủng hộ cho đến khi nhìn thấy những chi tiết cụ thể.

Nhưng Modise nói rằng ông không từ bỏ hy vọng cho loài tê giác vào năm 2015. Ông cho biết lần gần nhất mà quần thể tê giác lâm vào khủng hoảng là cuối những năm 1960, và kể từ đó số lượng tê giác đã phục hồi.

"Loài tê giác có thể được cứu sống," ông nói. "Tuy nhiên, thách thức mà chúng ta đang phải đối mặt hiện nay lớn hơn nhiều so với ở thời điểm đó bởi vì hiện nay thị trường toàn cầu có nhu cầu sừng tê giác ngày càng gia tăng, dù là bất hợp pháp. Vì vậy, những nỗ lực của chúng tôi lần này phải có sự tham gia của những đối tác quốc tế."

Không ai trong số các nhà bảo tồn đầy nhiệt huyết và các chuyên gia có thể đồng ý về cách giải quyết tốt nhất tệ nạn này. Nhưng tất cả họ đều đồng ý: tình hình phải cải thiện vào năm 2015.

Anita Powell  at http://www.voatiengviet.com/

Ruồi bọ cạp và 'hôn nhân bạo lực'

scorpionfly_nocredit
Quá trình tiến hóa ở một trong số các loại ruồi bọ cạp khiến con đực biết dùng một kỹ năng rất tinh quái để níu giữ con cái và kéo dài thời gian giao phối.


Ruồi bọ cạp là loại côn trùng có ngòi giống như ngòi bọ cạp ở phần bụng dưới, nhưng ngòi của chúng không có ngạnh.

Ở ruồi bọ cạp thuộc nhóm Dicerapanorpa, các con đực cũng có một cặp “sừng hậu môn” to bè, nằm lui lên trên cái ngòi một chút.

Nghiên cứu khoa học cho thấy cặp sừng này giúp các con đực bám chặt được vào con cái, khiến bạn tình không thể chống cự hoặc chạy thoát.

Để tìm hiểu tính năng của cặp sừng, ông Văn Trọng và các đồng nghiệp tại Đại học Nông Lâm Tây Bắc ở Dương Lăng, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, đã nuôi loài côn trùng này trong phòng thí nghiệm.

scorpionfly-2
Con đực dùng cặp sừng khóa chặt phần bụng con cái, không cho bạn tình bỏ chạy (Hìnht: Wen Zhong/Wiley)

Họ theo dõi hai nhóm, mỗi nhóm gồm 80 con đực giao phối với các con cái.

Sừng của các con ở một nhóm bị bọc kín bởi keo dính và đất sét, khiến bộ phận này không hoạt động được.

Ở nhóm không bị bọc sừng, có 78 trong số 80 con đực giao phối thành công, trong khi ở nhóm kia, tỷ lệ chỉ đạt 37.

Điều này cho thấy cặp sừng ở hậu môn là một công cụ rất quan trọng cho việc giao hoan và kiểm soát bạn tình.
Lãng mạn

Ông Văn Trọng phát hiện ra rằng việc tán tỉnh cũng là một mối quan hệ tốn nhiều thời gian đối với ruồi bọ cạp.

Đầu tiên, con đực tiết ra chất pheromones tình dục nhằm mời gọi, hấp dẫn con cái có thể đang quanh quẩn đâu đó.

scorpionfly-3

Con đực cũng đập cánh phành phạch để khoe mẽ và đung đưa cong lên hạ xuống phần bụng. Giai đoạn này có thể kéo dài tới hàng giờ đồng hồ.

Khi con cái tới gần, con đực dùng sừng hậu môn quặp lấy bụng con cái, khóa chặt cô nàng trong khoảng từ 70 đến 140 phút.

Lúc này, con cái sẽ xoay người cố rũ con đực ra và đập cánh gấp gáp.

Để kiểm soát tình hình và đưa con cái trở lại làm 'nhiệm vụ', con đực sẽ tặng con cái một 'món quà cưới' mà nó tiết ra từ tuyến nước bọt.

Quá trình giao phối tạm dừng để con cái nếm náp rồi thưởng thức món quà đặc biệt.

Sau đó, con đực lại tiếp tục việc chính còn con cái thì tiếp tục ăn.

Con đực lại quắp lấy con cái, lần này bằng cả sừng ở hậu môn lẫn một công cụ hỗ trợ trông giống như cái ngàm ở phía bụng trên.

scorpionfly-4

Bằng cách này, con đực có thể kéo dài thời gian giao phối cho tới cả sau khi con cái đã xơi hết món quà.

Sừng hậu môn và ngàm của con đực hoạt động rất hiệu quả, nên có lúc chúng không buồn quà cáp cho bạn tình.

Trong khoảng một nửa các cuộc giao phối, con đực tìm được cách bám chặt bất chấp con cái giãy giụa mà không bận tâm cho con cái chút quà gì.

Tuy vậy, bất chấp sự xảo quyệt của con đực, các con cái cũng có ít nhiều quyền quyết định chọn cha cho các con mình.

Một nghiên cứu khác cho thấy các con cái có thể đón nhận nhiều tinh trùng hơn từ các con đực có tặng quà.

Leif Engqvist từ Đại học Bern, Thuỵ Sỹ, đã nghiên cứu nhiều các nhóm ruồi bọ cạp khác nhưng nói những cái sừng này là điều mới mà ông chưa từng chứng kiến trước đây.

"Nhiều công cụ nhằm níu giữ đã được phát triển trong quá trình tiến hoá ở loài ruồi bọ cạp, liên quan tới chuyện tình dục," Engqvist nói.

scorpionfly-5
Cuộc giao phối thường bị gián đoạn chút ít khi con cái chấp nhận 'món quà cưới' từ con đực (Hình: Wen Zhong/Wiley)

Melissa Hogenboom at  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/

Bốn bí mật bất ngờ về cá cảnh

goldfish__bensonkuaccby2.0
Bạn tưởng mình đã biết khá nhiều về cá cảnh, nhưng thực ra chúng có những thứ rất lạ mà có lẽ bạn không thể đoán ra.

Cá cảnh không phổ biến như chó, mèo nuôi trong nhà, có lẽ bởi người ta không thể ôm ấp nựng nịu cá được.

Thực sự thì chúng chỉ bơi qua bơi lại, há miệng ngậm miệng, tra tấn chú mèo cưng của bạn với viễn cảnh được chén bữa ngon. Chỉ có vậy!

Thế nhưng chú cá cảnh của bạn ẩn chứa nhiều điều hơn nhiều so với những gì ta nhìn thấy. Dưới đây là bốn điều có lẽ bạn chưa biết về cá cảnh:

Cá cảnh trước kia là để làm thức ăn

Thuở ban đầu, cá cảnh không phải là sinh vật cảnh, mà là để ta ăn.

Cá cảnh hiện đại (Carassius auratus auratus) là biến thể đã được thuần hóa của loài cá chép sống trong hoang dã ở Đông Á.

Tổ tiên cá chép thiên nhiên của cá cảnh có màu xám bạc.

Được gọi là “chi”, nó từng có thời là loại cá được ăn phổ biến ở Trung Quốc.

goldfish-2

Dần dần, sự biến đổi gene khiến nó chuyển dần sang có màu đỏ sáng, vàng, hoặc cam.

Trong tự nhiên, những màu sắc như vậy sẽ khiến con cá dễ dàng bị kẻ thù phát hiện và bắt ăn thịt.

Nhưng hồi thế kỷ thứ chín, người Trung Quốc, mà chủ yếu là các nhà sư Phật giáo, bắt đầu nuôi ‘chi’ trong các ao hồ, nơi chúng không bị những loài động vật khác bắt ăn thịt.

Theo truyền thuyết, tuần phủ Đình Diêm Tán phát hiện thấy có cá chi vàng trong hồ bên ngoài trấn Gia Hưng. Hồ đó sau trở thành “hồ gia ân”.

Theo truyền thống nhà Phật, người ta thường làm lễ phóng sinh để cầu may, nhất là với những loài động vật hiếm.

Cho nên việc không ăn những con cá chi có màu khác thường ngày càng trở nên phổ biến trên khắp Trung Quốc. Thay vào đó, người ta thả chúng vào ao hồ.

Các ghi chép chính thức nói việc thả cá chi có màu vào ao hồ được thực hiện từ khoảng năm 975.

Thế nhưng trong ít nhất 100 năm sau đó, giữa cá sặc sỡ và cá chi trong tự nhiên không có gì khác biệt.

Không giống như các loài động vật được nuôi trong nhà, cá cảnh luôn lẩn tránh con người và không ăn những thức ăn được thả xuống.

“Chúng là những đối tượng bị bắt lên nhằm phục vụ các mục đích tôn giáo,” theo E. K. Balon từ Đại học Guelph tại Ontario, Canada.

goldfish-ho-nuoi-ca-canhHiện cá cảnh được nuôi tại nhiều hồ cá cả ở Trung Quốc và các nơi khác trên thế giới (Hình: Iconotec / Alamy)

Bình coóng nuôi cá là công nghệ dang dở

Tới khoảng năm 1240, cá cảnh được nuôi trong nhà và trở nên khác biệt so với cá chi.

Chúng được thuần hóa và chịu ăn thức ăn được con người thả xuống.

Tại các hồ gia ân công cộng, cá cảnh sống cùng cá chi, rùa và các loài cá khác.

Nhưng với những ai có điều kiện xây hồ cá riêng thì thường chỉ thả những con cá cảnh có màu sắc sặc sỡ, đẹp đẽ.

Khi đã có đủ một lượng cá nhất định, người nuôi bắt đầu lai tạo để cho ra những chú cá có màu sắc mong muốn.

Theo Balon, việc lai tạo được khởi đầu hồi năm 1163, tại hồ cá cảnh của Đặc Thủ Cung ở thành phố Hàng Châu.

Từ đó tới thế kỷ thứ 16, việc nuôi cá cảnh trong bình coóng trở nên phổ biến, bởi nó ít tốn kém hơn.

Việc nuôi cá nhân tạo khiến chúng ta ngày nay có tới chừng 250 biến thể khác nhau, được mô tả là “kỳ quặc” và “quái dị” trong bộ bách khoa toàn thư về đời sống động vật của Purnell, Encyclopedia of Animal Life, xuất bản năm 1969.

goldfish-be-nuoi-ca-canh

“Liệt kê ra thì cả một danh sách dài: cá đuôi voan, cá hình trứng, cá thiên văn, cá trúc bâu, cá thiên đàng, cá đầu sư tử, cá sao chổi, rồi cá mắt lồi, cá xanh, cá nâu, cá lấp lánh, cá đuôi giẻ quạt, và nhiều loại khác nữa.”

Rõ ràng là những biến đổi này không đem lại lợi ích gì nếu chúng sống trong tự nhiên.

Nhiều loại cá cảnh khác nhau được lai tạo nhằm “đáp ứng sự hài lòng và hiếu kỳ của con người”, nhưng những cái vây đuôi đẹp đẽ của chúng “trông hay ho nhưng không thể điều khiển được” và cơ thể chúng “đầy chất mỡ không tốt”, theo nghiên cứu của Tomoyoshi Komiyama và các đồng nghiệp từ Đại học Dược Tokai University tại Isehara, Nhật Bản hồi 2009.

Cá cảnh là loài xâm thực

Một số loài cá cảnh có sức sống mãnh liệt hơn những loài khác và chúng thực ra là loài gây hại.

Một nghiên cứu từ Anh cho thấy ít nhất có năm giống cá cảnh khác nhau thích nghi rất tốt trong các ao hồ là cá màu vàng đồng, màu vàng, màu nâu, cá màu loang (lẫn trắng, đỏ, đen hoặc vàng) và cá đầu sư tử.

Trong lúc “chi” có gốc từ sông hồ ở miền đông và trung Á, cá cảnh nay có thể thấy ở trên khắp châu Âu, Nam Phi, Madagascar, America cùng các đảo thuộc Oceania và Caribbe.

Hầu hết chúng khởi đầu sinh sôi từ việc con người thả đi những sinh vật cảnh không còn ưa chuộng nữa, hoặc do chúng thoát khỏi môi trường nuôi dưỡng hoặc các cơ sở phân phối.

Tại Âu châu, chúng đang là mối đe dọa nếu được lai với giống cá chép Crucia địa phương, còn tại Nevada, chúng qua mặt loài cá hồ Pahrump.

Chúng có thể chén sạch các loại thực vật dưới nước do thói phàm ăn.

Một nghiên cứu cho thấy chúng quẫy quá nhiều khiến cho bùn đục ngầu, làm các loại sinh vật khác không tìm kiếm được thức ăn.

ky-nhong-ngon-dai
Cá cảnh là mối đe dọa thực sự cho loài kỳ giông ngón dài

Một nghiên cứu hồi 2001 cho thấy cá cảnh ăn trứng và ấu trùng của kỳ giông chân dài.

Bình thường chúng không ăn trứng, nhưng cá cảnh rất nhanh chóng nhận biết, học hỏi.

Nếu phát hiện thấy có loài cá khác ăn trứng, chúng sẽ bắt đầu học theo, và một khi có một con cá cảnh phát hiện ra chuyện này thì cả cộng đồng cá cảnh ở đó sẽ nhanh chóng bắt chước.

Cá cảnh ăn trứng và ấu trùng kỳ giông ngón dài một cách háo hức tới mức “chỉ riêng chúng thôi đã có thể xóa sổ loài bò sát vùng bắc Idaho này khỏi một số nơi,” các nhà nghiên cứu nói.

Cá cảnh giúp chúng ta hiểu thêm về khả năng nhìn và về chất có cồn

Cá cảnh đã trở nên quen thuộc tại các phòng thí nghiệm, có lẽ bởi chúng dễ luyện và cũng dễ mua.

Cá cảnh là một trong những loài động vật được nghiên cứu nhiều nhất trong lĩnh vực nhận biết bằng thị giác.

Chúng có thể cảm nhận được màu sắc giống như con người, điều mà thậm chí không phải loài linh trưởng nào cũng có được. Cho nên chúng trở thành loài động vật lý tưởng để con người nghiên cứu.

goldfish-be-nuoi-ca-canh-2

Loại cá cảnh mini, cỡ bằng ngón tay, thậm chí còn không phân biệt rõ được màu xanh dương, nhưng càng sống lâu chúng càng có khả năng nhận biết, một quy trình khá giống như ở con người khi còn bé thơ.

Có một điểm chúng ta con người, đó là chúng ta có ba loại tế bào nhận biết màu sắc trong mắt, còn cá cảnh lại có thêm cảm ứng màu thứ tư, cho phép chúng phân biệt được ánh siêu cực tím.

Cá cảnh đặc biệt hữu hiệu trong việc hiểu được ảnh hưởng của rượu đối với não và cơ thể.

Đó là bởi “sự tập trung chất cồn trong máu rất giống với sự tập trung chất cồn trong khu vực nước mà chúng đang bơi,” theo Donald Goodwin của Đại học Washington tại St Louis, Missouri và các đồng nghiệp hồi 1971.

Điều đó có nghĩa là bạn có thể đo được độ say của một chú cá cảnh bằng cách kiểm tra độ cồn trong bình nước mà nó đang bơi trong đó, thay vì phải đụng chạm thực sự vào nó.

Hồi 1969, Ralph Ryback từ bệnh viện Boston City tại Massachusetts đã dùng cách này để nghiên cứu xem những loại rượu khác nhau thì gây tác động ra sao tới khả năng học hỏi của những chú cá cảnh.

Kết quả là những chú cá bơi trong dung dịch có chứa rượu bourbon thì ảnh hưởng nhiều hơn so với những chú bơi trong bồn cá có pha vodka.

Jason G. Goldman at  http://www.bbc.co.uk/vietnamese/