Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

Thực hiện sản xuất hàng hoá “Không phá rừng” và thương mại thực tế


Mối đe dọa chính đến các cánh rừng nhiệt đới hiện nay không phải việc khai thác gỗ mà là từ việc phá rừng trên quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về hàng nông sản. Nhận thức được điều này, các chính phủ và doanh nghiệp trên toàn thế giới ngày càng cam kết chấm dứt nạn phá rừng từ các chuỗi cung ứng hàng hoá như vậy.


Nhưng nhiều quốc gia sản xuất hàng hóa có đặc điểm là năng lực quản lý rừng và sử dụng đất đai kém, và thường thì việc phá rừng vì mục đích nông nghiệp là bất hợp pháp. Việc không thể giải quyết các thách thức về quản lý rừng và sử dụng đất có thể làm cho các sáng kiến “không phá rừng” (zero-deforestation) ở các khu vực công cộng và tư nhân trở nên vô ích. 

Một mô hình giải quyết những thách thức này đã tồn tại. Từ năm 2003, Liên minh Châu Âu (EU) đã và đang thực hiện Kế hoạch Hành động về Luật Lâm nghiệp, Quản trị và Thương mại (FLEGT) để giải quyết việc khai thác gỗ bất hợp pháp. Trong khuôn khổ Kế hoạch Hành động, EU và các quốc gia xuất khẩu gỗ đàm phán và thực hiện các thỏa thuận thương mại được gọi là Hiệp định Đối tác Tự nguyện (VPAs) để cải thiện việc quản lý rừng cũng như thúc đẩy thương mại các sản phẩm gỗ hợp pháp đã được kiểm chứng.

Các tác giả trong một bài báo mới từ các cơ sở của FLEGT và REDD ở EU đã biện luận rằng cần phải đưa ra các bài học kinh nghiệm từ VPAs để có thể hỗ trợ các nỗ lực để xác định môi trường thuận lợi cho các bên liên quan mật thiết để làm cho sản xuất “không phá rừng” và thương mại thực tế liên quan.


Trên thực tế, kinh nghiệm cho thấy bằng cách kết nối các cải cách thương mại và tiếp cận thị trường, VPAs sẽ cung cấp nhiều động lực mạnh mẽ cho các nhà sản xuất hàng hóa để đáp ứng các nhu cầu đặt ra.

VPAs không giống như các giao dịch thương mại thông thường trong đó nội dung của chúng được thống nhất thông qua quá trình có sự tham gia của các phía đại diện của chính phủ, khu vực kinh tế tư nhân, xã hội dân sự và các nhóm liên quan khác. Kinh nghiệm cho thấy chất lượng tham gia trong các lĩnh vực như xác định tính hợp pháp và cơ chế kiểm tra thử nghiệm là một đóng góp quan trọng cho việc đàm phán và thực hiện thành công VPA. Đối thoại và hợp tác giữa các bên liên quan ở khu vực nhà nước và tư nhân ở các quốc gia sản xuất hàng hóa có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau, nhất trí và thực hiện có hiệu quả cam kết không phá rừng.

Các kinh nghiệm từ VPA cho thấy sự cần thiết xác định mục tiêu "Không phá rừng" ở cấp quốc gia hay các cấp có thẩm quyền khác cũng như làm rõ khung pháp lý và thể chế để các bên liên quan có thể hiểu được các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ.

Một yếu tố cần làm rõ là thông tin - về dòng chảy hàng hóa, việc tuân thủ pháp luật, chế độ quản lý .v.v. Hầu hết các chuỗi cung cấp sản phẩm còn thiếu các thông tin này. Đây cũng là một lỗ hổng có thể dẫn đến tham nhũng, tội phạm và xung đột giữa các cộng đồng và công ty.

VPA đề cập đến sự cần thiết phải minh bạch hơn thông qua việc cam kết các quốc gia đối tác công bố thông tin mà các bên liên quan cho là quan trọng. Việc thực hiện những cam kết này đã tăng cường trách nhiệm giải trình của nhà nước và tư nhân, một trong số đó là việc chia sẻ lợi ích với các cộng đồng sống dựa vào rừng và có khả năng giám sát rừng độc lập.

Các tác giả trong bài báo đó lưu ý không nên đánh giá thấp tính thực tế của việc giải quyết nạn phá rừng thông qua các chuỗi cung cấp sản phẩm. Họ cho rằng "Điều này đòi hỏi sự nhất trí xây dựng, hỗ trợ về mặt chính trị, phối hợp nhiều mặt và xây dựng năng lực". "Hơn nữa việc này đòi hỏi các chính phủ, doanh nghiệp, cộng đồng và xã hội dân sự tương tác và hỗ trợ lẫn nhau bằng những cách thức hoàn toàn mới".

Họ nói VPAs đưa ra những bài học quan trọng để thu hút các bên liên quan và cải thiện sự tham gia, tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và lập luận pháp lý.

Các quốc gia có thẩm quyền giải quyết vấn đề này và vượt qua những rào cản về quản lý rừng và sử dụng đất sẽ dẫn đầu về đảm bảo các nguồn đầu tư tư nhân cho mục đích chống phá rừng và cân bằng giữa sự phát triển và bền vững.

Dịch bởi Đào Công Anh
Source: http://www.euflegt.efi.int/publications/making-zero-deforestation-commodity-production-and-trade-a-reality

Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

Mọi người sợ hãi, kinh ngạc khi phát hiện ra loài cá Không có mặt!


Các nhà nghiên cứu Australia đã tìm thấy một loài cá trong một cuộc khám phá ở bờ biển Đông Úc, với ngoài hình kì lạ khi không có ... mặt. Mặc dù các nhà khoa học ban đầu nghĩ rằng sinh vật sống ở biển sâu này có thể là một loài mới, tuy nhiên những nghiên cứu sâu hơn đã chỉ ra con cá này có tên khoa học là Typhlonus naus, loài vốn đã phát hiện ra từ cách đây 140 năm.

Hình ảnh: John Pogonoski, Bộ sưu tập Cá CSIRO Quốc gia  Úc.

Đó là một con cá to, kì lạ, qoái dị vì không có mặt, có nghĩa là nó Không có mắt - Không có cái gì cả - thậm chí không có dấu hiệu có mắt ở da như các chấm nhỏ hoặc các điểm nhỏ hoặc các vùng da đổi màu. Con cá này bắt nguồn từ độ sâu 4000 mét dưới mặt biển, nơi có áp suất rất lớn, nhiệt độ chỉ 1°C, và cảnh quan đáy biển là khá hoang sơ!

Chuyên gia lươn John Pogonoski là người đầu tiên xác định ra tên loài cá này - Ảnh Asher Flatt 


Mọi người đều ngạc nhiên và bối rối!

"Chúng tôi nghĩ rằng chúng tôi đã vớ bở, đặc biệt là khi chúng tôi không biết đó là cái gì - một loại cá, chình, hay lươn. . . Mẫu mô ngay sau đó đã được gửi đi phân tích di truyền và hình ảnh được gửi qua email cho các chuyên gia phân tích về con cá lạ. Chúng tôi thậm chí đã nghĩ rằng nó sẽ là một loài mới cho khoa học" - Dianne Bray viết trên blog của Chương trình Khoa học Môi trường Quốc gia (nespmarine.edu.au)



Cho đến khi một đồng nghiệp của Dianne Bray và là chuyên gia về lươn, John Pogonoski, thuộc Bộ sưu tập Cá CSIRO Úc, tìm thấy một loài tương tự trong các ấn phẩm khoa học. Đó là một loài cá chình với tên khoa học Typhlonus nasus. Từ Typhlonus có lẽ bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp, typhlos (= mù) và onos (= cá tuyết) - một loài cá tuyết cá mù! Họ đã gọi loài cá này là Cá tuyết không mặt (Faceless Cusk)

Faceless Cusk. Image: John Pogonoski, CSIRO Australian National Fish Collection
Vì vậy, nó không phải là một loài mới, nhưng nó vẫn là một sự khám phá vô cùng thú vị, và họ nghĩ rằng đó là con cá lớn nhất của loài này được thấy cho đến nay. Mặc dù rất ít người biết về loài cá lạ lùng này, chúng không có mặt, nhưng có miệng, và có mắt - chúng có mắt rất nhỏ ẩn ở dưới da. 

Phần đầu cá chỉ có miệng và không có mặt. Hình ảnh: Dianne Bray và John Pogonoski

Mặc dù hiếm, nó phân bố khá rộng rãi, và được biết đến từ vùng biển Ả Rập, Indonesia, Papua New Guinea, Nhật Bản và Hawaii - chúng sống ở độ sâu từ 4000 đến 5000 mét. 



Typhlonus nasus lần đầu tiên được thu thập vào ngày 25 Tháng 8 năm 1874, ở độ sâu 2440 sải (=1,84m) trên vùng biển Coral, ngay bên ngoài khu vực bây giờ là Khu Kinh tế Đặc biệt của Úc. Việc phát hiện ra loài cá này ở thời điểm đó là một kỳ tích, bởi vì với công nghệ không hiện đại như ngày nay mà khảo sát vùng biển ở độ sâu hơn 4000 là một điều vô cùng khó khăn. Đó chính là cuộc viễn chinh hải dương vòng quanh thế giới đầu tiên trong lịch sử trên con tàu huyền thoại HMS Challenger.

Xem clip về con cá này 

Theo: https://www.nespmarine.edu.au/faceless-fish-looks-happier-and-heartier-it-did-1887

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Kinh doanh trong sự Tuyệt chủng: Buôn bán vật nuôi đang giết chết nhiều loài động vật như thế nào



Suy giảm đa dạng sinh học toàn cầu không chỉ là kết quả từ sự phá hủy môi trường sống tự nhiên, hay thậm chí săn bắn các loài động vật làm thức ăn. Một số lượng lớn các loài đang bị đe dọa là do buôn bán vật nuôi – ở cả hai trường hợp dạng sống như vật nuôi cảnh hay để trưng bày, hoặc bị giết chết vì giá trị sử dụng trong các loại thuốc.


Mặc dù mọi người ngày càng nhận thức được mối đe dọa của việc buôn bán các loài có giá trị cao như ngà voi, và các động vật khác như hổ, tê giác, và tê tê trong y học, ít người nhận ra rủi ro do buôn bán vật nuôi gây ra đối với tương lai sống còn của nhiều loài chưa được biết đến rộng rãi.

Tham quan một vườn thú hay một cửa hàng bán vật nuôi, bạn có thể thấy được rằng những con bò sát hay lưỡng cư trong cửa hàng đang được chăm sóc trong điều kiện nuôi nhốt. Nhưng rất nhiều trong số các con vật này được nhập khẩu về đây khi còn sống. Trên thực tế 92% của 500.000 chuyến hàng động vật sống trong giai đoạn 2000-2006 tới Hoa Kỳ (tương đương 1.480.000 con vật) là cho mục đích buôn bán vật nuôi và 69% trong số đó có nguồn gốc từ Đông Nam Á.

Việc buôn bán này là hợp pháp?

Rất nhiều vườn thú, hồ cá cảnh và các nhà buôn bán vật nuôi ban đầu đều là các nhà nhân giống có chứng chỉ ở nhiều nơi trên Thế giới (đặc biệt là ở Đông Nam Á và Nam Mỹ) nhằm cung cấp nguồn vật nuôi và phục vụ mục đích triển lãm. Tuy nhiên số vật nuôi bây giờ được đem ra triển lãm chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số các con vật thực tế đang bị nuôi nhốt. Phần lớn vật nuôi được săn bắt từ thiên nhiên và được chuyển qua dạng hợp pháp

Một trong những loài như vậy là Tắc kè (Gecko gecko), trong trường hợp loài này ở Indonesia có thể xuất khẩu hợp pháp đến 3 triệu cá thể sống hàng năm (theo công ước CITES quy định về hạn ngạch xuất khẩu hợp pháp của tất cả các loài có giá trị thương mại quốc tế) và thêm hơn 1,2 triệu mẫu khô có giá trị về mặt dược liệu.

Tắc kè - Jonathan Searle/Reuters
Tuy nhiên việc nhân giống 3 triệu cá thể tắc kè đòi hỏi ít nhất 420.000 cá thể cái và 42.000 cá thể đực; 90.000 thùng ấp trứng và 336.000 lồng nuôi; thêm vào đó là thức ăn và hàng trăm nhân viên phục vụ. Tất cả các chi phí bỏ ra cần được bù đắp với mưc giá bán ra dưới 1,90 dollar/ 1 con tắc kè, và đó là chưa đề cập đến tỉ lệ chết và thêm 1,2 triệu con được bán ra dưới dạng khô. Do đó, phần lớn nguồn tắc kè vẫn được săn bắt ngoài tự nhiên.

Tình trạng này cũng đúng cho ước tính khoảng 160 loài bò sát. Khoảng 80% số lượng loài Trăn cây Indonesia ( Morelia viridis) (hơn 5.337 cá thể hàng năm) ước tính bị xuất khẩu bất hợp pháp, và hầu hết toàn bộ quần thể loài rùa Palawan đã bị đánh bắt bởi một nhóm duy nhất để xuất khẩu trong khu vực. Bởi vì các nhà sưu tầm có nhu cầu tìm kiếm các loài mới và quý hiếm. Toàn bộ các quần thể có thể bị khai thác thông qua sử dụng thông tin từ các công bố khoa học đề cập tới các loài động vật ngay khi chúng đã được mô tả. Ít nhất 21 loài bò sát đã trở thành mục tiêu theo cách này và các quần thể trong tự nhiên có thể đứng bên bờ vực tuyệt chủng sớm sau khi khi chúng được phát hiện ra và đó là 1 thực tế. Các viện nghiên cứu đã bắt đầu di dời vị trí chính xác của các loài mới ra khỏi các công bố của họ để ngăn chặn tình trạng này.

Nhu cầu sưu tầm đã đưa một số loài đến nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên, bao gồm loài tắc kè hổ Trung quốc (Goniuorosaurus luii) và rất nhiều loài tắc kè khác chỉ được biết đến bởi các nhà sưu tầm và các nhà khoa học. Tuy những loài này tuyệt chủng trong tự nhiên, mức độ cực kì nguy cấp và khó phân loại lại dễ dàng có sẵn trong tay những kẻ buôn bán vô đạo đức tại Mỹ và Châu Âu, thông qua Internet hay các hội chợ đen. Những mối đe dọa này đặc biệt nguy hiểm với bất kì loài bò sát nào mới được mô tả, đặc biệt là các loài bò sát đến từ Châu Á hay New Zealand , Madagascar.

Đối với phần lớn các loài này, buôn bán hợp pháp chẳng bao giờ được cấp phép quốc tế; tất cả các con vật có sẵn đều đến từ hàng hóa bất hợp pháp, và có thể tương đương với quần thể trên toàn cầu đối với một số loài.
Trăn cây - Claro Cortes/Reuters

Một ước tính cho thấy 50% số bò sát còn sống xuất khẩu là thông qua bẫy bắt trong tự nhiên bất chấp thực tế là chưa tới một nửa trong tổng số 10.272 loài bò sát được mô tả hiện nay còn trong tự nhiên được đánh giá nằm trong tình trạng bảo tồn.

Chỉ khoảng dưới 8% các loài buôn bán thương mại được kiểm soát để ưu tiên phát triển, nhưng các hạn ngạch hay các hướng dẫn quản lý gần như không có

Tuy nhiên tình trạng khai thác này không chỉ giới hạn đối với các loài bò sát hay lưỡng cư. Bất kì loài nào cũng có thể rơi vào bẫy của những tay sưu tầm, đối với các loài linh trưởng, và các loài lan hay chim đều chịu chung số phận. Hơn 212 loài lưỡng cư đã bị khai thác quá mức đã được phân loại cho đến nay, với ít nhất 290 loài đã trở thành mục tiêu cho buôn bán vật nuôi quốc tế.

Nhiều cuộc điều tra tại Thailand cho thấy có hơn 347 loài phong lan được buôn bán chỉ trong một chợ. Những loài này đến từ khắp các khu vực và bao gồm cả những loài chưa được mô tả, cũng như các loài được vận chuyển trái phép vào Thailand 

Những loài này chịu chung số phận với các loài bò sát, với nhiều khám phá mới được khai thác từ thị trường này, thỉnh thoảng được khuyến khích bởi các nhà nghiên cứu. Chúng rất dễ dàng có sẵn qua Internet, kết quả là sự tuyệt chủng của các loài này có thể chỉ dựa riêng vào hoạt động buôn bán và những mối đe doạ do thương mại này gây ra bị từ chối chấp nhận.

Nhiều loài chim bị đe doạ tuyệt chủng do bị buôn bán làm vật nuôi - James Akena/Reuters

Rất nhiều loài chim cũng chịu mối đe dọa tuyệt chủng hàng loạt từ các hoạt động buôn bán vật nuôi. Các loài này bao gồm hàng ngàn loài chim tại Nam Mỹ, và một ước tính cho thấy có tới 3,33 triệu cá thể chim bị buôn bán hàng năm tại Đông Nam Á (1,3 triệu cá thể chỉ tính riêng tại Indonesia)

Áp lực lên các loài chim lại Indonesia nghiêm trọng đến mức mà chỉ trong 1 ngày tại 1 chợ đã có hơn 16.160 cá thể chim thuộc 206 loài ghi nhận được bán ra, chiếm tới 98% tất cả các loài chim bản địa của Indonesia, và 20% trong số đó là đặc hữu.

Các loài cá cũng có số liệu thống kê tương tự. Hơn 98% trong số chúng tại các hồ cá cảnh được đánh bắt từ các rạn san hô tự nhiên và đối mặt với tỉ lệ chết 98% trong một năm. Do đó, các quần thể cá trong tự nhiên, như loài cá Hề , đã suy giảm tới 75% quần thể.

Ai sẽ chịu trách nhiệm ?

Buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp là hoạt động buôn bán lớn thứ tư trên toàn cầu, có giá trị khoảng 20 tỉ dollars hàng năm. Một nửa trong đó đến từ Đông Nam Á.

Không giống với các hoạt động buôn bán bất hợp pháp khác, rất nhiều hoạt động buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp không bị che dấu trong những trang Web đen. Tính thực thi pháp luật thường rất lỏng lẻo cho phép những kẻ buôn bán các loài động thực vật có thể hoạt động công khai và ít lo sợ bị trừng phạt.

Đạo luật Lacey tại Mỹ cấm việc nhập khẩu các sinh vật sống từ các nước có loài này là bản địa, nhằm mục đích ngăn chặn sự qua mặt buôn bán động vật hoang dã. Nhưng ở Châu Âu chưa có các đạo luật tương tự, điều đó cung cấp một cầu nối đến điểm cuối của hoạt động thương mại.

Những quần thể cá tự nhiên, ví du như cá hề đã bị suy giảm 70% - Pichi Chuang/Reuters

Phần lớn nhu cầu về các loài này, và đặc biệt là các loài quý hiếm đến từ các nhà sưu tập Châu Âu và Bắc Mỹ. Tuy nhiên, chỉ một phần nhỏ của trong quá trình buôn bán này được quy định (2% buôn bán quốc tế đối với động vật lưỡng cư, và 10% đối với buôn bán bò sát trên toàn cầu), những hành động khẩn cấp là cần thiết để bảo vệ các loài dễ bị tổn thương khỏi quá trình tuyệt chủng.

Do nhiều loài bò sát, lưỡng cư và các loài lan chưa được liệt kê vào danh sách cần bảo vệ của CITES (do thiếu thông tin, hay chỉ mới được phát hiện gần đây) nên không có một quy định thực sự nào áp dụng được trong buôn bán động vật hoang dã. Và các nhân viên hải quan cũng không có khả năng phân biệt giữa một loài lan hay loài ếch thông thường hay quý hiếm. Vì vậy cần có những hạn chế đơn giản hơn để ngăn chặn mối nguy hại tiềm tàng gây ra bởi hoạt động buôn bán này.


Vô tội đến khi được chứng minh là có tội?

Các loài lan cũng bị suy giảm mạnh bởi các
 nhà sưu tập - Guillermo Granja/Reuters
Đối với nhiều loài không được phân loại theo tiêu chuẩn của CITES có lẽ những gì chúng ta cần làm là chỉ cho phép những loài đã được phân loại và được chứng nhận buôn bán trên thị trường. Điều đó có nghĩa rằng tất cả các mẫu không có chứng chỉ này sẽ không thể được vận chuyển quốc tế

Hiện tại việc theo dõi toàn bộ các nhóm buôn bán là rất khó khăn ngay cả đối với các tổ chức đảm nhận vị trí này, ví dụ như Tổ chức Hải quan Thế giới cũng không theo dõi được các hồ sơ về động vật lưỡng cư.

Rất nhiều loài tại Phương tây chỉ có thể đến thông qua các tuyến đường bất hợp pháp, thế nhưng việc tiêu thụ các loài này một lần nữa lại không hạn chế. Các hệ thống chứng nhận hay cung cấp chứng chỉ cần phải được tạo ra như một phần bắt buộc của việc bán bất kì đơn vị phân loại loài nào dễ bị tổn thương do khai khác. Với hình thức tịch thu vá áp dụng các mức xử phạt để hỗ trợ cho việc tuân thủ thực thi pháp luật

Các nhà sưu tập các loài động vật sống thường là những người có sở thích, vì vậy phần lớn trong số họ sẽ không có khả năng vượt qua một quãng đường dài để mua mẫu vật nếu mức độ thực thi pháp luật được thúc đẩy. Những hành động như vậy cũng cần được mở rộng để cuối cùng hạn chế việc buôn bán thông qua Internet đối với những loài hiện đang bị đe dọa.

Mặc dù nhiều cam kết đã được thực hiện bởi các Chính phủ Châu Âu nhằm hạn chế việc buôn bán động vật hoang dã trái phép, những nỗ lực này thường thất bại trong việc giải thích một số lượng lớn các loài đang có nguy cơ trở thành vật nuôi hay các mẫu tiêu bản sống. Do sự qua mặt và tham nhũng, nên cần thiết hạn chế nhập khẩu từ người tiêu dùng ở các quốc gia.

Nếu chúng ta muốn có tương lai tốt đẹp cho các quần thể động vật hoang dã, thì hành động quyết liệt là cần thiết để kiểm soát việc buôn bán quốc tế và buôn bán trong nước. Nếu không có những hành động như vậy, chúng ta sẽ có thể thấy được sự mất đi của nhiều loài quý hiếm chỉ vì lòng tham của loài người.
----------------------------------------
Tác giả: Alice Catherine Hughes, Associate Professor in Landscape Ecology & Conservation, Chinese Academy of Sciences
Bài gốc: Trading in extinction: how the pet trade is killing off many animal species
Dịch bởi: Đào Công Anh - Đại học Lâm Nghiệp, Xuân Mai, Hà Nội

Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

Phạm Hoàng Hộ - Giáo sư đầu ngành về thực vật Việt Nam đã qua đời

Pham Hoang Ho

GS. Phạm Hoàng Hộ, tác giả của công trình khoa học nổi tiếng "Cây Cỏ Việt Nam - An Illustrated Flora of Vietnam" đã qua đời lúc 10g30 tối ngày 29/1/2017 (mùng hai tết nguyên đán 2017) tại nhà riêng ở Montreal, Canada.
GS. Phạm Hoàng Hộ sinh ngày 3-8-1931 tại Cần Thơ, mất ngày 29-1-2017 tại Canada hưởng thọ 86 tuổi.

Cay co Viet nam

Ông là tác giả của nhiều công trình khoa học về thực vật nổi tiếng như:
- Cây cỏ miền nam Việt Nam 1960
- Rong Biển Việt Nam 1969
- Tảo Học 1972
- Sinh Học Thực Vật (in kỳ tư 1973)
- Hiển Hoa Bí tử ( in kỳ nhì 1975 )
- Cây Có Vị Thuốc Ở Việt Nam ( 2006)

Đặc biệt ông là tác giả bộ sách rất nổi tiếng mà bất kỳ ai quan tâm đến Hệ thực vật của Việt Nam bao gồm từ sinh viên, giáo viên đến các nhà nghiên cứu thực vật đều biết đó là bộ "Cây Cỏ Việt Nam - An Illustrated Flora of Vietnam" gồm 6 tập xuất bản năm 1991-1993, tái bản có sửa chữa 3 tập năm 1999-2003.

Đây là bộ sách mô tả tương đối chi tiết đi kèm hình vẽ minh hoạ của khoảng 10500 loài thực vật trên toàn đất nước Việt Nam. Có thể nói rằng đây là bộ Thực vật chí Việt Nam đầy đủ nhất cho đến thời điểm hiện tại.
Quý độc giả có thể tìm hiểu bộ sách tại đây: http://www.biodivn.com/2013/12/bo-sach-cay-co-viet-nam-phh.html

R.I.P 

Thứ Tư, 11 tháng 1, 2017

Võ Quý - Người cha của Bảo tồn thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đã qua đời

Vo Quy


Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Võ Quý sinh năm 1929 là nhà giáo, nhà sinh học Việt Nam đã qua đời sáng ngày 10/01/2017 hưởng thọ 87 tuổi.

Ông là người tiên phong và đạt nhiều thành tựu trong nghiên cứu bảo vệ môi trường. Ông là người đầu tiên của Châu Á được trao giải thưởng Hành tinh xanh của IUCN

Ông là một trong những người sáng lập Khoa sinh học, Đại học Tổng hợp Hà Nội và là Chủ nhiệm Khoa sinh học trong suốt 10 năm (1980-1990). 

Từ năm 1985, ông cùng các cộng sự sáng lập Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường trực thuộc Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội (nay là Viện Tài nguyên và Môi trường). Ông giữ chức vụ Giám đốc trung tâm trong 10 năm liền (1985 - 1995) và từ 1995 tới nay là Chủ tịch danh dự của Trung tâm.

Vo Quy
GS. Võ Quý (ở giữa) đang làm việc tại Vườn Quốc Gia Vũ Quang năm 1996

Ông đã là tác giả của 14 cuốn sách, tiêu biểu như: "Chim Việt Nam" (tập 1, 2), "Cuộc sống các loài chim", "Danh mục các loài chim Việt Nam"...; là dịch giả chính của nhiều cuốn sách về môi trường đồng thời cũng là tác giả của hơn 100 công trình khoa học đã công bố trong nước và quốc tế.

- Năm 1988: GS Võ Quý được tặng Huy chương vàng về thành tích bảo vệ động vật hoang dã và xây dựng khu bảo vệ thiên nhiên do Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Quốc tế (WWF) trao tặng.
- Năm 1992: GS là người Việt Nam đầu tiên và duy nhất cho đến ngày hôm nay nhận bằng Danh dự của Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc.
- Năm 1994: GS nhận huy chương của Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (IUCN) và giải thưởng hạng nhất của Đức về bảo vệ môi trường sinh thái.
- Năm 1995: Nhận giải thưởng về môi trường của Trường đại học Michigan (Mỹ).
- Năm 2003: Nhận phần thưởng "Hành tinh mau xanh" do IUCN trao tặng với những giải pháp cải tạo môi trường thế giới và dự báo về sự phát triển môi trường trong tương lai. Trị giá giải thưởng là 50 triệu yên, tương đương 6 tỷ đồng Việt Nam. Đây là một giải thưởng quốc tế lớn nhất về môi trường, có giá trị tương đương với giải thưởng Nobel (vì Nobel không có phần thưởng dành cho môi trường) được trao cho những cá nhân và tổ chức đã có thành tích nổi bật trong lĩnh vực này.
- Nhà giáo Nhân dân của Việt Nam.[Theo Wikipedia]

Link:1. https://www.nytimes.com/2017/01/11/world/asia/vietnam-vo-quy-dead.html?rref=collection%2Fsectioncollection%2Fobituaries&action=click&contentCollection=obituaries&region=stream&module=stream_unit&version=latest&contentPlacement=1&pgtype=sectionfront&_r=0
2. http://dantri.com.vn/su-kien/gs-vo-quy-nha-sinh-hoc-hang-dau-viet-nam-da-qua-doi-20170112091117605.htm
3. http://www.nhandan.com.vn/khoahoc/nhan-vat/item/31803602-giao-su-vo-quy-%E2%80%93-nha-bao-ton-thien-nhien-hang-dau-viet-nam-qua-doi.html

Thứ Ba, 10 tháng 1, 2017

Nghiên cứu bảo tồn thực vật ở Việt Nam

Mới đây truyền hình VTC10 trong trương trình NETVIET đã nói về công việc của một nhà nghiên cứu trẻ đang làm việc tại Viện Sinh thái va Tài nguyên Sinh vật - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Đây là chương trình phát sóng ở hơn 100 quốc gia và có phụ đề bằng tiếng Anh.
Video đã đề cập các vấn đề như nghiên cứu phân loại thực vật, tầm quan trọng của phòng lưu trữ tiêu bản khô, bảo tồn thực vật và nghiên cứu sinh học sinh sản.
The link below had showed a work of a researcher who is working on Botany including plant taxonomy, conservation and reproductive biology in Institute of Ecology and Biological Resource - Vietnam Academy of Science and Technology (English subtitle)





http://netvietvtc10.com/chuong-trinh/16552/pham-van-the-nhung-nghien-cuu-bao-ton-thuc-va
Copied link: https://youtu.be/2DZl72ZWUt8

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2016

Trà mi thưởng - Camellia thuongiana: Loài mới cho khoa học phát hiện ở Lâm Đồng

Camellia-thuongiana_9
Camellia thuongiana sp.nov(For English please see at the end!)
Các nhà thực vật là Lương Văn Dũng (ĐH Đà Lạt) và cộng sự vừa công bố một loài hoa trà mới cho khoa học phát hiện tại huyện Đạ Huoai tỉnh Lâm Đồng.

Anh Lương Văn Dũng hiện đang là nghiên cứu sinh và là người tâm huyết với nghiên cứu khoa học đặc biệt là Thực vật học. Anh đã có kinh nghiệm nhiều năm theo đuổi nghiên cứu các loài hoa Trà hoang dại của Việt Nam. Gần đây anh và đồng nghiệp cũng mới vừa công bố loài Đa tử trà lá nhỏ Polyspora microphylla mới cho thế giới, phân bố ở khu vực Hòn giao, Vườn Quốc gia Bidoup-Núi Bà

Trà mi thưởng - Camellia thuongiana Luong, Anna Le & Lau. 
Camellia-thuongiana_8
Mô tả:

Cây bụi, cao 3-5 m; chồi non màu nâu đỏ, có lông thưa, sau không lông. 

Lá hình bầu dục hoặc hình trứng thuôn, hơi cong, dài 9-17 cm, rộng 4-6,5 cm; gốc lá tù hoặc gần tròn, hơi lệch; đầu lá có đuôi nhọn dài 1,5-2 cm; mép lá có răng cạn, thưa, xẻ gần hết toàn bộ lá; gân chính và gân bên lõm mặt trên, nổi mặt dưới, 12-13 cặp gân bên; cuống lá dài 0,8-1,1 cm, không lông. 

Hoa 1- 3(4) ở nách lá hoặc đầu cành, đường kính 4,5-5 cm; cuống hoa 0,8-1 cm, không lông. Lá bắc nhỏ 3-4, hình nêm hoặc elip, dài 2-4,5 mm, rộng 2-4 mm, hai mặt không lông, rìa mép có lông, lá bắc nhỏ sớm rụng. Lá đài 5, hình gần tròn, cao 6-10 mm, rộng 7-11 mm, hai mặt không lông, lá đài tồn tại. Cánh hoa 11-13, màu vàng, xếp xoắn ốc thành 2 vòng; vòng ngoài 4 - 5, hình elip, cao 1,4-1,9 cm, rộng 1,3-1,5 cm, hai mặt không lông, gốc không dính nhau, sớm rụng; vòng trong 7 - 8, hình elip hoặc trứng ngược, cao 1,9-2,2 mm, rộng 1,3-1,4 cm, hai mặt không lông, gốc dính nhau. Bầu hình trứng, 3 ô, cao 4-4,5 mm, rộng 4-5 mm, có lông; vòi nhụy dài 8-9 mm, xẻ 3 đến ½, không lông. Nhị 290 - 340, 6-7 vòng, dài 1,3-1,4 cm, không lông, vòng nhị ngoài dính gốc thành dạng cốc, chiều cao dính 4-5mm và dính với gốc cánh hoa. 

Vật hậu: Hoa vào mùa đông và mùa xuân

Sinh thái: Trà mi thưởng được tìm thấy ở rừng thường xanh hỗn giao với tre nứa ở độ cao 500-800 so với mực nước biển.

Từ nguyên: Loài này được đặt tên kỷ niệm ông Lầu Quốc Thưởng - Công ty Kim Hoa Trà
Bài báo được công bố trên tạp chí khoa học Đại học Đà Lạt bằng tiếng Anh, Tập 6, số 3, 2016, Trang 338-344.
Ảnh: Lương Văn Dũng
Camellia-thuongiana_7
Camellia-thuongiana_6
Camellia-thuongiana_5
Camellia-thuongiana_4
Camellia-thuongiana_3
Camellia-thuongiana_2


Camellia-thuongiana_1