Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Loài rắn mới cho khoa học ở VQG Côn Đảo, Bà Rịa-Vũng Tàu

Oligodon condaoensis
Rắn Khiếm Côn Đảo Oligodon condaoensis ngoài tự nhiên


Các nhà khoa học Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Vườn Quốc gia Côn Đảo và Bảo tàng Hoàng gia Ontario, Canada vừa phát hiện và mô tả một loài rắn mới tại Vườn Quốc Gia Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. 
Loài rắn mới này được đặt tên là Rắn Khiếm côn đảo Oligodon condaoensis, theo địa danh thu mẫu để mô tả loài mới.

Loài rắn mới này có chiều dài trung bình khoảng 60 cm, màu đen hoặc có sọc mờ dọc theo thân, bụng trắng. Rắn Khiếm Côn Đảo là loài rắn không độc, hoạt động ban ngày. Đây là loài rắn đặc hữu có vùng phân bố rất hẹp ở Côn Đảo và cần được nghiên cứu bảo tồn trong thời gian tới.

Phát hiện mới này được đăng trên tạp chí chuyên ngành Zootaxa 4139(2): 261-273, 2016. Thông tin chi tiết về loài mới này có thể tham khảo tại website: http://www.mapress.com/j/zt/article/view/zootaxa.4139.2.9

Nguồn tin: Nguyễn Đăng Hoàng Vũ – Viện Sinh học nhiệt đới

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2016

Liparis honbaensis và chi Nhẵn diệp ở Khu BTTN Hòn Bà

Liparis honbaensis
Hình thái ngoài của loài  mới Liparis honbaensis Aver. et Vuong
Các nhà thực vật Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Viện thực vật Komarov của Nga vừa phát hiện và mô tả một loài Nhẵn diệp mới thuộc họ Lan (Orchidaceae), đặt tên là Nhẵn diệp hòn bà Liparis honbaensis Aver. Et Vuong.


Liparis Rich. là một chi lớn thuộc họ Lan với khoảng 320 đến 350 loài phân bố từ vùng nhiệt đới, á nhiệt đới tới vùng ôn đới, nhưng đa dạng nhất là ở khu vực nhiệt đới châu Á. Ở Thái Lan chi này có 35 loài, Lào 13 loài, Trung Quốc 63 loài và Việt Nam có 55 loài.

Nhẵn diệp hòn bà có đặc điểm là Lan đa trục, mọc trên đá; giả hành mọc sát nhau, hình trứng. Lá 2, không cuống, đầu nhọn. Phát hoa mọc cùng với giả hành mới; hoa màu vàng xanh, nở rộng khoảng 4-5 mm chiều ngang, cuống dài 6-8 mm; môi hình trứng ngược, ở dưới gốc có 2 thể chai đôi, thấp không nhô cao, phần đầu của môi răng cưa, đầu bằng hay lõm vào trong.

Loài mới này có vùng phân bố hẹp, chỉ gặp từ độ cao 1400 đến 1450 m ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa, và được xem là loài đặc hữu cho Việt Nam.

Thêm vào đó, danh lục các loài thuộc chi Nhẵn diệp Liparis ở Hòn Bà cũng được đưa ra và giải quyết các vấn đề phân loại.

Loài mới này được bố trên tạp chí Turczaninowia 19 (2): 34–49 (2016).
http://turczaninowia.asu.ru/index.php/tur/article/view/1354/984

Nguồn tin: Trương Bá Vương – Viện Sinh học nhiệt đới



Xử lý tin: Thanh Hà

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2016

Phát hiện loài thực vật mới (Eustigma honbaense) ở Khánh Hoà

Eustigma honbaense 1
Ảnh mẫu tươi Chân thư hòn bà (Eustigma honbaense H.Toyama, Tagane & V.S.Dang) – Ảnh: TS. Hironori Toyama.

Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu giữa Viện Sinh học nhiệt đới thuộc Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam và Trung tâm Bảo tồn sinh thái châu Á thuộc Đại học Kyushu, Nhật Bản, các nhà khoa học đã phát hiện và mô tả một loài thực vật mới thuộc họ Kim mai (Hamamelidaceae) tại KBTTN Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa. Loài mới được đặt tên là Chân thư hòn bà (Eustigma honbaense H.Toyama, Tagane & V.S.Dang), theo địa danh “Hòn Bà” , nơi thu được mẫu vật.


Chi Chân thư (Eustigma Gardner & Champ.) là một chi nhỏ thuộc họ Kim mai (Hamamelidaceae) với khoảng 3 loài phân bố chủ yếu ở khu vực Đông Dương và Trung Quốc. Riêng ở Việt Nam chi này được ghi nhận chỉ có 1 loài là Eustigma balansae Oliv.

Loài Chân thư hòn bà (Eustigma honbaense H.Toyama, Tagane & V.S.Dang) có đặc điểm là Cây gỗ lớn, cao 8–10 m. Lá hình elíp đến thuôn, kích thước 6,5–21,5 x 2,2–8,5 cm; gốc tù đến hình nêm, đầu có mũi nhọn đến tròn; bìa nguyên. Cụm hoa dạng chùm mọc ở ngọn hay nách lá, dài 5–10,3 cm. Quả nang, dạng hình trứng hay hình cầu, dài 12–16 mm, đường kính 9–10 mm; hạt 2, dạng trứng hẹp, kích thước 10 x 4,5 mm.

Chân thư hòn bà mới chỉ tìm thấy ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Hòn Bà, tỉnh Khánh Hòa, với 3 cá thể mọc dọc theo suối của rừng cây lá rộng thường xanh, ở độ cao khoảng 400 m so với mặt nước biển.

Loài mới này được công bố trong bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, số 65, trang 47–55, ngày 16/06/2016. Thông tin chi tiết có thể xem tại http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=6726

Cũng trong chương trình hợp tác nói trên, các nhà khoa học đã phát hiện được 3 loài khác ở Khu BTTN Hòn Bà là Giác đế hòn bà (Goniothalamus flagellistylus Tagane & V.S.Dang), Tai nghé hòn bà (Aporosa tetragona Tagane & V.S.Dang) và Xú hương Yahara (Lasianthus yaharae V.S.Dang, Tagane & H.Tran).

Nguồn tin: Đặng Văn Sơn – Viện Sinh học nhiệt đới

Thứ Năm, 18 tháng 8, 2016

Phát hiện loài Dẻ đá mới tại Đạ Huoai, Lâm Đồng: Lithocarpus dahuoaiensis

Dẻ đá đạ huoai (Lithocarpus dahuoaiensis Ngoc & L. V. Dung) - là loài thực thực vật mới cho khoa học vừa được phát hiện tại huyện Đạ Huoai, tỉnh Lâm Đồng.

Trong khuôn khổ hợp tác giữa trường Đại học Đà Lạt và trường Đại học Kyushu Nhật Bản về điều tra đa dạng thực vật theo đai cao ở Việt Nam, các nhà khoa học đã phát hiện một loài thực vật mới thuộc họ Dẻ (Fagaceae) và đặt tên là Lithocarpus dahuoaiensis Ngoc & L. V. Dung – Dẻ đá đạ huoai. 


Loài Dẻ mới được đặt tên theo tên của huyện Đạ Huoai – Lâm Đồng, nơi đầu tiên các nhà khoa học phát hiện và thu mẫu loài thực vật này. Loài mới sau đó cũng được phát hiện có phân bố tại khu bảo tồn thiên nhiên văn hoá tỉnh Đồng Nai. 
Lithocarpus dahuoaiensis1
Bản ảnh minh hoạ loài Dẻ đá đạ huoai. Ảnh Hoàng Văn Sơn et al.

Dẻ Đá Đạ Huoai là cây gỗ lớn (30-35m) trong kiểu rừng kín thường xanh, có giá trị kinh tế, hạt có thể ăn hoặc làm thức ăn gia súc. 

Loài dẻ này có đặc điểm hình thái gần giống với loài Lithocarpus macphailii (M.R.Hend.) Barnett và loài Lithocarpus encleisocarpus (Korth.) A. Camus nhưng khác ở các đặc điểm như đấu không bao trọn hạt (chỉ khoảng ½ - 2/3 hạt), kích thước lá lớn hơn, đặc điểm hình thái của lá, số cặp gân thứ cấp, hình thái quả đấu,….
Lithocarpus dahuoaiensis2
Bản vẽ minh hoạ loài Dẻ đá đạ huoai. Ảnh Hoàng Văn Sơn et al.

Trạng thái bảo tồn của loài này được đánh giá là thiếu dữ liệu (Data deficient – DD), nhóm nghiên cứu mới chỉ phát hiện một vài cá thể dọc theo quốc lộ 20, đoạn qua huyện Đạ Huoai và trong khu bảo tồn thiên nhiên văn hoá Đồng Nai,cần phải có những nghiên cứu tiếp theo để xác định chính xác kích thước quần thể của loài ở ngoài tự nhiên để có các biện pháp bảo tồn phù hợp.

Loài mới được mô tả và công bố trên tạp chí chuyên ngành Phytokeys, chi tiết tại: http://phytokeys.pensoft.net/articles.php?id=9821

Nguyễn Văn Ngọc - Khoa Sinh Học, Trường Đại học Đà Lạt

Hoàng Thanh Sơn - Viện Nghiên cứu Lâm Sinh, Hà Nội

Thứ Sáu, 8 tháng 7, 2016

Giác đề bân (Goniothalamus banii): Loài thực vật mới cho thế giới từ Thanh Hoá

Giác đế bân
Hoa loài  Giác đế bân - Ảnh Trịnh Ngọc Bon
Các nhà nghiên cứu thực vật của Việt Nam và Ấn Độ vừa công bố một loài thực vật mới cho thế giới được phát hiện từ Thanh Hoá.

Loài thực vật mới được đặt tên là Giác đế bân Goniothalamus banii thuộc họ Na Annonaceae


Đây là một loài cây bụi nhỏ, cao đến 4 m, thân có 3-4 cạnh dọc thân, không phân cành, tất cả các bộ phận đều có mùi thơm. 

Giác đế bân 2
Cây mang lá loài Giác đế bân - Ảnh Phạm Văn Thế
Lá đơn, mọc cách, thuôn dài, 30-50 (80) cm, rộng 5-12 (20) cm, nhẵn cả hai mặt, có mũi dài 1-2 cm, đáy tròn, gân bên 22-30 (35) cặp, lõm mặt trên, nổi rõ ở mặt dưới, cuống lá dài 1-2 cm, không lông. 
Giác đế bân  3
Quả loài Giác đế bân - Ảnh Trịnh Ngọc Bon
Cụm hoa xim ở nách lá già, hoặc ở những nách đã rụng, mang 1-3 hoa, rất thơm, cuống 2-6 mm; lá bắc 3 cái, hình trứng rộng, 3-5x1-2 mm. 
3 lá đài trong, màu xanh, hình tam giác, 15x8 mm, lông rải rác ở hai mặt, 3 cánh hoa ngoài, hình mác , màu vàng hoặc đỏ mặt trong, mặt ngoài màu xanh, 30-50 x 5-6 mm, có lông thư hai mặt. 3 cánh hoa bên trong, hình trứng đến hình tam giác, 10-20(30)x4-5mm, màu hồng, có lông rải rác. 

Nhị hoa 80-85 cái, hình chữ nhật hoặc trụ, cao 3mm, bao phấn có những ô nhỏ, có cơ để mở, đỉnh tròn. Bộ nhụy với lá noãn rời, có lông mềm, mỗi lá noãn chứa 1-2 noãn, noán hình bầu dục hay hình chữ nhật. 

Giác đế bân 4
Quả loài Giác đế bân - Ảnh Trịnh Ngọc Bon
Tên loài thực vật này được đặt theo tên của cố GS.TSKH Nguyễn Tiến Bân. Chúng được phát hiện dưới tán rừng thường xanh phục hồi mưa mùa nhiệt đới ở đất thấp thuộc Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên Thanh Hoá

Chi tiết bài báo được công bố trên tạp chí chuyên ngành Thực vật Nordic của Thuỵ Điển. 



http://www.nordicjbotany.org/accepted-article/goniothalamus-banii-sp-nov-annonaceace-new-species-thanh-hoa-vietnam
Giác đế bân 5
Cành mang hoa loài Giác đế bân - Ảnh Trịnh Ngọc Bon
Bài viết bởi Trịnh Ngọc Bon

Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

Những loài cá biển quý, hiếm ở miền Trung Việt Nam

Đây là những loài cá quý, hiếm đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, chúng có phân bố ở một số tỉnh Miền Trung, và có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thảm hoạ ô nhiễm môi trường biển. Chúng là những loại có tình trạng bảo tồn từ Rất nguy cấp, đến Bị đe doạ tuyệt chủng trong tương lai gần.

Chúng được pháp luật Việt Nam bảo vệ, nghiêm cấm đánh bắt ngoài tự nhiên, nghiêm cấm sử dụng các hình thức mang tính diệt chủng như sử dụng CHẤT ĐỘC, phá huỷ môi trường sống. 

Ngoài những biện pháp bảo vệ như trên, chúng ta cần tăng cường giáo dục thiên nhiên, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cộng động, để bảo tồn những tài nguyên thiên nhiên biển vô cùng tươi đẹp và giá trị mà cha ông ta đã gìn giữ bao đời nay.

CÁ BỐNG BỚP - BOSTRICHTHYS SINENSIS 

Phân hạng: RẤT NGUY CẤP - CR A1a,c,d E.


cá bống bớp
Theo http://tepbac.com/
Đây là loài cá quý cổ truyền của Việt Nam và đứng đầu danh sách các loài hải sản tươi sống xuất khẩu. Thịt thơm ngon, thành phần dinh dưỡng trong thịt cao nhất so với các loại cá biển khác: lipit 12,1% (gấp khoảng 10 lần cá khác), protit 18,5% (tính theo trọng lượng thịt không có xương).

Ca bong bop
Theo SĐVN 2007
Thức ăn chủ yếu của chúng là động vật giáp xác và cá con. Sống trong các bãi triều, cửa sông, đầm nước lợ, chất đáy là bùn cát hoặc bùn phù sa. Cá trưởng thành luôn sống trong hang, lỗ ở các bãi triều, bờ đê ngập nước, chỉ ra ngoài khi sinh sản hoặc kiếm ăn.

Do cường độ săn bắt như hiện nay và các hiện tượng khoanh bãi triều đắp đầm ao nuôi hải sản phá huỷ nơi cư trú và môi trường ven biển bị ô nhiễm, dự đoán số lượng cá thể ngoài tự nhiên sẽ giảm đi ít nhất 50% trong vòng 10 - 15 năm tới. 

Chúng có ở Tây vịnh Bắc Bộ bao gồm cả Thanh Hoá và Hà Tĩnh

Đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007. Cần nghiêm cấm triệt để việc đánh bắt loài này ngoài tự nhiên. Mặt khác cần hạn chế việc chặt phá sú vẹt, khoanh vùng đắp đầm ao bừa bãi trong các bãi triều cửa sông. Các cơ sở nghiên cứu cần tiếp tục nuôi cho cá đẻ nhân tạo để bổ sung giống vào môi trường tự nhiên.

CÁ NHÁM NHU MỲ - STEGOSTOMA FASCIATUM 

Phân hạng: NGUY CẤP - EN A1d C2a. 

CÁ NHÁM NHU MỲ
Theo http://www.julianrocks.net/
Chúng là loài cá sụn có thân hình lớn, sống đáy, bơi lội chậm chạp nên thường bị mắc vào lưới giã đáy trong vùng biển nông. Dự đoán số lượng quần thể có khoảng 2500 cá thể trưởng thành; do sống phân tán nên mỗi tiểu quần thể có khoảng 250 cá thể. Với cường độ đánh bắt ngày càng tăng như hiện nay (kể cả các biện pháp dùng thuốc nổ và CHẤT ĐỘC) sẽ dẫn đến giảm số lượng là điều không thể tránh khỏi.
CÁ NHÁM NHU MỲ
Theo SĐVN 2007

Thức ăn của loài này là động vật thân mềm và giáp xác. Cá nhám nhu mì sống sát đáy, bơi lội chậm chạp. Phân bố rộng trong các vùng biển ấm, thường vào vùng gần bờ và ven đảo trong mùa sinh sản hoặc kiếm ăn. 

Ở Việt Nam, chúng phân bố có ở Đông Nam vịnh Bắc Bộ (và một số khu vực khác). 
Đây là loài có giá trị cao như thịt làm thực phẩm, gan lấy dầu để sản xuất dầu cá. Dầu gan cá được coi như một poly vitamin.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản


CÁ GIỐNG MÕM TRÒN, CÁ GIỐNG, CÁ ĐUỐI LƯỠI CÀY - RHINA ANCYLOSTOMA

Phân hạng: NGUY CẤP - EN A1a,d C2a.

CÁ ĐUỐI LƯỠI CÀY -
Theo https://wikimedia.org/
Theo SĐVN 2007
Do sống sát đáy và bơi lội chậm chạp nên dễ bị lưới đáy quét được, thường gặp nhưng số lượng không nhiều, dự đoán quần thể trong toàn vùng biển có dưới 2500 cá thể trưởng thành và mỗi tiểu quần thể ít hơn 250 cá thể. Thức ăn là động vật giáp xác và thân mềm. 

Ở Việt Nam chúng phân bố có ở Đông Nam Vịnh Bắc Bộ (và một số khu vực khác)

Là loài có giá trị thực phẩm cao như thịt ăn tươi hoặc đóng hộp, gan lấy dầu sản xuất dầu cá. Là nguồn gen quý hiếm, vật mẫu hấp dẫn du khách trong các bảo tàng biển.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản

CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN - CHANOS CHANOS 

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A2d.

CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN
Theo http://fishesofaustralia.net.au/
CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN
Theo SĐVN 2007
Là loài có giá trị thực phẩm, thịt cá tươi rất thơm ngon, được ưa chuộng ở trong nước và nước ngoài. Là đối tượng nuôi ở các đầm phá ven biển miền Trung từ Quảng Trị đến Bình Thuận. Thức ăn của cá chủ yếu là rong lam kết thành khối nổi trên mặt nước và mùn bã hữu cơ.

Mặc dù Cá măng biển đẻ nhiều nhưng mức độ tử vong cao ở giai đoạn phôi và cá con, do cường độ đánh vớt cá con rất lớn ở các vùng ven biển trong các đầm phá và tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng ở vùng biển gần bờ. Do đó các thành phẩm trong các đầm nuôi rất ít. Dự đoán số lượng trong 10 năm tới giảm ít nhất 20%.

Chúng phân bố dọc ven biển từ Nghệ An đến Bình Thuận. 

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA - TRACHYRHAMPHUS SERRATUS

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A1c,d C1+2a.

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA
Theo http://knowledge.taibif.tw/

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA -
Theo SĐVN 2007
Là loài cá có thân hình nhỏ, số lượng ít, phân tán, sống ở vùng nước nông gần bờ, nơi cư trú có nhiều rong, cỏ và hẹ biển. Phân bố rải rác từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.

Cá chìa vôi mõm răng cưa là dược liệu quý trong đông y. Cá chìa vôi khô dùng điều chế thuốc bổ thận, tráng dương, đau lưng, nhức xương, mỏi mệt và xuất khẩu. Có thể nuôi làm cá cảnh.

Do sự săn bắt ráo riết và sự khai thác hải sản bằng thuốc nổ và CHẤT ĐỘC đã phá huỷ môi trường sinh thái và gây ô nhiễm dẫn đến giảm số lượng và nơi cư trú. Dự đoán quần thể có ít hơn 10.000 cá thể trưởng thành và mức giảm ít nhất 10%.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007. Cấm triệt để việc khai thác hải sản bằng chất nổ và CHẤT ĐỘC.

CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI - EPINEPHELUS TAUVINA 

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A1c,d B2c,e

CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI
Theo http://arkive.org/
CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI
Theo SĐVN 2007
Cá song mỡ là một trong những loài cá đáy có giá trị kinh tế cao, hiện nay đã trở thành đối tượng nuôi quan trọng ở khu vực Đông Nam Á. Ăn tươi, thịt ngon được nhiều người ưa chuộng, giá thị trường khá cao. Chúng phân bố ở các tỉnh ven biển Việt Nam từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.

Do công nghệ sản xuất giống Cá song mỡ rất khó, trong khi nuôi Cá song mỡ ngày càng phát triển mạnh trong mấy năm qua, ngư dân đã dùng nhiều hình thức khai thác không hợp lệ, nguồn lợi Cá song ngày càng khan hiếm, cạn kiệt. Dự đoán số lượng giảm > 20%, hiện còn khoảng > 2500 cá thể trưởng thành.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản. Đề xuất khu vực cấm và hạn chế đánh bắt quanh năm và có thời hạn. Cần giảm cường độ khai thác, đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất con giống bằng biện pháp nhân tạo.

CÁ CỜ MẶT TRĂNG - VELIFER HYPSELOPTERUS 

Phân hạng: THIẾU DẪN LIỆU - DD

CÁ CỜ MẶT TRĂNG -
http://fishesofaustralia.net.au/
Là loài RẤT HIẾM, có ý nghĩa khoa học, không có giá trị thực phẩm. Ở Việt Nam chúng phân bố ở Vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ.

Cần giáo dục trong nhân dân ý thức bảo vệ loài cá hiếm này. Nếu bắt được cần thả ngay khi cá còn sống.

Hình theo SĐVN 2007

Tài liệu tham khảo SĐVN 2007

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

Cập nhật hệ thống phân loại của nhóm 'Angiosperm Phylogeny' đối với các bộ và các họ của thực vật có hoa: APG IV


An update of the Angiosperm Phylogeny Group classification for the orders and families of flowering plants: APG IV

The Angiosperm Phylogeny Group

First published: 24 March 2016

Phiên bản cập nhật hệ thống phân loại của Angiosperm Phylogeny Group (APG) cho các bộ (orders) và các họ (families) của thực vật hạt kín (Angiosperms) đã được công bố. Theo đó, một số bộ mới được ghi nhận: Boraginales, Dilleniales, Icacinales, Metteniusiales và Vahliales. Như vậy, theo bản cập nhật này, số lượng bộ và họ trong hệ thống mới lần lượt là 64 và 416. APG đã đề xuất thêm vào hai nhánh (clade) lớn: superrosids và superasterids, mỗi nhánh này bao gồm các bộ mới được bổ sung, những bộ này chủ yếu thuộc các nhánh rosids (nhánh hoa hồng) và asterid (nhánh hoa cúc). Những họ có thể tạo nên những bộ mà chỉ bao gồm một họ (monofamilial) là Dasypogonaceae và Sabiaceae, thì phiên bản này hai bộ đơn họ là Arecales và Proteales. Hai họ thực vật ký sinh ở phiên bản cập nhật trước (APG III) có vị trí không chắc chắn thì nay được đặt như sau: Chenopodiaceae trong bộ Saxifragales và Apodanthaceae trong bộ Cucurbitales. Mặc dù có bằng chứng cho thấy một số họ được ghi nhận trong APG III không phải là đơn ngành, nhưng APG IV vẫn để vị trí bộ Dioscoreales và Santalales như APG III, APG IV cũng để lại một số chi trong bộ Lamiales không xác định vị trí cụ thể (ví dụ chi Peltanthera). Những thay đổi trong một nhóm họ và sự nghi nhận đều xuất phát từ những kết quả mới nhất đã công bố từ APG III, ngoại trừ một số thay đổi nhỏ là do những vấn đề về danh pháp, trong đó bao gồm thay tên họ Asphodelaceae từ tên Xanthorrhoeaceae (của bộ Asparagales), và lấy tên Francoaceae thay cho Melianthaceae (Geraniales); tuy nhiên, trong họ Francoaceae APG IV cũng bao gồm Bersamaceae, Ledocarpaceae, Rhynchothecaceae và Vivianiaceae. Những thay đổi khác đối với các họ là không nhiều và chủ yếu tập trung vào một số họ của nhánh lamiids, đặc biệt là họ cũ Icacinaceae mà từ lâu đã có vấn đề với một số chi chuyển sang một họ đơn ngành là Metteniusaceae, nhưng những thay đổi nhỏ trong một nhóm bao gồm họ Aristolochiaceae (hiện bao gồm cả Lactoridaceae và Hydnoraceae; của bộ Aristolochiales), Maundiaceae (đã được chuyển từ Juncaginaceae; Alismatales), Restionaceae (trong APG IV lại bao gồm Anarthriaceae và Centrolepidaceae; Poales), Buxaceae (APG IV gồm Haptanthaceae; Buxales), Paraceae (tách ra từ Euphorbiaceae; Malpighiales), sự ghi nhận họ Petenaeaceae (Huerteales), Kewaceae, Limeaceae, Macarthuriaceae và họ Microteaceae (đều của bộ Caryophyllales), Petiveriaceae tách ra từ Phytolaccaceae (Caryophyllales), những thay đổi trong thành phần chung của họ Ixonanthaceae và Irvingiaceae (với sự hoán đổi chi Allantospermum từ họ này sang họ khác trong bộ Malpighiales), chuyển họ Pakaraimaea (trước đây là họ Dipterocarpaceae) sang họ Cistaceae (Malvales), chuyển chi Borthwickia, Forchhammeria, Stixis and Tirania (tất cả những chi này trước đều thuộc họ Capparaceae) sang họ Resedaceae (Brassicales), họ Nyssaceae được tách từ họ Cornaceae (Cornales), những thay đổi trong thành phần của họ Gesneriaceae (chi Sanango được chuyển từ họ Loganiaceae) và họ Orobanchaceae (APG IV gồm họ Phrymaceae (tất cả những họ này đều thuộc bộ Lamiales).

Nguồn tin: http://onlinelibrary.wiley.com/enhanced/doi/10.1111/boj.12385/