This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017
Thực hiện sản xuất hàng hoá “Không phá rừng” và thương mại thực tế
Mối
đe dọa chính đến các cánh rừng nhiệt đới hiện nay không phải việc khai thác gỗ
mà là từ việc phá rừng trên quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về hàng
nông sản. Nhận thức được điều này, các chính phủ và doanh nghiệp trên toàn thế
giới ngày càng cam kết chấm dứt nạn phá rừng từ các chuỗi cung ứng hàng hoá như
vậy.
Nhưng
nhiều quốc gia sản xuất hàng hóa có đặc điểm là năng lực quản lý rừng và sử dụng
đất đai kém, và thường thì việc phá rừng vì mục đích nông nghiệp là bất hợp
pháp. Việc không thể giải quyết các thách thức về quản lý rừng và sử dụng đất có
thể làm cho các sáng kiến “không phá rừng” (zero-deforestation) ở các khu vực
công cộng và tư nhân trở nên vô ích.
Một
mô hình giải quyết những thách thức này đã tồn tại. Từ năm 2003, Liên minh Châu
Âu (EU) đã và đang thực hiện Kế hoạch Hành động về Luật Lâm nghiệp, Quản trị và
Thương mại (FLEGT) để giải quyết việc khai thác gỗ bất hợp pháp. Trong khuôn khổ
Kế hoạch Hành động, EU và các quốc gia xuất khẩu gỗ đàm phán và thực hiện các
thỏa thuận thương mại được gọi là Hiệp định Đối tác Tự nguyện (VPAs) để cải
thiện việc quản lý rừng cũng như thúc đẩy thương mại các sản phẩm gỗ hợp pháp đã
được kiểm chứng.
Các
tác giả trong một bài báo mới từ các cơ sở của FLEGT và REDD ở EU đã biện luận
rằng cần phải đưa ra các bài học kinh nghiệm từ VPAs để có thể hỗ trợ các nỗ lực
để xác định môi trường thuận lợi cho các bên liên quan mật thiết để làm cho sản
xuất “không phá rừng” và thương mại thực tế liên quan.
Trên
thực tế, kinh nghiệm cho thấy bằng cách kết nối các cải cách thương mại và tiếp
cận thị trường, VPAs sẽ cung cấp nhiều động lực mạnh mẽ cho các nhà sản xuất
hàng hóa để đáp ứng các nhu cầu đặt ra.
VPAs
không giống như các giao dịch thương mại thông thường trong đó nội dung của
chúng được thống nhất thông qua quá trình có sự tham gia của các phía đại diện
của chính phủ, khu vực kinh tế tư nhân, xã hội dân sự và các nhóm liên quan
khác. Kinh nghiệm cho thấy chất lượng tham gia trong các lĩnh vực như xác định
tính hợp pháp và cơ chế kiểm tra thử nghiệm là một đóng góp quan trọng cho việc
đàm phán và thực hiện thành công VPA. Đối thoại và hợp tác giữa các bên liên
quan ở khu vực nhà nước và tư nhân ở các quốc gia sản xuất hàng hóa có ý nghĩa
quan trọng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, nhất trí và thực hiện có hiệu quả cam
kết không phá rừng.
Các
kinh nghiệm từ VPA cho thấy sự cần thiết xác định mục tiêu "Không phá rừng" ở
cấp quốc gia hay các cấp có thẩm quyền khác cũng như làm rõ khung pháp lý và thể
chế để các bên liên quan có thể hiểu được các quyền, trách nhiệm và nghĩa
vụ.
Một
yếu tố cần làm rõ là thông tin - về dòng chảy hàng hóa, việc tuân thủ pháp luật,
chế độ quản lý .v.v. Hầu hết các chuỗi cung cấp sản phẩm còn thiếu các thông tin
này. Đây cũng là một lỗ hổng có thể dẫn đến tham nhũng, tội phạm và xung đột
giữa các cộng đồng và công ty.
VPA
đề cập đến sự cần thiết phải minh bạch hơn thông qua việc cam kết các quốc gia
đối tác công bố thông tin mà các bên liên quan cho là quan trọng. Việc thực hiện
những cam kết này đã tăng cường trách nhiệm giải trình của nhà nước và tư nhân,
một trong số đó là việc chia sẻ lợi ích với các cộng đồng sống dựa vào rừng và
có khả năng giám sát rừng độc lập.
Các
tác giả trong bài báo đó lưu ý không nên đánh giá thấp tính thực tế của việc
giải quyết nạn phá rừng thông qua các chuỗi cung cấp sản phẩm. Họ cho rằng "Điều
này đòi hỏi sự nhất trí xây dựng, hỗ trợ về mặt chính trị, phối hợp nhiều mặt và
xây dựng năng lực". "Hơn nữa việc này đòi hỏi các chính phủ, doanh nghiệp, cộng
đồng và xã hội dân sự tương tác và hỗ trợ lẫn nhau bằng những cách thức hoàn
toàn mới".
Họ
nói VPAs đưa ra những bài học quan trọng để thu hút các bên liên quan và cải
thiện sự tham gia, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và lập luận pháp
lý.
Các
quốc gia có thẩm quyền giải quyết vấn đề này và vượt qua những rào cản về quản
lý rừng và sử dụng đất sẽ dẫn đầu về đảm bảo các nguồn đầu tư tư nhân cho mục
đích chống phá rừng và cân bằng giữa sự phát triển và bền vững.
Dịch
bởi Đào Công Anh
Source: http://www.euflegt.efi.int/publications/making-zero-deforestation-commodity-production-and-trade-a-reality
Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017
Mọi người sợ hãi, kinh ngạc khi phát hiện ra loài cá Không có mặt!

Các
nhà nghiên cứu Australia đã tìm thấy một loài cá trong một cuộc khám phá ở bờ
biển Đông Úc, với ngoài hình kì lạ khi không có ... mặt. Mặc dù các nhà khoa học
ban đầu nghĩ rằng sinh vật sống ở biển sâu này có thể là một loài mới, tuy nhiên
những nghiên cứu sâu hơn đã chỉ ra con cá này có tên khoa học
là Typhlonus naus, loài vốn đã phát hiện ra từ cách đây 140
năm.
Hình ảnh:
John Pogonoski, Bộ sưu tập Cá CSIRO Quốc
gia Úc.
Đó
là một con cá to, kì lạ, qoái dị vì không có mặt, có nghĩa là nó Không có mắt -
Không có cái gì cả - thậm chí không có dấu hiệu có mắt ở da như các chấm nhỏ
hoặc các điểm nhỏ hoặc các vùng da đổi màu. Con cá này bắt nguồn từ độ sâu 4000
mét dưới mặt biển, nơi có áp suất rất lớn, nhiệt độ chỉ 1°C, và cảnh quan đáy
biển là khá hoang sơ!
![]() |
| Chuyên gia lươn John Pogonoski là người đầu tiên xác định ra tên loài cá này - Ảnh Asher Flatt |
Mọi
người đều ngạc nhiên và bối rối!
"Chúng
tôi nghĩ rằng chúng tôi đã vớ bở, đặc biệt là khi chúng tôi không biết đó là cái
gì - một loại cá, chình, hay lươn. . . Mẫu mô ngay sau đó đã được gửi đi phân
tích di truyền và hình ảnh được gửi qua email cho các chuyên gia phân tích về
con cá lạ. Chúng tôi thậm chí đã nghĩ rằng nó sẽ là một loài mới cho khoa học"
- Dianne
Bray viết trên blog của Chương trình Khoa học Môi trường Quốc gia
(nespmarine.edu.au)
Cho
đến khi một đồng nghiệp của Dianne Bray và là chuyên gia về lươn, John
Pogonoski, thuộc Bộ sưu tập Cá CSIRO Úc, tìm thấy một loài tương tự trong các ấn
phẩm khoa học. Đó là một loài cá chình với tên khoa
học Typhlonus nasus.
Từ Typhlonus có lẽ bắt nguồn từ tiếng Hy
Lạp, typhlos (= mù)
và onos (= cá tuyết) - một loài cá tuyết cá mù!
Họ đã gọi loài cá này là Cá tuyết không mặt (Faceless
Cusk)
![]() |
| Faceless Cusk. Image: John Pogonoski, CSIRO Australian National Fish Collection |
Vì vậy, nó không phải là một loài mới, nhưng nó vẫn là
một sự khám phá vô cùng thú vị, và họ nghĩ rằng đó là con cá lớn nhất của loài
này được thấy cho đến nay. Mặc dù rất ít người biết về loài cá lạ lùng này,
chúng không có mặt, nhưng có miệng, và có mắt - chúng có mắt rất nhỏ ẩn ở dưới
da.
![]() |
| Phần đầu cá chỉ có miệng và không có mặt. Hình ảnh: Dianne Bray và John Pogonoski |
Mặc
dù hiếm, nó phân bố khá rộng rãi, và được biết đến từ vùng biển Ả Rập,
Indonesia, Papua New Guinea, Nhật Bản và Hawaii - chúng sống ở độ sâu từ 4000
đến 5000 mét.
Typhlonus
nasus lần đầu tiên được
thu thập vào ngày 25 Tháng 8 năm 1874, ở độ sâu 2440 sải (=1,84m) trên vùng biển
Coral, ngay bên ngoài khu vực bây giờ là Khu Kinh tế Đặc biệt của Úc. Việc phát
hiện ra loài cá này ở thời điểm đó là một kỳ tích, bởi vì với công nghệ không
hiện đại như ngày nay mà khảo sát vùng biển ở độ sâu hơn 4000 là một điều vô
cùng khó khăn. Đó chính là cuộc
viễn chinh hải dương vòng quanh thế giới đầu tiên trong lịch sử trên
con tàu huyền thoại HMS Challenger.
Xem clip về con cá
này
Theo: https://www.nespmarine.edu.au/faceless-fish-looks-happier-and-heartier-it-did-1887
Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017
Kinh doanh trong sự Tuyệt chủng: Buôn bán vật nuôi đang giết chết nhiều loài động vật như thế nào

Suy giảm đa
dạng sinh học toàn cầu không chỉ là kết quả từ sự phá hủy môi trường sống tự
nhiên, hay thậm chí săn bắn các loài động vật làm thức ăn. Một số lượng lớn các
loài đang bị đe dọa là do buôn bán vật nuôi – ở cả hai trường
hợp dạng sống như vật nuôi cảnh hay để trưng bày, hoặc bị giết chết vì giá trị
sử dụng trong các loại thuốc.
Mặc dù mọi người
ngày càng nhận thức được mối đe dọa của việc buôn bán các loài có giá trị cao
như ngà voi, và các động vật khác như hổ, tê giác, và tê tê trong y học, ít
người nhận ra rủi ro do buôn bán vật nuôi gây ra đối với tương lai sống còn của
nhiều loài chưa được biết đến rộng rãi.
Tham quan một
vườn thú hay một cửa hàng bán vật nuôi, bạn có thể thấy được rằng những con bò
sát hay lưỡng cư trong cửa hàng đang được chăm sóc trong điều kiện nuôi nhốt.
Nhưng rất nhiều trong số các con vật này được nhập khẩu về đây khi còn sống.
Trên thực tế 92% của 500.000 chuyến hàng động vật sống trong giai đoạn 2000-2006
tới Hoa Kỳ (tương đương 1.480.000 con vật) là cho mục đích buôn bán vật nuôi và
69% trong số đó có nguồn gốc từ Đông Nam Á.
Việc buôn bán
này là hợp pháp?
Rất nhiều vườn
thú, hồ cá cảnh và các nhà buôn bán vật nuôi ban đầu đều là các nhà nhân giống
có chứng chỉ ở nhiều nơi trên Thế giới (đặc biệt là ở Đông Nam Á và Nam Mỹ) nhằm
cung cấp nguồn vật nuôi và phục vụ mục đích triển lãm. Tuy nhiên số vật nuôi bây
giờ được đem ra triển lãm chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số các con vật thực
tế đang bị nuôi nhốt. Phần lớn vật nuôi được săn bắt từ thiên nhiên và được
chuyển qua dạng hợp pháp
Một trong những
loài như vậy là Tắc kè (Gecko gecko), trong trường hợp loài này ở
Indonesia có thể xuất khẩu hợp pháp đến 3 triệu cá thể sống hàng năm (theo công
ước CITES quy định về hạn ngạch xuất khẩu hợp pháp của tất cả các loài có giá
trị thương mại quốc tế) và thêm hơn 1,2 triệu mẫu khô có giá trị về mặt dược
liệu.
![]() |
| Tắc kè - Jonathan Searle/Reuters |
Tình trạng này
cũng đúng cho ước tính khoảng 160 loài bò sát. Khoảng 80% số lượng loài Trăn cây
Indonesia ( Morelia viridis) (hơn 5.337 cá thể hàng năm) ước
tính bị xuất khẩu bất hợp pháp, và hầu hết toàn bộ quần thể loài rùa Palawan đã
bị đánh bắt bởi một nhóm duy nhất để xuất khẩu trong khu vực. Bởi vì các nhà sưu
tầm có nhu cầu tìm kiếm các loài mới và quý hiếm. Toàn bộ các quần thể có thể bị
khai thác thông qua sử dụng thông tin từ các công bố khoa học đề cập tới các
loài động vật ngay khi chúng đã được mô tả. Ít nhất 21 loài bò sát đã trở thành
mục tiêu theo cách này và các quần thể trong tự nhiên có thể đứng bên bờ vực
tuyệt chủng sớm sau khi khi chúng được phát hiện ra và đó là 1 thực tế. Các viện
nghiên cứu đã bắt đầu di dời vị trí chính xác của các loài mới ra khỏi các công
bố của họ để ngăn chặn tình trạng này.
Nhu cầu sưu tầm
đã đưa một số loài đến nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên, bao gồm loài tắc kè
hổ Trung quốc (Goniuorosaurus luii) và rất nhiều loài tắc kè khác chỉ
được biết đến bởi các nhà sưu tầm và các nhà khoa học. Tuy những loài này tuyệt
chủng trong tự nhiên, mức độ cực kì nguy cấp và khó phân loại lại dễ dàng có sẵn
trong tay những kẻ buôn bán vô đạo đức tại Mỹ và Châu Âu, thông qua Internet hay
các hội chợ đen. Những mối đe dọa này đặc biệt nguy hiểm với bất kì loài bò sát
nào mới được mô tả, đặc biệt là các loài bò sát đến từ Châu Á hay New Zealand ,
Madagascar.
Đối với phần lớn
các loài này, buôn bán hợp pháp chẳng bao giờ được cấp phép quốc tế; tất cả các
con vật có sẵn đều đến từ hàng hóa bất hợp pháp, và có thể tương đương với quần
thể trên toàn cầu đối với một số loài.
![]() |
| Trăn cây - Claro Cortes/Reuters |
Một ước tính cho
thấy 50% số bò sát còn sống xuất khẩu là thông qua bẫy bắt trong tự nhiên bất
chấp thực tế là chưa tới một nửa trong tổng số 10.272 loài bò sát được mô tả
hiện nay còn trong tự nhiên được đánh giá nằm trong tình trạng bảo
tồn.
Chỉ khoảng dưới
8% các loài buôn bán thương mại được kiểm soát để ưu tiên phát triển, nhưng các
hạn ngạch hay các hướng dẫn quản lý gần như không có
Tuy nhiên tình
trạng khai thác này không chỉ giới hạn đối với các loài bò sát hay lưỡng cư. Bất
kì loài nào cũng có thể rơi vào bẫy của những tay sưu tầm, đối với các loài linh
trưởng, và các loài lan hay chim đều chịu chung số phận. Hơn 212 loài lưỡng cư
đã bị khai thác quá mức đã được phân loại cho đến nay, với ít nhất 290 loài đã
trở thành mục tiêu cho buôn bán vật nuôi quốc tế.
Nhiều cuộc điều
tra tại Thailand cho thấy có hơn 347 loài phong lan được buôn bán chỉ trong một
chợ. Những loài này đến từ khắp các khu vực và bao gồm cả những loài chưa được
mô tả, cũng như các loài được vận chuyển trái phép vào
Thailand
Những loài này
chịu chung số phận với các loài bò sát, với nhiều khám phá mới được khai thác từ
thị trường này, thỉnh thoảng được khuyến khích bởi các nhà nghiên cứu. Chúng rất
dễ dàng có sẵn qua Internet, kết quả là sự tuyệt chủng của các loài này có thể
chỉ dựa riêng vào hoạt động buôn bán và những mối đe doạ do thương mại này gây
ra bị từ chối chấp nhận.
![]() |
| Nhiều loài chim bị đe doạ tuyệt chủng do bị buôn bán làm vật nuôi - James Akena/Reuters |
Rất nhiều loài chim cũng chịu mối đe dọa tuyệt chủng hàng loạt từ các hoạt động buôn bán vật nuôi. Các loài này bao gồm hàng ngàn loài chim tại Nam Mỹ, và một ước tính cho thấy có tới 3,33 triệu cá thể chim bị buôn bán hàng năm tại Đông Nam Á (1,3 triệu cá thể chỉ tính riêng tại Indonesia)
Áp lực lên các
loài chim lại Indonesia nghiêm trọng đến mức mà chỉ trong 1 ngày tại 1 chợ đã có
hơn 16.160 cá thể chim thuộc 206 loài ghi nhận được bán ra, chiếm tới 98% tất cả
các loài chim bản địa của Indonesia, và 20% trong số đó là đặc
hữu.
Các loài cá cũng
có số liệu thống kê tương tự. Hơn 98% trong số chúng tại các hồ cá cảnh được
đánh bắt từ các rạn san hô tự nhiên và đối mặt với tỉ lệ chết 98% trong một năm.
Do đó, các quần thể cá trong tự nhiên, như loài cá Hề , đã suy giảm tới 75% quần
thể.
Ai sẽ chịu
trách nhiệm ?
Buôn bán động vật
hoang dã bất hợp pháp là hoạt động buôn bán lớn thứ tư trên toàn cầu, có giá trị
khoảng 20 tỉ dollars hàng năm. Một nửa trong đó đến từ Đông Nam
Á.
Không giống với
các hoạt động buôn bán bất hợp pháp khác, rất nhiều hoạt động buôn bán động vật
hoang dã bất hợp pháp không bị che dấu trong những trang Web đen. Tính thực thi
pháp luật thường rất lỏng lẻo cho phép những kẻ buôn bán các loài động thực vật
có thể hoạt động công khai và ít lo sợ bị trừng phạt.
Đạo luật Lacey
tại Mỹ cấm việc nhập khẩu các sinh vật sống từ các nước có loài này là bản địa,
nhằm mục đích ngăn chặn sự qua mặt buôn bán động vật hoang dã. Nhưng ở Châu Âu
chưa có các đạo luật tương tự, điều đó cung cấp một cầu nối đến điểm cuối của
hoạt động thương mại.
![]() |
| Những quần thể cá tự nhiên, ví du như cá hề đã bị suy giảm 70% - Pichi Chuang/Reuters |
Phần lớn nhu cầu
về các loài này, và đặc biệt là các loài quý hiếm đến từ các nhà sưu tập Châu Âu
và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ của trong quá trình buôn bán này được quy
định (2% buôn bán quốc tế đối với động vật lưỡng cư, và 10% đối với buôn bán bò
sát trên toàn cầu), những hành động khẩn cấp là cần thiết để bảo vệ các loài dễ
bị tổn thương khỏi quá trình tuyệt chủng.
Do nhiều loài bò
sát, lưỡng cư và các loài lan chưa được liệt kê vào danh sách cần bảo vệ của
CITES (do thiếu thông tin, hay chỉ mới được phát hiện gần đây) nên không có một
quy định thực sự nào áp dụng được trong buôn bán động vật hoang dã. Và các nhân
viên hải quan cũng không có khả năng phân biệt giữa một loài lan hay loài ếch
thông thường hay quý hiếm. Vì vậy cần có những hạn chế đơn giản hơn để ngăn chặn
mối nguy hại tiềm tàng gây ra bởi hoạt động buôn bán
này.
Vô tội đến khi
được chứng minh là có tội?
![]() |
|
Các loài lan cũng
bị suy giảm mạnh bởi các nhà sưu tập - Guillermo Granja/Reuters |
Hiện tại việc
theo dõi toàn bộ các nhóm buôn bán là rất khó khăn ngay cả đối với các tổ chức
đảm nhận vị trí này, ví dụ như Tổ chức Hải quan Thế giới cũng không theo dõi
được các hồ sơ về động vật lưỡng cư.
Rất nhiều loài
tại Phương tây chỉ có thể đến thông qua các tuyến đường bất hợp pháp, thế nhưng
việc tiêu thụ các loài này một lần nữa lại không hạn chế. Các hệ thống chứng
nhận hay cung cấp chứng chỉ cần phải được tạo ra như một phần bắt buộc của việc
bán bất kì đơn vị phân loại loài nào dễ bị tổn thương do khai khác. Với hình
thức tịch thu vá áp dụng các mức xử phạt để hỗ trợ cho việc tuân thủ thực thi
pháp luật
Các nhà sưu tập
các loài động vật sống thường là những người có sở thích, vì vậy phần lớn trong
số họ sẽ không có khả năng vượt qua một quãng đường dài để mua mẫu vật nếu mức
độ thực thi pháp luật được thúc đẩy. Những hành động như vậy cũng cần được mở
rộng để cuối cùng hạn chế việc buôn bán thông qua Internet đối với những loài
hiện đang bị đe dọa.
Mặc dù nhiều cam
kết đã được thực hiện bởi các Chính phủ Châu Âu nhằm hạn chế việc buôn bán động
vật hoang dã trái phép, những nỗ lực này thường thất bại trong việc giải thích
một số lượng lớn các loài đang có nguy cơ trở thành vật nuôi hay các mẫu tiêu
bản sống. Do sự qua mặt và tham nhũng, nên cần thiết hạn chế nhập khẩu từ người
tiêu dùng ở các quốc gia.
Nếu chúng ta muốn
có tương lai tốt đẹp cho các quần thể động vật hoang dã, thì hành động quyết
liệt là cần thiết để kiểm soát việc buôn bán quốc tế và buôn bán trong nước. Nếu
không có những hành động như vậy, chúng ta sẽ có thể thấy được sự mất đi của
nhiều loài quý hiếm chỉ vì lòng tham của loài người.
----------------------------------------
Tác giả: Alice Catherine Hughes, Associate Professor in Landscape Ecology & Conservation, Chinese Academy of Sciences
Bài gốc: Trading in extinction: how the pet trade is killing off many animal species
Dịch bởi: Đào Công Anh - Đại học Lâm Nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội
----------------------------------------
Tác giả: Alice Catherine Hughes, Associate Professor in Landscape Ecology & Conservation, Chinese Academy of Sciences
Bài gốc: Trading in extinction: how the pet trade is killing off many animal species
Dịch bởi: Đào Công Anh - Đại học Lâm Nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội
Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017
Phạm Hoàng Hộ - Giáo sư đầu ngành về thực vật Việt Nam đã qua đời

GS. Phạm Hoàng Hộ,
tác giả của công trình khoa học nổi tiếng "Cây Cỏ Việt Nam - An Illustrated Flora
of Vietnam" đã qua đời lúc 10g30 tối ngày
29/1/2017 (mùng hai tết nguyên đán 2017) tại nhà riêng ở Montreal,
Canada.
GS. Phạm Hoàng Hộ sinh ngày 3-8-1931 tại Cần Thơ, mất
ngày 29-1-2017 tại Canada hưởng thọ 86 tuổi.
Ông là tác giả của nhiều công trình khoa học về thực vật
nổi tiếng như:
- Cây cỏ miền nam Việt Nam 1960
- Rong Biển Việt Nam 1969
- Tảo Học 1972
- Sinh Học Thực Vật (in kỳ tư 1973)
- Hiển Hoa Bí tử ( in kỳ nhì 1975 )
- Cây Có Vị Thuốc Ở Việt Nam ( 2006)
Đặc biệt ông là tác giả bộ sách rất nổi tiếng mà bất kỳ
ai quan tâm đến Hệ thực vật của Việt Nam bao gồm từ sinh viên, giáo viên đến các
nhà nghiên cứu thực vật đều biết đó là bộ "Cây Cỏ Việt Nam - An
Illustrated Flora of Vietnam" gồm
6 tập xuất bản năm 1991-1993, tái bản có sửa chữa 3 tập năm 1999-2003.
Đây là bộ sách mô tả tương đối chi tiết đi kèm hình vẽ
minh hoạ của khoảng 10500 loài thực vật trên toàn đất nước Việt Nam. Có thể nói
rằng đây là bộ Thực vật chí Việt Nam đầy đủ nhất cho đến thời điểm hiện
tại.
Quý độc giả có thể tìm hiểu bộ sách tại
đây: http://www.biodivn.com/2013/12/bo-sach-cay-co-viet-nam-phh.html
R.I.P
Thứ Tư, 11 tháng 1, 2017
Võ Quý - Người cha của Bảo tồn thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã qua đời

Giáo
sư, Tiến sĩ Khoa học Võ Quý sinh năm 1929 là nhà giáo, nhà sinh học Việt Nam đã
qua đời sáng ngày 10/01/2017 hưởng thọ 87 tuổi.
Ông
là người tiên phong và đạt nhiều thành tựu trong nghiên cứu bảo vệ môi trường.
Ông là người đầu tiên của Châu Á được trao giải thưởng Hành tinh xanh của
IUCN
Ông
là một trong những người sáng lập Khoa sinh học, Đại học Tổng hợp Hà Nội và là
Chủ nhiệm Khoa sinh học trong suốt 10 năm (1980-1990).
Từ
năm 1985, ông cùng các cộng sự sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi
trường trực thuộc Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (nay là Viện Tài nguyên và Môi
trường). Ông giữ chức vụ Giám đốc trung tâm trong 10 năm liền (1985 - 1995) và
từ 1995 tới nay là Chủ tịch danh dự của Trung tâm.
![]() |
| GS. Võ Quý (ở giữa) đang làm việc tại Vườn Quốc Gia Vũ Quang năm 1996 |
Ông
đã là tác giả của 14 cuốn sách, tiêu biểu như: "Chim Việt Nam" (tập 1, 2), "Cuộc
sống các loài chim", "Danh mục các loài chim Việt Nam"...; là dịch giả chính của
nhiều cuốn sách về môi trường đồng thời cũng là tác giả của hơn 100 công trình
khoa học đã công bố trong nước và quốc tế.
-
Năm 1988: GS Võ Quý được tặng Huy chương vàng về thành tích bảo vệ động vật
hoang dã và xây dựng khu bảo vệ thiên nhiên do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế
(WWF) trao tặng.
-
Năm 1992: GS là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất cho đến ngày hôm nay nhận
bằng Danh dự của Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc.
-
Năm 1994: GS nhận huy chương của Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN) và
giải thưởng hạng nhất của Đức về bảo vệ môi trường sinh thái.
-
Năm 1995: Nhận giải thưởng về môi trường của Trường đại học Michigan
(Mỹ).
-
Năm 2003: Nhận phần thưởng "Hành tinh mau xanh" do IUCN trao tặng với những giải
pháp cải tạo môi trường thế giới và dự báo về sự phát triển môi trường trong
tương lai. Trị giá giải thưởng là 50 triệu yên, tương đương 6 tỷ đồng Việt Nam.
Đây là một giải thưởng quốc tế lớn nhất về môi trường, có giá trị tương đương
với giải thưởng Nobel (vì Nobel không có phần thưởng dành cho môi trường) được
trao cho những cá nhân và tổ chức đã có thành tích nổi bật trong lĩnh vực
này.
-
Nhà giáo Nhân dân của Việt Nam.[Theo Wikipedia]
Link:1. https://www.nytimes.com/2017/01/11/world/asia/vietnam-vo-quy-dead.html?rref=collection%2Fsectioncollection%2Fobituaries&action=click&contentCollection=obituaries®ion=stream&module=stream_unit&version=latest&contentPlacement=1&pgtype=sectionfront&_r=0
2. http://dantri.com.vn/su-kien/gs-vo-quy-nha-sinh-hoc-hang-dau-viet-nam-da-qua-doi-20170112091117605.htm
3. http://www.nhandan.com.vn/khoahoc/nhan-vat/item/31803602-giao-su-vo-quy-%E2%80%93-nha-bao-ton-thien-nhien-hang-dau-viet-nam-qua-doi.html
Posted in: NewsThứ Ba, 10 tháng 1, 2017
Nghiên cứu bảo tồn thực vật ở Việt Nam
Mới đây truyền hình VTC10 trong trương trình NETVIET đã
nói về công việc của một nhà nghiên cứu trẻ đang làm việc tại Viện Sinh thái va
Tài nguyên Sinh vật - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đây là chương
trình phát sóng ở hơn 100 quốc gia và có phụ đề bằng tiếng Anh.
Video đã đề cập các vấn đề như nghiên cứu phân loại thực vật, tầm quan trọng của phòng lưu trữ tiêu bản khô, bảo tồn thực vật và nghiên cứu sinh học sinh sản.
Video đã đề cập các vấn đề như nghiên cứu phân loại thực vật, tầm quan trọng của phòng lưu trữ tiêu bản khô, bảo tồn thực vật và nghiên cứu sinh học sinh sản.
The link below had showed a work of a researcher who is
working on Botany including plant taxonomy, conservation and reproductive
biology in Institute of Ecology and Biological Resource - Vietnam Academy of
Science and Technology (English subtitle)

http://netvietvtc10.com/chuong-trinh/16552/pham-van-the-nhung-nghien-cuu-bao-ton-thuc-va
Copied link: https://youtu.be/2DZl72ZWUt8
Copied link: https://youtu.be/2DZl72ZWUt8
Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016
Trà mi thưởng - Camellia thuongiana: Loài mới cho khoa học phát hiện ở Lâm Đồng

Camellia
thuongiana sp.nov. (For English please
see at the end!)
Các
nhà thực vật là Lương Văn Dũng (ĐH Đà Lạt) và cộng sự vừa công bố một loài hoa
trà mới cho khoa học phát hiện tại huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm
Đồng.
Anh
Lương Văn Dũng hiện đang là nghiên cứu sinh và là người tâm huyết với nghiên cứu
khoa học đặc biệt là Thực vật học. Anh đã có kinh nghiệm nhiều năm theo đuổi
nghiên cứu các loài hoa Trà hoang dại của Việt Nam. Gần đây anh và đồng nghiệp
cũng mới vừa công bố loài Đa tử trà lá nhỏ Polyspora microphylla mới cho thế
giới, phân bố ở khu vực
Hòn giao, Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà
Trà mi thưởng
- Camellia
thuongiana Luong, Anna Le & Lau.

Mô
tả:
Cây bụi,
cao 3-5 m; chồi non màu nâu đỏ, có lông thưa, sau không lông.
Lá hình
bầu dục hoặc hình trứng thuôn, hơi cong, dài 9-17 cm, rộng 4-6,5 cm; gốc lá tù
hoặc gần tròn, hơi lệch; đầu lá có đuôi nhọn dài 1,5-2 cm; mép lá có răng cạn,
thưa, xẻ gần hết toàn bộ lá; gân chính và gân bên lõm mặt trên, nổi mặt dưới,
12-13 cặp gân bên; cuống lá dài 0,8-1,1 cm, không lông.
Hoa 1-
3(4) ở nách lá hoặc đầu cành, đường kính 4,5-5 cm; cuống hoa 0,8-1 cm, không
lông. Lá bắc nhỏ 3-4, hình nêm hoặc elip, dài 2-4,5 mm, rộng 2-4 mm, hai mặt
không lông, rìa mép có lông, lá bắc nhỏ sớm rụng. Lá đài 5, hình gần tròn, cao
6-10 mm, rộng 7-11 mm, hai mặt không lông, lá đài tồn tại. Cánh hoa 11-13, màu
vàng, xếp xoắn ốc thành 2 vòng; vòng ngoài 4 - 5, hình elip, cao 1,4-1,9 cm,
rộng 1,3-1,5 cm, hai mặt không lông, gốc không dính nhau, sớm rụng; vòng trong 7
- 8, hình elip hoặc trứng ngược, cao 1,9-2,2 mm, rộng 1,3-1,4 cm, hai mặt không
lông, gốc dính nhau. Bầu hình trứng, 3 ô, cao 4-4,5 mm, rộng 4-5 mm, có lông;
vòi nhụy dài 8-9 mm, xẻ 3 đến ½, không lông. Nhị 290 - 340, 6-7 vòng, dài
1,3-1,4 cm, không lông, vòng nhị ngoài dính gốc thành dạng cốc, chiều cao dính
4-5mm và dính với gốc cánh hoa.
Vật
hậu: Hoa vào mùa đông và mùa xuân
Sinh thái: Trà mi thưởng được tìm thấy ở rừng thường xanh hỗn giao với tre nứa ở độ cao 500-800 so với mực nước biển.
Từ nguyên: Loài này được đặt tên kỷ niệm ông Lầu Quốc Thưởng - Công ty Kim Hoa Trà
Bài
báo được công bố trên tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt bằng tiếng Anh, Tập 6, số
3, 2016, Trang 338-344.
Ảnh:
Lương Văn Dũng










07:47
oneillhekhih6165








