Thứ Ba, 5 tháng 7, 2016

Những loài cá biển quý, hiếm ở miền Trung Việt Nam

Đây là những loài cá quý, hiếm đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, chúng có phân bố ở một số tỉnh Miền Trung, và có thể bị ảnh hưởng trực tiếp bởi thảm hoạ ô nhiễm môi trường biển. Chúng là những loại có tình trạng bảo tồn từ Rất nguy cấp, đến Bị đe doạ tuyệt chủng trong tương lai gần.

Chúng được pháp luật Việt Nam bảo vệ, nghiêm cấm đánh bắt ngoài tự nhiên, nghiêm cấm sử dụng các hình thức mang tính diệt chủng như sử dụng CHẤT ĐỘC, phá huỷ môi trường sống. 

Ngoài những biện pháp bảo vệ như trên, chúng ta cần tăng cường giáo dục thiên nhiên, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cộng động, để bảo tồn những tài nguyên thiên nhiên biển vô cùng tươi đẹp và giá trị mà cha ông ta đã gìn giữ bao đời nay.

CÁ BỐNG BỚP - BOSTRICHTHYS SINENSIS 

Phân hạng: RẤT NGUY CẤP - CR A1a,c,d E.


cá bống bớp
Theo http://tepbac.com/
Đây là loài cá quý cổ truyền của Việt Nam và đứng đầu danh sách các loài hải sản tươi sống xuất khẩu. Thịt thơm ngon, thành phần dinh dưỡng trong thịt cao nhất so với các loại cá biển khác: lipit 12,1% (gấp khoảng 10 lần cá khác), protit 18,5% (tính theo trọng lượng thịt không có xương).

Ca bong bop
Theo SĐVN 2007
Thức ăn chủ yếu của chúng là động vật giáp xác và cá con. Sống trong các bãi triều, cửa sông, đầm nước lợ, chất đáy là bùn cát hoặc bùn phù sa. Cá trưởng thành luôn sống trong hang, lỗ ở các bãi triều, bờ đê ngập nước, chỉ ra ngoài khi sinh sản hoặc kiếm ăn.

Do cường độ săn bắt như hiện nay và các hiện tượng khoanh bãi triều đắp đầm ao nuôi hải sản phá huỷ nơi cư trú và môi trường ven biển bị ô nhiễm, dự đoán số lượng cá thể ngoài tự nhiên sẽ giảm đi ít nhất 50% trong vòng 10 - 15 năm tới. 

Chúng có ở Tây vịnh Bắc Bộ bao gồm cả Thanh Hoá và Hà Tĩnh

Đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007. Cần nghiêm cấm triệt để việc đánh bắt loài này ngoài tự nhiên. Mặt khác cần hạn chế việc chặt phá sú vẹt, khoanh vùng đắp đầm ao bừa bãi trong các bãi triều cửa sông. Các cơ sở nghiên cứu cần tiếp tục nuôi cho cá đẻ nhân tạo để bổ sung giống vào môi trường tự nhiên.

CÁ NHÁM NHU MỲ - STEGOSTOMA FASCIATUM 

Phân hạng: NGUY CẤP - EN A1d C2a. 

CÁ NHÁM NHU MỲ
Theo http://www.julianrocks.net/
Chúng là loài cá sụn có thân hình lớn, sống đáy, bơi lội chậm chạp nên thường bị mắc vào lưới giã đáy trong vùng biển nông. Dự đoán số lượng quần thể có khoảng 2500 cá thể trưởng thành; do sống phân tán nên mỗi tiểu quần thể có khoảng 250 cá thể. Với cường độ đánh bắt ngày càng tăng như hiện nay (kể cả các biện pháp dùng thuốc nổ và CHẤT ĐỘC) sẽ dẫn đến giảm số lượng là điều không thể tránh khỏi.
CÁ NHÁM NHU MỲ
Theo SĐVN 2007

Thức ăn của loài này là động vật thân mềm và giáp xác. Cá nhám nhu mì sống sát đáy, bơi lội chậm chạp. Phân bố rộng trong các vùng biển ấm, thường vào vùng gần bờ và ven đảo trong mùa sinh sản hoặc kiếm ăn. 

Ở Việt Nam, chúng phân bố có ở Đông Nam vịnh Bắc Bộ (và một số khu vực khác). 
Đây là loài có giá trị cao như thịt làm thực phẩm, gan lấy dầu để sản xuất dầu cá. Dầu gan cá được coi như một poly vitamin.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản


CÁ GIỐNG MÕM TRÒN, CÁ GIỐNG, CÁ ĐUỐI LƯỠI CÀY - RHINA ANCYLOSTOMA

Phân hạng: NGUY CẤP - EN A1a,d C2a.

CÁ ĐUỐI LƯỠI CÀY -
Theo https://wikimedia.org/
Theo SĐVN 2007
Do sống sát đáy và bơi lội chậm chạp nên dễ bị lưới đáy quét được, thường gặp nhưng số lượng không nhiều, dự đoán quần thể trong toàn vùng biển có dưới 2500 cá thể trưởng thành và mỗi tiểu quần thể ít hơn 250 cá thể. Thức ăn là động vật giáp xác và thân mềm. 

Ở Việt Nam chúng phân bố có ở Đông Nam Vịnh Bắc Bộ (và một số khu vực khác)

Là loài có giá trị thực phẩm cao như thịt ăn tươi hoặc đóng hộp, gan lấy dầu sản xuất dầu cá. Là nguồn gen quý hiếm, vật mẫu hấp dẫn du khách trong các bảo tàng biển.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản

CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN - CHANOS CHANOS 

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A2d.

CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN
Theo http://fishesofaustralia.net.au/
CÁ MĂNG SỮA, CÁ MĂNG BIỂN
Theo SĐVN 2007
Là loài có giá trị thực phẩm, thịt cá tươi rất thơm ngon, được ưa chuộng ở trong nước và nước ngoài. Là đối tượng nuôi ở các đầm phá ven biển miền Trung từ Quảng Trị đến Bình Thuận. Thức ăn của cá chủ yếu là rong lam kết thành khối nổi trên mặt nước và mùn bã hữu cơ.

Mặc dù Cá măng biển đẻ nhiều nhưng mức độ tử vong cao ở giai đoạn phôi và cá con, do cường độ đánh vớt cá con rất lớn ở các vùng ven biển trong các đầm phá và tình trạng ô nhiễm ngày càng tăng ở vùng biển gần bờ. Do đó các thành phẩm trong các đầm nuôi rất ít. Dự đoán số lượng trong 10 năm tới giảm ít nhất 20%.

Chúng phân bố dọc ven biển từ Nghệ An đến Bình Thuận. 

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA - TRACHYRHAMPHUS SERRATUS

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A1c,d C1+2a.

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA
Theo http://knowledge.taibif.tw/

CÁ CHÌA VÔI MÕM RĂNG CƯA -
Theo SĐVN 2007
Là loài cá có thân hình nhỏ, số lượng ít, phân tán, sống ở vùng nước nông gần bờ, nơi cư trú có nhiều rong, cỏ và hẹ biển. Phân bố rải rác từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.

Cá chìa vôi mõm răng cưa là dược liệu quý trong đông y. Cá chìa vôi khô dùng điều chế thuốc bổ thận, tráng dương, đau lưng, nhức xương, mỏi mệt và xuất khẩu. Có thể nuôi làm cá cảnh.

Do sự săn bắt ráo riết và sự khai thác hải sản bằng thuốc nổ và CHẤT ĐỘC đã phá huỷ môi trường sinh thái và gây ô nhiễm dẫn đến giảm số lượng và nơi cư trú. Dự đoán quần thể có ít hơn 10.000 cá thể trưởng thành và mức giảm ít nhất 10%.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007. Cấm triệt để việc khai thác hải sản bằng chất nổ và CHẤT ĐỘC.

CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI - EPINEPHELUS TAUVINA 

Phân hạng: SẼ NGUY CẤP - VU A1c,d B2c,e

CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI
Theo http://arkive.org/
CÁ SONG MỠ, CÁ MÚ RUỒI
Theo SĐVN 2007
Cá song mỡ là một trong những loài cá đáy có giá trị kinh tế cao, hiện nay đã trở thành đối tượng nuôi quan trọng ở khu vực Đông Nam Á. Ăn tươi, thịt ngon được nhiều người ưa chuộng, giá thị trường khá cao. Chúng phân bố ở các tỉnh ven biển Việt Nam từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.

Do công nghệ sản xuất giống Cá song mỡ rất khó, trong khi nuôi Cá song mỡ ngày càng phát triển mạnh trong mấy năm qua, ngư dân đã dùng nhiều hình thức khai thác không hợp lệ, nguồn lợi Cá song ngày càng khan hiếm, cạn kiệt. Dự đoán số lượng giảm > 20%, hiện còn khoảng > 2500 cá thể trưởng thành.

Loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam 2007, cần đưa vào danh sách các loài cấm đánh bắt trong ngành thuỷ sản. Đề xuất khu vực cấm và hạn chế đánh bắt quanh năm và có thời hạn. Cần giảm cường độ khai thác, đẩy mạnh nghiên cứu sản xuất con giống bằng biện pháp nhân tạo.

CÁ CỜ MẶT TRĂNG - VELIFER HYPSELOPTERUS 

Phân hạng: THIẾU DẪN LIỆU - DD

CÁ CỜ MẶT TRĂNG -
http://fishesofaustralia.net.au/
Là loài RẤT HIẾM, có ý nghĩa khoa học, không có giá trị thực phẩm. Ở Việt Nam chúng phân bố ở Vịnh Bắc Bộ, Trung Bộ.

Cần giáo dục trong nhân dân ý thức bảo vệ loài cá hiếm này. Nếu bắt được cần thả ngay khi cá còn sống.

Hình theo SĐVN 2007

Tài liệu tham khảo SĐVN 2007

Thứ Sáu, 3 tháng 6, 2016

Cập nhật hệ thống phân loại của nhóm 'Angiosperm Phylogeny' đối với các bộ và các họ của thực vật có hoa: APG IV


An update of the Angiosperm Phylogeny Group classification for the orders and families of flowering plants: APG IV

The Angiosperm Phylogeny Group

First published: 24 March 2016

Phiên bản cập nhật hệ thống phân loại của Angiosperm Phylogeny Group (APG) cho các bộ (orders) và các họ (families) của thực vật hạt kín (Angiosperms) đã được công bố. Theo đó, một số bộ mới được ghi nhận: Boraginales, Dilleniales, Icacinales, Metteniusiales và Vahliales. Như vậy, theo bản cập nhật này, số lượng bộ và họ trong hệ thống mới lần lượt là 64 và 416. APG đã đề xuất thêm vào hai nhánh (clade) lớn: superrosids và superasterids, mỗi nhánh này bao gồm các bộ mới được bổ sung, những bộ này chủ yếu thuộc các nhánh rosids (nhánh hoa hồng) và asterid (nhánh hoa cúc). Những họ có thể tạo nên những bộ mà chỉ bao gồm một họ (monofamilial) là Dasypogonaceae và Sabiaceae, thì phiên bản này hai bộ đơn họ là Arecales và Proteales. Hai họ thực vật ký sinh ở phiên bản cập nhật trước (APG III) có vị trí không chắc chắn thì nay được đặt như sau: Chenopodiaceae trong bộ Saxifragales và Apodanthaceae trong bộ Cucurbitales. Mặc dù có bằng chứng cho thấy một số họ được ghi nhận trong APG III không phải là đơn ngành, nhưng APG IV vẫn để vị trí bộ Dioscoreales và Santalales như APG III, APG IV cũng để lại một số chi trong bộ Lamiales không xác định vị trí cụ thể (ví dụ chi Peltanthera). Những thay đổi trong một nhóm họ và sự nghi nhận đều xuất phát từ những kết quả mới nhất đã công bố từ APG III, ngoại trừ một số thay đổi nhỏ là do những vấn đề về danh pháp, trong đó bao gồm thay tên họ Asphodelaceae từ tên Xanthorrhoeaceae (của bộ Asparagales), và lấy tên Francoaceae thay cho Melianthaceae (Geraniales); tuy nhiên, trong họ Francoaceae APG IV cũng bao gồm Bersamaceae, Ledocarpaceae, Rhynchothecaceae và Vivianiaceae. Những thay đổi khác đối với các họ là không nhiều và chủ yếu tập trung vào một số họ của nhánh lamiids, đặc biệt là họ cũ Icacinaceae mà từ lâu đã có vấn đề với một số chi chuyển sang một họ đơn ngành là Metteniusaceae, nhưng những thay đổi nhỏ trong một nhóm bao gồm họ Aristolochiaceae (hiện bao gồm cả Lactoridaceae và Hydnoraceae; của bộ Aristolochiales), Maundiaceae (đã được chuyển từ Juncaginaceae; Alismatales), Restionaceae (trong APG IV lại bao gồm Anarthriaceae và Centrolepidaceae; Poales), Buxaceae (APG IV gồm Haptanthaceae; Buxales), Paraceae (tách ra từ Euphorbiaceae; Malpighiales), sự ghi nhận họ Petenaeaceae (Huerteales), Kewaceae, Limeaceae, Macarthuriaceae và họ Microteaceae (đều của bộ Caryophyllales), Petiveriaceae tách ra từ Phytolaccaceae (Caryophyllales), những thay đổi trong thành phần chung của họ Ixonanthaceae và Irvingiaceae (với sự hoán đổi chi Allantospermum từ họ này sang họ khác trong bộ Malpighiales), chuyển họ Pakaraimaea (trước đây là họ Dipterocarpaceae) sang họ Cistaceae (Malvales), chuyển chi Borthwickia, Forchhammeria, Stixis and Tirania (tất cả những chi này trước đều thuộc họ Capparaceae) sang họ Resedaceae (Brassicales), họ Nyssaceae được tách từ họ Cornaceae (Cornales), những thay đổi trong thành phần của họ Gesneriaceae (chi Sanango được chuyển từ họ Loganiaceae) và họ Orobanchaceae (APG IV gồm họ Phrymaceae (tất cả những họ này đều thuộc bộ Lamiales).

Nguồn tin: http://onlinelibrary.wiley.com/enhanced/doi/10.1111/boj.12385/

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2016

Người sáng lập BIODIVN trò truyện với phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam

Pham-van-the

CHUYỆN ĐÊM 17/03/2016
Dẫn 1:
Quý vị và các bạn thân mến!
Sinh ra và lớn lên ở vùng quê miền núi ngay sát rừng (nay là thôn Trại Gạo, phường Bến Tắm, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) anh Phạm Văn Thế đã có tình yêu đặc biệt với cây rừng. Mơ ước được chăm sóc, bảo vệ cây rừng cứ tự nhiên lớn dần lên trong anh. Khi phải chứng kiến cánh rừng quê hương ngày càng bị thu hẹp, anh Phạm Văn Thế đã theo đuổi công tác bảo tồn cây rừng, với mơ ước có thể nhân rộng tình yêu rừng của mình, để cộng đồng có ý thức bảo vệ thiên nhiên, môi trường hơn nữa. Phóng viên mục Chuyện đêm đã có cuộc trò chuyện với anh Phạm Văn Thế - Nghiên cứu viên, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam:


          PV: Xin chào anh Phạm Văn Thế, cảm ơn anh nhận lời tham gia mục chuyện đêm hôm nay!

          Anh Thế: Vâng, cảm ơn chị và chương trình đã quan tâm đến vấn đề bảo tồn và công việc của tôi!

          1 PV: Trước hết, anh có thể cho biết xuất phát từ đâu anh có niềm đam mê với việc bảo tồn và phát triển các loài thực vật?

          Anh Thế:Bản thân tôi được sinh ra và lớn lên tại một khu vực miền núi, có rất nhiều rừng, ngay từ nhỏ tôi đã được tiếp xúc với rừng, nên tôi có một tình cảm đặc biệt với chúng. Đối với tôi rừng vừa như là một người bạn đặc biệt và rất thân thiện. Ngay từ nhỏ tôi đã phải chứng kiến rừng bị mất đi, nên tôi có ước mơ lớn lên sẽ làm một công việc gì đó liên quan đến rừng. Vì thế khi tốt nghiệp phổ thông trung học xong, tôi quyết định thi vào Đại học Lâm nghiệp, khoa Quản lý Bảo vệ Tài nguyên rừng và Môi trường. Sau khi tốt nghiệp Đại học tôi đã xin vào làm việc tại Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Khi ấy tôi xin vào làm Dự án Bảo tồn thực vật Việt Nam do Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hiệp làm chủ nhiệm. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hiệp cũng là thầy giáo hướng dẫn luận văn tốt nghiệp của tôi. Tôi thấy thích công việc này và theo đuổi từ đó cho đến nay.

2 PV: Với tình yêu thiên nhiên, yêu cây rừng mãnh liệt, anh đã quyết tâm theo đuổi công tác bảo tồn và làm việc không quản mệt mỏi, khó khăn. Đâu là điều khó khăn nhất khi mới bắt đầu công việc, thưa anh?

Anh Thế: Tôi bắt đầu công việc vào tháng 7 năm 2003, tôi xin làm việc ở chỗ thầy giáo hướng dẫn. Tôi đã gặp rất nhiều khó khăn, chủ yếu là về mặt chuyên môn, do mới ra trường nên chưa vững. Khi đi thực địa phải thu mẫu vật như thế nào, xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm ra sao… đó là những việc rất mới với tôi, chưa từng học ở trường. Vì khi học, tôi học ngành Quản lý và bảo vệ rừng, thì đúng chuyên ngành sẽ làm kiểm lâm. Còn công việc của tôi lúc đó là về bảo tồn các loài thực vật. Nhưng mà với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy Nguyễn Tiến Hiệp và các đồng nghiệp trong dự án thì những khó khăn này đã dần dần được khắc phục. Ví dụ tôi có thể kể một vài khó khăn là trong phòng thí nghiệm sắp xếp mẫu vật theo họ. Khi chuyên gia đến làm việc thì họ thấy 1 cây rất lạ được sắp xếp vào họ lan. Thì thầy giáo cũng cười và nói đây là do sinh viên sắp xếp nhầm thôi. Rất nhiều người mới bắt đầu vào nghề gặp phải điều đó

3 PV: Đó là những khó khăn tại nơi anh làm việc và được thầy giáo - Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hiệp (Giám đốc Trung tâm Bảo tồn thực vật Việt Nam, người phát hiện ra rất nhiều loài lan hài ở nước ta) - giúp đỡ rất tận tình. Vậy những chuyến lặn lội trong rừng sâu, núi thẳm thì có kỉ niệm nào đáng nhớ với anh?

Anh Thế: Khi tôi mới bắt đầu vào nghề thì cũng gặp nhiều khó khăn khi đi điều tra thực địa. Năm 2004, tôi đi Sơn Kim, thì vô tình bị trượt ngã vào bụi Han Voi. Lông của lá Han Voi dính vào người rất ngứa, nhất là những lúc tiếp xúc với nước rất đau rát, có lúc bị sốt. Rồi trong 1 lần đi điều tra ở chợ Đồn Bắc Cạn, tôi bị trượt chân, nắm vào được vách đá. Nhưng vỉa đá rất sắn, nên bị rách tay. Tôi có lấy lá cây mắm tôm để bịt vào vết thương. Đây là cây mà địa phương tôi hay sử dụng, nên cũng rất tốt, có thể sát trùng được. Có một vài lần tôi còn gặp rắn, nhưng lớn lên và sinh sống gần rừng, nên tôi cũng không sợ. Thường thì rắn thấy mình là nó chạy, nhưng nếu mình làm gì khiến nó sợ thì nó sẽ tấn công lại.

4 PV: Như vậy là làm việc không đúng chuyên ngành học đã là một khó khăn, rồi phải đi thực địa, cũng gặp thêm không ít nguy hiểm. Vậy làm thế nào để theo đuổi được công tác bảo tồn thực vật như anh?

Anh Thế: Thì thực ra, từ khi tôi ra trường thì kiến thức của tôi cũng còn kém. Với sự hướng dẫn của thầy và tham gia các dự án thì mình được học dần dần. Ngoài ra mình có thể tự học, tự tìm tỏi bằng cách là trong lúc rảnh rỗi, tôi cũng đem các mẫu vật ra để tự so sánh. Hoặc đọc sách, tài liệu về bảo tồn. Tôi thấy là để theo đuổi được cần có sự đam mê và mình phải chịu khó tìm tòi và học hỏi.


Dẫn 2:
Thưa quý vị và các bạn!
          Cùng với sự đam mê, tìm tòi và học hỏi, anh Phạm Văn Thế đã phát hiện được thêm nhiều loài thực vật mới, cũng như bảo tồn được nhiều loài cây có nguy cơ bị tuyệt chủng. Tên của anh còn được đặt cho 4 loài và chi thực vật mới phát hiện. Đó là loài Địa Lan Thế ở Thừa Thiên Huế, chi Lan Thế, loài Lan Thế Việt ở Hoà Bình và loài Tỏi Rừng Thế ở Quảng Bình. Mời quý vị và các bạn cùng tiếp tục trò chuyện với anh Phạm Văn Thế - Nghiên cứu viên, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam:

5 PV: Được biết anh cùng các đồng nghiệp đã bảo tồn được rất nhiều loại thực vật có nguy cơ tuyệt chủng caoVí dụ như ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Bát Đại Sơn (Hà Giang), thì đã bảo tồn thành công loài thực vật nào, thưa anh?

Anh Thế: Có thể nói ở khu bảo tồn thiên nhiên Bát Đại Sơn, Quản Bạ Hà Giang thì chúng tôi bảo tồn thành công nhất là loài Bách Vàng. Bách Vàng là một loài mới được phát hiện vào năm 2002, bị đe doạ tuyệt chủng cao. Hiện nay đã có hơn 100 cá thể được trồng ra ngoài tự nhiên. Chúng tôi đã nhân giống thành công, rồi đem trông lại ở tự nhiên. Cây cao 3-5 m. Trung tâm Bảo tồn thực vật Việt Nam đang tiếp tục theo dõi và thấy chúng phát triển rất tốt, không có cây nào bị người dân chặt hay lấy đi.

6 PV: Có thể thấy công tác bảo tồn còn đòi hỏi cả sự chia sẻ, thông cảm của cả cộng đồng nữa, thưa anh?

Anh Thế: Vâng, trước hết là Ban Quản lý Khu bảo tồn ở đấy đã làm việc rất tốt. Sau này chúng tôi phát triển mô hình bảo tồn với sự tham gia của cộng đồng. Chúng tôi trồng cây tại vườn của người dân, mời họ tham gia vào dự án. Tức là dự án này có 2 phần, để cho người dân trực tiếp bảo vệ và Ban Quản lý vẫn tiếp tục bảo vệ những cây này.

7 PV: Được biết, anh còn là sáng lập viên và đồng quản trị trang web “Đa dạng Sinh học và Bảo tồn Việt Nam biodivn.com?

Anh Thế: Chúng tôi thành lập trang web đa dạng sinh học Việt Nam biodivn vào năm 2014, với mục đích cung cấp và tuyên truyền thông tin về động thực vật hoang dã ở Việt Nam. Qua đó cũng hy vọng nhận được sự quan tâm của cộng đồng. Chúng tôi cũng kêu gọi cộng tác viên để đóng góp bài vở, ảnh cho các bài viết. Bên cạnh đó tôi luôn có ý thức đem kiến thức về thực vật của Việt Nam đến mọi người nhiều hơn, để hy vọng có thể thay đổi nhận thức của họ, ít nhất là của gia đình, bạn bè tôi. Về lâu dài thì tôi muốn cho cộng đồng nhận được nhiều thông tin hơn về mảng này, để qua đó cộng đồng quan tâm hơn và cùng bảo tồn với các nhà bảo tồn ở Việt Nam.

          8 PV: Vâng, như anh vừa chia sẻ thì hy vọng là niềm đam mê của anh ít nhất là có thể đến được với gia đình và bạn bè. Với con gái của anh thì anh làm như thế nào để truyền cho cháu niềm đam mê, tình yêu với cây rừng, thưa anh?

          Anh Thế:Cuộc sống hàng ngày thì tôi vẫn cho con tôi xem hình ảnh mà tôi chụp được khi đi rừng, hoặc là cho cháu tham gia những chuyến đi rừng nhỏ nhỏ, như về quê tôi. Những kiến thức mà con tôi, bạn bè của cháu được nghe kể về rừng, cây, thú sẽ giúp chúng sau này yêu thiên nhiên hơn. Tôi nghĩ là nếu chỉ có nhà bảo tồn hoặc nhà quản lý bảo tồn một cây, một loài nào đó thì rất khó. Quan trọng là cần phải có ý thức của cộng đồng. Khi mà họ nhận thức được là động, thực vật cực kỳ quan trọng với cuộc sống, họ sẽ lên tiếng ngăn cản khi ai đó chặt phá rừng. Công cuộc bảo tồn động thực vật của Việt nam cũng như trên thế giới thì tôi nghĩ không chỉ cá nhân làm được, mà cần sự hợp tác rất lớn của cộng đồng.

          PV: Vâng, trân trọng cảm ơn anh đã cùng trò chuyện với Chuyện đêm trong Chương trình Thức cùng sự kiện tối nay./.
Dẫn 3:
          Quý vị và các bạn thân mến!
          Với các thành tích về bảo tồn thực vật hướng tới phát triển bền vững, anh Phạm Văn Thế đã được Trung Ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao tặng giải thưởng Quả Cầu Vàng năm 2015. Nhưng tình yêu với cây rừng khiến anh vẫn đau đáu một mong ước Việt Nam sẽ có những vườn thực vật có thể vừa là công viên, vừa là nơi bảo tồn, để được nhiều người chăm sóc, bảo vệ và tham quan như Botanic Garden nổi tiếng ở Sing-ga-po./.

Theo: Mai Hạnh, VOV1
Nghe trực tiếp trên VOV1: http://vov1.vov.vn/chuyen-dem/nguoi-say-me-nghien-cuu-va-bao-ton-cac-loai-thuc-vat-1732016-c91-24153.aspx

Link dự phòng: https://soundcloud.com/pham-van-the/03-17-2016-chuyen-dem-anh-pham-van-the-vien-sinh-thai-tnsv

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

"Rừng lặng", và những nguy hại tiềm ẩn từ thịt động vật hoang dã

Rừng bị tận diệt đến mức tĩnh lặng, không còn tiếng thú, tiếng chim là thực tế đang xảy ra khá nhiều tại Việt Nam.


Meo-rung-1

Các nhà bảo tồn quốc tế nhắc đến khái niệm 'rừng lặng' (silent forest), tức là những khu rừng bị săn bắn, tận diệt đến mức tĩnh lặng, không còn tiếng thú, ít tiếng chim. Hiện tượng này dường như đã xảy ra ở rất nhiều cánh rừng tại Việt Nam, khiến thịt thú rừng trở nên khan hiếm và đắt đỏ hơn trước. Cánh thợ săn đã tận diệt từ khu rừng này, rồi càn quyết qua khu rừng khác để đáp ứng nhu cầu thị trường. Rừng lặng - chính là tương lai không xa của các cánh rừng Việt Nam nếu không có ngay những hành động quyết liệt từ phía cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và người tiêu dùng. 

Dù các cơ quan quản lý đã ban hành hàng loạt quy định về cấm buôn bán, tiêu thụ động vật hoang dã, nhưng thực khách vẫn tìm thấy những quán đặc sản thịt thú rừng khá dễ dàng ở bất cứ địa phương nào trên cả nước. 

Việt Nam vẫn được xem là một điểm nóng, là "trung tâm trung chuyển" động vật hoang dã phục vụ nhu cầu trong nước lẫn xuất lậu sang Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và các thị trường khác

Nghiên cứu của ba tác giả Milica Sandalj, Anna Treydte và Stefan Ziegler thực hiện năm 2015 với sự hỗ trợ của WWF-Việt Nam cho thấy, ước tính mỗi năm có khoảng 3.500 đến 4.000 tấn thịt rừng đi qua thị trường Việt Nam. Một nửa số này được tiêu thụ trong nước với 80% dưới dạng "đặc sản thịt rừng".

Theo nghiên cứu này, 85% trong tổng số 329 người được hỏi ở Huế từng ăn thịt rừng ít nhất một lần trong đời; 68% người có sử dụng thịt rừng trong vòng 12 tháng kể từ ngày được hỏi. Trong số người không ăn thịt rừng thì có đến 55% là do "không có cơ hội", 15% do "quá đắt" và 14% do "không thích"; chỉ 7% không ăn thịt rừng vì "không rõ nguồn gốc". 

Meo-rung-2
Mèo rừng bị săn bắn buôn bán. Ảnh Phạm Văn Thế

Kết quả khảo sát cũng chỉ ra rằng nhóm người có thu nhập và trình độ học vấn cao xu hướng ăn thịt rừng nhiều thường xuyên hơn, một phần do họ có đủ khả năng tài chính, một phần để chứng tỏ đẳng cấp, phần khác do niềm tin vào tác dụng bồi bổ và công hiệu tăng cường sức khoẻ của thịt rừng.

Phần lớn thịt thú rừng tiêu thụ tại Việt Nam có nguồn từ loài động vật bản địa bị săn, bắn, bẫy từ rừng, trong đó có cả rừng thuộc khu bảo tồn, vườn quốc gia, nơi hành vi săn, bắt động vật hoang dã bị cấm và kiểm soát nghiêm ngặt hơn các nơi khác. Một phần khác được nhập lậu từ các nước lân cận. Trên thị trường cũng có các loại thịt thú rừng được nuôi trong các trang trại. Tuy nhiên, thực khách thường không mặn mà với các loại thịt không có tính “hoang dã” như vậy.

Để đáp ứng nhu cầu thịt rừng lớn đến như vậy thì cánh thợ săn phải săn bắn đến cạn kiệt thú. Có những “tụ điểm” thu mua thú rừng và khu nhà hàng đặc sản thịt rừng vốn hoạt động rầm rộ vài năm trước, nay phải đóng cửa hoặc tìm nguồn thịt rừng từ nhiều nguồn khác nhau do cạn kiệt nguồn thịt rừng tại địa phương.

Khi-moc
Khỉ mốc hoang dã bị bắt nuôi nhốt. Ảnh Phạm Văn Thế

Điều đó dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng của một số loài, trong đó có những loài nguy cấp như bò tót, voọc … Ngoài ra, sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng cá thể trong một hoặc một số loài lại có thể dẫn đến nguy cơ mất cân bằng trong tự nhiên. Một số loài có hại có thể sẽ phát triển rất mạnh do không có thiên địch. Một số loài khác, đặc biệt là thú ăn thịt, lại đứng trước nguy cơ chết đói do không kiếm được thức ăn.

Quy trình kiểm dịch thịt động vật ở Việt Nam

Không chỉ Việt Nam, mà nhiều nước kém phát triển khác ở châu Phi, Nam Á, cũng ăn thịt thú rừng. Thậm chí, ngay cả quốc gia có nền kinh tế, giáo dục, y tế phát triển như Mỹ, Canada, châu Âu, Nhật Bản... cũng tiêu thụ một số lượng lớn thịt rừng. Tuy nhiên có sự khác biệt lớn trong cách săn bắn và tiêu thụ thịt rừng ở châu Âu so với Việt Nam, bao gồm cả mục đích săn bắn, các loài được phép săn bắn và quan trọng hơn là quy trình kiểm dịch nghiêm ngặt, hạn chế tối đa khả năng lây bệnh cho người và lan ra cộng đồng. 

Thịt rừng ở Việt Nam thường được dân buôn thu gom từ nhiều nguồn. Người ta sử dụng các chất hoá học để chống thối rữa, đông lạnh rồi sau đó mới chuyển đến các nơi tiêu thụ. Nó không còn là đặc sản nữa mà là một loại thực phẩm lạ chưa qua kiểm dịch. Người ăn chắc chắn sẽ không tránh khỏi các loại chất độc hoá học đã ngấm vào từng miếng thịt được ướp đủ thứ gia vị để giấu đi mùi thật.

Nguy hiểm hơn, dù vẫn còn có tranh cãi trong giới khoa học, chúng ta không thể phớt lờ các bằng chứng cho thấy mối liên quan giữa việc ăn thịt thú rừng, nhất là ăn theo kiểu sống-tái-nội tạng, với nguy cơ nhiễm các loại bệnh chưa từng biết đến, một số bệnh lại có khả năng lây lan rất cao, dẫn đến đại dịch khu vực hoặc thậm chí toàn cầu. Ebola, SARS, H5N1 là ví dụ. 

Vì vậy, việc sử dụng thịt rừng một cách bừa bãi không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người trực tiếp tiêu thụ mà còn có nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ cộng đồng.

Cay-van-moc
Cây vằn mốc bị bắt từ rừng và nhốt chờ khách mua.  Ảnh Phạm Văn Thế

Từ thực trạng trên, Việt Nam cần tăng cường thực thi pháp luật để hạn chế, tiến đến kiểm soát được tình trạng săn bắn, vận chuyển, mua bán, tiêu thụ thịt và các sản phẩm từ động vật hoang dã, đặc biệt là các loài nguy cấp, quý hiếm là yêu cầu đã được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần.

Mọi người đừng góp phần biến rừng Việt Nam thành 'rừng lặng', hay để nó là nơi phục hồi sự sống. Nếu bạn là người có thói quen sử dụng động vật hoang dã, và nếu bạn chưa sẵn sàng để nghĩ đến những lợi ích thiên nhiên, thì ít nhất bạn hãy nghĩ đến sức khỏe của chính bạn và những người xung quanh.

Trần Lê Trà
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (WWF)


Link: http://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/trong-nuoc/rung-viet-nam-truoc-nguy-co-khong-con-tieng-thu-it-tieng-chim-3367707.html

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Loài dơi mới thuộc giống Dơi mũi ba lá Aselliscus dongbacana ở vùng Đông Bắc

Các nhà nghiên cứu của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn lâm và Công nghệ Việt Nam cùng các cộng sự đến từ Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Hungary, Viện Nghiên cứu quốc gia về các bệnh truyền nhiễm (Nhật Bản), Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQG Hà Nội và Bảo tàng Quốc gia về Lịch sử tự nhiên (Cộng hoà Pháp), đã phát hiện và mô tả một loài dơi mới thuộc giống Dơi mũi ba lá, Aselliscus, họ Hipposideridae.
Aselliscus dongbacana
A - A. stoliczkanus complex (IEBR-T5024, ♂); B - A. dongbacana sp.n. (holotype IEBR-VN11-0143, ♂)

Trước nghiên cứu này, giống Aselliscus được cho là chỉ có hai loài: A. tricuspidatus chỉ có ở các quần đảo thuộc Thái Bình Dương và A. stoliczkanus phân bố rộng trên đất liền của Đông Nam Á và Nam Trung Quốc. Tuy nhiên, kết quả so sánh về hình thái và trình tự gene những mẫu thu được thuộc giống Aselliscus tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương cho thấy loài A. stoliczkanus thực chất là tập hợp gồm nhiều loài có hình thái rất giống nhau (nên gọi là A. stoliczkanus complex). Trong đó, những mẫu vật thu được tại những khu vực có núi đá vôi ở vùng Đông Bắc Việt Nam thuộc về một loài mới.

Loài dơi mới có tên khoa học là Aselliscus dongbacana Tu, Csorba, Gorfol, Arai, Son, Thanh & Hassanin, 2015 và tên tiếng Việt là Dơi mũi ba lá Đông Bắc, được đặt dựa trên vùng phân bố hiện biết của loài mới.
Các mẫu chuẩn (holotype và paratypes) của loài A. dongbacana được thu tại Động Nà Phòng, Vườn Quốc Gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Ngoài ra, các mẫu thuộc về loài dơi mới cũng được thu tại các Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (Bắc Kạn), Khau Ca (Hà Giang), Hữu Liên (Lạng Sơn) và Phia Oắc-Phia Đén (Cao Bằng).
Tình trạng bảo tồn: Loài Dơi mũi ba lá Đông Bắc có phân bố giới hạn trong vùng núi đá vôi ở Đông Bắc Việt Nam. Nơi đây cũng là nơi sống lý tưởng cho nhiều loài sinh vật của Việt Nam. Tuy nhiên, hầu hết các vùng núi đá vôi này đã và đang bị suy thoái, chủ yếu do các hoạt động gây hại của con người. Hệ quả là không chỉ loài Dơi mũi ba lá Đông Bắc mà hầu hết các loài động thực vật nơi đây đang ngày càng bị đe doạ tuyệt chủng. Chính vì vậy, cần phải tiến hành thêm những nghiên cứu tại những khu vực này để bổ sung những dẫn liệu khoa học giúp cho việc quy hoạch và bảo tồn các giá trị đa dạng sinh học trong vùng có hiệu quả hơn.
Kết quả nghiên cứu trên đã được đăng tải trên Tạp chí chuyên ngành ACTA CHIROPTEROLOGICA: Vuong Tan Tu, Gábor Csorba, Tamás Görföl, Satoru Arai, Nguyen Truong Son, Hoang Trung Thanh and Alexandre Hassanin. 2015. Description of A New Species of the Genus Aselliscus (Chiroptera, Hipposideridae) from Vietnam. Acta Chiropterologica 17 (2): 233-254.
Nguồn tin: TS. Vương Tân Tú - Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Xử lý tin: Thanh Hà

Theo http://vast.ac.vn/

Loài Thực vật mới tại Vũ Quang: Homalium glandulosum

MÔ TẢ LOÀI THỰC VẬT MỚI
TẠI VƯỜN QUỐC GIA VŨ QUANG
Homalium-glandulosum_1_Credit Viet Hung

Tên loài: Homalium glandulosum Tagane & V. H. Nguyen
Họ: Flacourtiaceae/Salicaceae
Địa điểm phát hiện: Tiểu khu 180B. Vườn Quốc gia Vũ Quang, Hà Tĩnh
Tên tạp chí đã đăng: Phytokey: số 58: Trang 97-104. Date: 12/1/2016


Mô tả

Cây gỗ, cao đến 9 m. Vỏ màu nâu xám. Cành non có lông nhưng sớm rụng, có rất nhiều bì khổng, các bì khổng có kích thước nhỏ, cỡ 0,3–0,9 × 0,1–0,25 mm, màu trắng. Cành non khi khô màu đen, khi già màu nâu xám. 

Homalium-glandulosum_2_Credit Viet Hung

Lá đơn mọc cách; cuống lá dài 2,5–5 mm; lá khi non có lông, khi khô màu đen; phiến lá hình trứng hay hình thuôn dài, kích thước (2,4–)3,5–9,8 × (1,0–)1,2–3,1 cm, cả 2 mặt có lông, mũi nhọn, gốc cuống lá dạng nêm, có 2-5 cặp tuyến ở cuống lá, mép phiến lá có răng cưa, gân chỉnh nổi  rõ ở cả hai mặt phiến lá, có 6-7 cặp gân. Lá kèm hình tam giác hep, cỡ 5 x 1 mm, mỏng như giấy, có 4-6 tuyến mỗi mép, phía trên tuyến thường nhọn, có một tuyến phía trên, màu đen khi khô, có nhiều lông, nhưng sớm bị rụng đi. 


Homalium-glandulosum_3_Credit Viet Hung

Cụm hoa mọc ở nách lá, phân nhánh, mỗi nhánh mang 7-20 hoa, dài 4-9 cm, lá bắc tiêu biến. Cuống hoa dài 2,5-3,5 cm, nhiều lông. Lá bắc con hình trứng hẹp, cỡ  2,5–3 mm, mép có 3–5 cặp tuyến mỗi bên, nhẵn trừ phần gần gốc, sớm rụng. Hoa thơm, cỡ 6–8 x 2,5 mm,  Ống đài cỡ 2,5 mm, nhiều lông; thùy đài 8, cỡ 3 x 0,5 mm; dạng mác hẹp. Thùy tràng 8, dạng mác ngược, cỡ 3,5 × 1,1 mm, mỏng, viền có lông mi; có 8 tuyến đĩa, cỡ 0,3 mm, cuống tuyến dài 0,15 mm. Nhị 8; chỉ nhị dài 5,5 mm; bao phấn dài 0,4 mm. Bầu giữa, nhụy 3 hoặc 4, vòi nhụy dạng chỉ, dài 5 mm, dính với nhau ở 1/3 của vòi nhụy, có lông ở phía dưới ½ vòi nhụy. 3 hoặc 4 giá noãn, mỗi giá noãn mang 3-4 noãn. Quả chưa thấy.

Homalium-glandulosum_4_Credit Viet Hung





















All photos by Viet Hung, Vu Quang National Park, Ha Tinh province

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2015

Các dải san hô bị phá huỷ nghiêm trọng do Trung Quốc xây đảo nhân tạo

Các nhà khoa học quốc tế lên tiếng về tình trạng san hô bị phá hủy khi Trung Quốc tiến hành bồi đắp, xây dựng cấp tốc tại những đảo san hô ở khu vực quần đảo Trường Sa.
San-Ho-Trung-Quoc-pha-huy

Quan ngại của giới chuyên gia quốc tế
Quan ngại ngày càng tăng trong giới khoa học về tình trạng hủy hoại một hệ san hô quan trọng trong khu vực Đông Nam Á ở khu vực nơi mà Trung Quốc hiện đang nhanh chóng cho tiến hành cải tạo xây dựng những đảo nhân tạo.
Những nhà khoa học sau khi xem xét các ảnh chụp từ vệ tinh ở khu vực quần đảo Trường Sa được công bố gần đây cho hãng thông tấn Reuters biết hoạt động đổ cát xây dựng tại bảy bãi cạn ở Trường Sa mà Trung Quốc thực hiện gần đây làm hư hại hệ san hô quanh những địa điểm tiền đồn như thế. Và khu vực bị ảnh hưởng có thể rộng hơn người ta tưởng lúc ban đầu.
Nhà sinh vật học biển nổi tiếng thuộc Đại học Miami Hoa Kỳ, ông John McManus, cùng hợp tác với các nhà khoa học Philippines trong công tác nghiên cứu Biển Đông, trong tháng sáu này phát biểu với các nhà khoa học khác rằng hoạt động cải tạo của Trung Quốc để xây dựng nên những đảo nhân tạo tại các bãi cạn đạt kỷ lục trong lịch sử con người về tốc độ nhanh nhất làm mất vĩnh viễn một vùng san hô.
"Cơ quan Liên bang Hoa Kỳ đặc trách Hải dương vả Khí quyển, ông John McManus viết rõ rằng hoạt động nạo vét cát để đắp đảo và thông tuyến cho tàu thuyền vào những đảo mới xây đã phủy hoại một vùng rộng lớn các rạn san hô quanh nơi xây dựng"
Trên diễn đàn mạng điều hành bởi Cơ quan Liên bang Hoa Kỳ đặc trách Hải dương vả Khí quyển, ông John McManus viết rõ rằng hoạt động nạo vét cát để đắp đảo và thông tuyến cho tàu thuyền vào những đảo mới xây đã phủy hoại một vùng rộng lớn các rạn san hô quanh nơi xây dựng.
Theo đánh giá của giới khoa học thì các rạn san hô tại khu vực Trường Sa tương đối nhỏ so với các hệ san hô lớn khác trên Trái Đất; tuy nhiên hệ san hô ở Trường Sa được đánh giá có đa dạng sinh học và có thể giúp khôi phục cho những rạn san hô bờ biển đang bị đe dọa với những ấu trùng san hô và cá của chúng đưa đến.
Các rạn san hô tại khu vực Trường Sa còn là nơi cư ngụ của một số sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng gồm loài sò trai khổng lồ, cá nược cũng như một số chủng loại rùa biển.
Một chuyên gia về khoa học biển và pháp lý thuộc Trường Ngiên cứu Quốc tế S Rajaratman ở Singapore, bà Youna Lyons, cho biết những rạn san hô mà bao nhiêu thế kỷ qua không ai đụng đến thì nay không còn nữa. Vào tuần qua bà này nói với hãng thông tấn Reuters rằng bà thấy có bằng chứng những hoạt động nạo vét như dạng Trung Quốc đang thực hiện diễn ra ngoài những khu cải tạo là bảy bãi đá được công khai.
Bà này cũng có đánh giá là qui mô và bản chất hoạt động nạo vét những vùng san hô tại khu vực Biển Đông như gần đây là chưa hề có trong lịch sử con người.
Philippines vào ngày 22 tháng 6 lại công khai lên tiếng cáo buộc Trung Quốc gây hại cho hệ sinh thái biển khi tiến hành hoạt động cải tạo xây dựng đảo nhân tạo ở khu vực Trường Sa. Manila nêu cụ thể con số thiệt hại về kinh tế đối với các quốc gia quanh Biển Đông phải gánh chịu hằng năm là chừng 280 triệu đô la.
Đánh giá của chuyên gia Việt Nam
Nguyên viện trưởng Viện Hải Dương học Nha Trang, giáo sư Nguyễn Tác An, cho biết đánh giá về hệ sinh thái san hô tại Trường Sa như sau:
“ Điều này Việt Nam nghiên cứu tương đối kỹ nhất là trong chương trình hợp tác quốc tế. Mình khẳng định quần đảo Trường Sa là quần đảo san hô. Gốc của nó là những ám tiêu san hô; do đó nền tảng hình thành các đảo là những ám tiêu san hô.
Như anh biết quần đảo Trường Sa bây giờ trở thành nơi có vị trí địa chiến lược, địa chính trị, địa kinh tế; nhất là nó án ngữ trên tuyến đường giao thông quốc tế. Do đó vấn đề san hô cực kỳ quan trọng. Hiện nay theo luật biển nghiêm cấm các quốc gia cải tạo, khai thác, thay đổi cấu trúc của các ám tiêu san hô. Một số quốc gia hiện nay làm chuyện đó nên vấn đề trở nên quan trọng.

Hình ảnh hoạt động xây đảo của Trung Quốc được may bay Mỹ nghi lại
Hình ảnh hoạt động xây đảo của Trung Quốc được may bay Mỹ nghi lại

Ngoài ra 50% lượng cá tại Biển Đông liên quan đến các ám tiên san hô với diện tích trên 200 ngàn cây số vuông, nên nó rất quan trọng.
Ngoài ra những ám tiên san hô hình thành nên những chỏm đảo có độ cao khoảng 1-2 mét khỏi mặt nước trở thành mặt bằng cho ngư dân sinh sống, cư trú và cho những hoạt động kinh tế
"Các rạn san hô tại khu vực Trường Sa còn là nơi cư ngụ của một số sinh vật biển đang có nguy cơ tuyệt chủng gồm loài sò trai khổng lồ, cá nược cũng như một số chủng loại rùa biển"
Quan trọng nhất là đa dạng sinh học của san hô ở vùng Biển Đông. Nó ở vùng nhiệt đới nên có giá trị trong việc điều tiết thời tiết. 2.15
Một chuyên gia về thực vật biển của Việt Nam, tiến sĩ Nguyễn Hữu Đại, cũng cho biết:
“Trước đây có những đề tài cấp Nhà nước nghiên cứu về đa dạng sinh học: tất cả các ngành về sinh vật từ san hô cho đến cá, cho đến cỏ biển… thì người ta cũng đánh giá đó là vùng biển rất đa dạng, giàu có; đa dạng về sinh học.
“ Chắc chắn vùng Trường Sa của Việt Nam là vùng đa dạng sinh học về san hô thuộc loại lớn của thế giới rồi. Cả Hoàng Sa và Trường Sa đa dạng sinh học đều lớn, trong đó có nhiều loài thủy sản và nếu phá hoại chúng thì ảnh hưởng đến toàn bộ môi sih cùa vùng đó.”
“ Hiện nay nguyên nhân suy giảm thì đâu cũng diễn ra hết; nhưng vùng hoạt động của con người nhiều quá thì nó ảnh hưởng. Từ đánh bắt cho đến những hoạt động bồi đắp …đều ảnh hưởng ghê lắm”
Phản ứng của Trung Quốc
Trung Quốc khi được hỏi về những đánh giá gây hại môi trường mà giới khoa học nêu ra khi Bắc Kinh cho tiến hành cải tạo, bồi đắp xây dựng đảo nhân tạo, thì Cục Hải Dương Nhà nước Trung Quốc cho rằng tác động đối với sinh thái rạn san hô chỉ khu biệt, tạm thời, có thể kiểm soát được và có thể phục hồi. Ngoài ra cơ quan này không trả lời thêm gì khác khi bị chất vấn.
Một quan chức thuộc Vụ Biên giới- Hải dương của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng không nước nào quan tâm đến việc bảo vệ sinh thái của đảo, rạn san hô và khu vực biển liên quan bằng Trung Quốc. Người này còn nói rằng Trung Quốc tôn trọng những cam kết của Công ước Liên hiệp quốc về Đa dạng Sinh học và Buôn bán Các loài Nguy cấp.
Tuyên bố lâu nay của Trung Quốc hoàn toàn ngược lại với những quan ngại và cảnh báo của giới khoa học.
Về việc có thể giúp phục hồi những khu vực san hô bị phá hủy, giáo sư Nguyễn Tác An khẳng định:
“ San hô ở Trường Sa hình thành cả trăm triệu năm thì làm sao có thể khôi phục được. Thứ hai nữa sự phát triển của san hô rất chậm. Thứ ba với động lực ở trong biển khi phá khu vực này sẽ gây ảnh hưởng đến một khu vực lớn chứ không phải trong lĩnh vực nhỏ.
Các nhà khoa học quốc tế đã nói nếu gây hại đến các ám tiêu san hô thì không thể nào phục hồi được và dẫn đến các hậu quả về sinh thái học mà không cách gì phục hồi lại được.
Tiến sĩ thực vật biển Nguyễn Hữu Đại có trình  bày:
“Tôi cho rằng người ta nói phần nào cũng đúng vì khu nào người ta nạo vét thì khu đó nước đục và san hô bị ảnh hưởng; còn nếu ở xa quá thì khó ảnh hưởng đến. Nhưng để phục hồi không phải dễ vì san hô hằng nghìn năm. Khi bị vẫn đục thì những polyp của nó, nơi để sinh sống bị biến đổi, san hô chết thì để phục hồi biết bao lâu, trăm năm, ngàn năm. Đâu có dễ, làm cho vẩn đục lên rồi thì phục hồi rất khó. Nhưng tôi cho rằng chỉ khu vực chung quanh đó thôi chứ khó có thể ảnh hưởng đến vùng biển rộng lớn như vậy. Những khu vực nào bị tác động bởi con người thì bị tác động thôi, chứ những khu vực xa thì khó bị ảnh hưởng bởi những việc đó.”
“ Chắc chắn những khu vực nào mà con người đến tác động thì san hô sẽ bị thoái hóa nhanh và phục hồi rất lâu, người ta nói phục hồi nhanh là không đúng, việc phục hồi ( san hô) rất chậm. Vì để phát triển thành một rạn phải rất lâu dài bởi san hô phát triển rất chậm.
“ Để phục hồi thì người ta đem cả một cành san hô di giống đi trồng chỗ khác, ít khi đem ấu trùng vì ấu trùng nở ra hằng loạt rất khó. Di giống là lấy những cành san hô rồi đem đi trồng ở những nơi khác; chứ đem ấu trùng thì khó lắm.”
"Nhưng san hô ở xa ngoài biển nên người ta chưa thấy tác hại của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học cho biết lượng cá ngoài biển giảm đến 85% rồi mà nguyên nhân là các ám tiêu san hô, nơi cư trú, dưỡng sinh của cá bị hủy hoại"
Giáo sư Nguyễn Tác An
Hành động cần có
Một nhà sinh vật học biển khác là ông Terry Hughes thuộc Đại học James Cook ở Queensland, người vào năm 2012 có một nghiên cứu chung với các nhà khoa học Trung Quốc ra một nghiên cứu thừa nhận diện tích san hô bị suy giảm đáng kể tại khu vực Trường Sa. Lúc bấy giờ nghiên cứu nêu lý do là vì tình trạng đánh bắt hải sản quá mức cũng như do biến đổi khí hậu gây nên.
Ông này cũng thừa nhận hoạt động cải tạo, bồi đắp xây dựng đảo nhân tạo của Trung Quốc có thể thấy gây ra những hủy hoại ghê gớm; nhưng còn một số rạn san hô vẫn chưa bị động đến, và còn trong tình trạng khá tốt.
Nhà sinh vật học biển John McManus kêu gọi các bên có tuyên bố chủ quyền tại khu vực quần đảo Trường Sa hãy gác lại tranh chấp và  hình thành nên một khu ‘công viên hòa bình’ nhằm bảo vệ những gì còn sót lại.
Giáo sư Nguyễn Tác An cũng cho biết về vấn đề hợp tác để bảo vệ san hô tại khu vực Biển Đông:
“ Hiện nay giới khoa học họ cũng đề nghị thành lập cái gọi là bảo tồn san hô xuyên quốc gia; tức nhiều nước cùng tham gia và bảo vệ san hô như là tài sản không chỉ của vùng Đông Nam Á mà của cả thế giới nữa. Từ năm 92 người ta đã đưa ra đề xuất thành lập Vườn Bảo tồn San hô Xuyên quốc gia. Đó là cách bảo vệ tốt nhất, và yêu cầu các quốc gia phải có thiện chí.
Điều đáng sợ nhất đối với san hô hiện nay là do biến đổi khí hậu, thời tiết nóng lên, dòng chảy thay đổi, lượng thức ăn giảm đi ( san hô là một loài động vật). Đó là bất khả kháng đối với con người; nay lại có thêm tác động của nhân tai thì không kém gì biến đổi khí hậu cả. Nhưng san hô ở xa ngoài biển nên người ta chưa thấy tác hại của nó. Tuy nhiên các nhà khoa học cho biết lượng cá ngoài biển giảm đến 85% rồi mà nguyên nhân là các ám tiêu san hô, nơi cư trú, dưỡng sinh của cá bị hủy hoại”.
Theo giáo sư Nguyễn Tác An để có thể hợp tác thành công cần phải tin tưởng nhau; tuy nhiên trong thực tế vẫn chưa có được điều này. Còn theo nhà sinh vật họ biển John McManus thì nhiều người lại đang nhân danh phát triển để phá hủy môi trường.

Theo: http://www.rfa.org/vietnamese/programs/ScienceAndEnvironment/scien-alarm-ov-cn-islan-build-06302015055751.html